vanban.org

Bản án 244/2022/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

TAND TP. Hải Phòng Tuyên án 01/08/2023 Hôn nhân và gia đình Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Triệu Thị D, cụ thể:

Về quan hệ hôn nhân: Chị Triệu Thị D được ly hôn anh Jo Jin W. Về con chung: Chị Triệu Thị D và anh Jo Jin W không có con chung nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Tranh chấp ly hôn"
  • Tòa quyết gì? Xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Triệu Thị D, cụ thể:
  • Căn cứ chính? Điều 127 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 244/2022/HNGĐ-ST
Ngày 30-11-2022
V/v tranh chấp ly hôn

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Vũ Thị Thu Hà

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Đặng Huy Du

Bà Vũ Thị Minh Nguyệt

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Hà Phương - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Hải Phòng.

Ngày 30 tháng 11 năm 2022 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Hải Phòng xét xử công khai vụ án hôn nhân gia đình sơ thẩm thụ lý số 274/2022/TLST-HNGĐ ngày 04 tháng 11 năm 2022 về việc “Tranh chấp ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 241/2022/QĐXXST-HNGĐ ngày 18 tháng 11 năm 2022 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Triệu Thị D, sinh năm 1994; nơi ĐKHKTT: Xã Phương Linh, huyện Bạch Thông, tỉnh Bắc Kạn; nơi tạm trú: Thôn 8, xã Ngũ Lão, huyện Thủy Nguyên, thành phố Hải Phòng.

- Bị đơn: Anh Jo Jin W, sinh năm 1984; địa chỉ: 19, Damunhwa 1-gil, Danwon-gu, Ansan-si, Gyeonggi-do, Hàn Quốc.

Chị Triệu Thị D và anh Jo Jin W đều vắng mặt và có đề nghị xét xử vắng mặt.

NỘI D VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện và các bản tự khai, nguyên đơn là chị Triệu Thị D trình bày:

Chị Triệu Thị D và anh Jo Jin W kết hôn trên cơ sở tự nguyện, được sự đồng ý của hai bên gia đình và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân huyện Bạch Thông, tỉnh Bắc Kạn vào ngày 29/3/2019. Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống một thời gian ngắn tại Việt Nam, sau đó anh Jo Jin W về lại Hàn Quốc, chị D ở lại Việt Nam. Thời gian đầu hai vợ chồng vẫn thường xuyên liên lạc, anh Jo Jin W hứa làm thủ tục bảo lãnh cho chị D sang Hàn Quốc đoàn tụ. Tuy nhiên trong thời gian chờ đợi, khoảng đầu năm 2020 chị D và anh Jo Jin W nảy sinh mâu thuẫn, mâu thuẫn kéo dài và ngày càng trầm trọng. Hai anh chị không còn tin tưởng và yêu thương nhau. Hiện anh chị cũng không còn liên lạc, không ai quan tâm đến ai về mọi mặt. Nay xét thấy tình cảm vợ chồng không còn, không còn khả năng đoàn tụ, chị D và anh Jo Jin W thống nhất ly hôn. Chị D đề nghị Tòa án thành phố Hải Phòng giải quyết cho chị được ly hôn với anh Jo Jin W.

Về con chung: Chị D và anh Jo Jin W không có con chung, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về tài sản chung: Chị D và anh Jo Jin W không có tài sản chung, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Tại Đơn trình bày, Đơn đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt (đã được hợp pháp hóa lãnh sự), bị đơn là anh Jo Jin W trình bày:

Anh Jo Jin W và chị Triệu Thị D kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân huyện Bạch Thông, tỉnh Bắc Kạn vào ngày 29/3/2019. Quá trình chung sống anh chị phát sinh mâu thuẫn nên không còn tình cảm và không có khả năng đoàn tụ nên cùng thống nhất đề nghị Tòa án nhân dân thành phố Hải Phòng cho anh và chị D được ly hôn.

Về con chung: Anh Jo Jin W và chị D không có con chung, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về tài sản chung: Anh Jo Jin W và chị D không có tài sản chung, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Do chị D, anh Jo Jin W đề nghị Tòa án không tiến hành hòa giải theo quy định tại khoản 4 Điều 207 của Bộ luật Tố tụng dân sự, nên Tòa án không tiến hành hòa giải vụ án được.

