- Tranh chấp gì? án hình sự — "Cao Văn L phạm tội tàng trữ trái phép chất ma tuý - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của…"
- Tòa quyết gì? Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Cao Văn L phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ TS TỈNH BẮC NINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 244/2018/HS-ST Ngày 16 tháng 10 năm 2018 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ TS, TỈNH BẮC NINH
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Vũ Văn Giáp
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Nguyễn Văn Lược, cán bộ hưu xã T, thị xã TS, tỉnh Bắc Ninh;
2. Ông Nguyễn Kiên Cường, cán bộ hưu xã T, thị xã TS, tỉnh Bắc Ninh.
Những người tiến hành tố tụng khác:
Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thu Hà, Thư ký Toà án thị xã TS, tỉnh Bắc Ninh.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã TS, tỉnh Bắc Ninh tham gia phiên toà: Bà Ngô Thị Lan Hương, Kiểm sát viên sơ cấp.
Ngày 16 tháng 10 năm 2018, tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã TS, tỉnh Bắc Ninh, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 251/2018/HSST ngày 13 tháng 9 năm 2018, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 244/2018/QĐXXST-HS ngày 05/10/2018 đối với bị cáo: Cao Văn L, sinh năm 1976 tại xã Đông Tiến, huyện Y, huyện Y, tỉnh Bắc Ninh;
Nơi đăng ký HKTT: Thôn Đi, xã Đ, huyện Y, tỉnh Bắc Ninh; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn phổ thông: 6/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Cao Văn Ph, đã chết và bà Cao Thị L, sinh 1933, già yếu; có vợ là Phùng Thị H, sinh năm 1977 và 01 con sinh năm 2004; Tiền án, tiền sự: Không;
Nhân thân: Tháng 9 năm 2011 bị Chủ tịch Uỷ ban nhân dân huyện Y, tỉnh Bắc Ninh Quyết định bắt buộc đưa vào Trung tâm giáo dục-Dạy nghề-Hướng thiện tỉnh Bắc Ninh với thời hạn 02 năm. Tháng 9 năm 2013 L chấp hành xong Quyết định.
Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 01 tháng 6 năm 2018 đến nay, hiện đang tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Bắc Ninh, có mặt tại phiên tòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Bản Cáo trạng số: 184/CTr-VKS ngày 12 tháng 9 năm 2018 của Viện kiểm sát nhân dân thị xã TS, tỉnh Bắc Ninh truy tố Cao Văn L về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự.
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên toà, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 09h30 phút ngày 01/6/2018, Cao Văn L, sinh năm 1976, HKTT: Thôn Đi, xã Đ, huyện Y, tỉnh Bắc Ninh đi xe ôm do một người đàn ông L không quen biết chở từ nhà đến phường Đồng Nguyên, thị xã TS, tỉnh Bắc Ninh với mục đích mua ma tuý để sử dụng cho bản thân. Khi đến khu phố Ng, phường Đ, L xuống xe đi lòng vòng trong khu dân cư. Khi đến trước một ngôi nhà có cổng sắt đóng kín. L lấy 100.000 đồng mang theo đút qua khe cửa vào bên trong ngôi nhà. Từ bên trong có người L không nhìn thấy mặt cầm tiền rồi đưa lại cho L 01 gói nhỏ được bọc ngoài bằng lớp giấy màu vàng, bên trong có chứa chất bột màu trắng. L nhặt đút vào quần phía trước bên trái đang mặc rồi đi bộ quay ra tìm nơi sử dụng, nhưng chưa kịp sử dụng thì bị Công an kiểm tra phát hiện bắt giữ cùng vật chứng. Vật chứng là 01 gói nhỏ nêu trên đã được Công an niêm phong có chữ ký của bị cáo, người chứng kiến.
Cùng ngày 01 tháng 6 năm 2018, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh Bắc Ninh đã ra Quyết định số: 30/PC47