Tại phiên tòa, chị D và anh Jo Jin W vắng mặt, chủ tọa phiên tòa đã công bố lý do đương sự vắng mặt, công bố tóm tắt nội D vụ án và tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án thể hiện quan điểm giải quyết vụ án của các đương sự.

NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

- Về thủ tục tố tụng:

Về thẩm quyền: Đây là vụ án về tranh chấp ly hôn. Nguyên đơn là chị Triệu Thị D hiện nay đang sinh sống ở Hải Phòng, bị đơn là anh Jo Jin W, quốc tịch Hàn Quốc, hiện nay đang sinh sống tại Hàn Quốc, theo quy định tại khoản 1 Điều 28; khoản 3 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 37; điểm d khoản 1 Điều 469 của Bộ luật Tố tụng dân sự vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án nhân dân thành phố Hải Phòng.

Về việc vắng mặt của các đương sự: Nguyên đơn chị Triệu Thị D và bị đơn anh Jo Jin W vắng mặt và cùng có yêu cầu Tòa án xét xử vắng mặt. Do vậy, Toà án nhân dân thành phố Hải Phòng tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự theo quy định tại khoản 1 Điều 227, khoản 1 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

- Về nội D:

Về quan hệ hôn nhân: Anh Jo Jin W và chị Triệu Thị D kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân huyện Bạch Thông, tỉnh Bắc Kạn vào ngày 29/3/2019 là quan hệ hôn nhân hợp pháp theo quy định tại Điều 8, Điều 9 của Luật Hôn nhân và gia đình 2014. Cả hai anh chị cùng thừa nhận trong quá trình chung sống, bất đồng trong quan điểm sống, tính cách không hợp nhau. Nhận thấy anh chị hiện đã sống ly thân mỗi người một nơi, tình cảm vợ chồng không còn, không thể đoàn tụ, cùng đề nghị Tòa án giải quyết cho anh chị được ly hôn. Xét thấy việc thuận tình ly hôn của chị D và anh Jo Jin W là tự nguyện không bị ép buộc, căn cứ vào Điều 51, Điều 55, Điều 56, Điều 127 của Luật Hôn nhân và gia đình cần chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị Triệu Thị D và anh Jo Jin W.

Về con chung: Chị Triệu Thị D và anh Jo Jin W không có con chung nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.

Về tài sản chung: Chị Triệu Thị D và anh Jo Jin W không có tài sản chung, không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.

Về án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm: Chị Triệu Thị D phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Về quyền kháng cáo: Chị Triệu Thị D và anh Jo Jin W được quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 28, khoản 3 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 37 khoản 4 Điều 147, khoản 1 Điều 227, khoản 1 Điều 228, Điều 479 của Bộ luật Tố tụng dân sự;

Căn cứ Điều 51, Điều 55, Điều 56, Điều 127 của Luật Hôn nhân và gia đình;

Căn cứ điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội,

Xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Triệu Thị D, cụ thể:

1. Về quan hệ hôn nhân: Chị Triệu Thị D được ly hôn anh Jo Jin W.

2. Về con chung: Chị Triệu Thị D và anh Jo Jin W không có con chung nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.

3. Về tài sản chung: Chị Triệu Thị D và anh Jo Jin W không có tài sản chung, không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.

4. Về án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm: Chị Triệu Thị D phải nộp 300.000 đồng tiền án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm nhưng được trừ vào số tiền 300.000 đồng tạm ứng án phí đã nộp theo Biên lai thu số 0000668 ngày 04 tháng 11 năm 2022 tại Cục Thi hành án dân sự thành phố Hải Phòng. Chị Triệu Thị D đã nộp đủ.

5. Về quyền kháng cáo:

Chị Triệu Thị D được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết hợp lệ.

Anh Jo Jin W được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 01 tháng kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết hợp lệ.

Trường hợp Bản án được thi hành theo Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự./.

Cỡ chữ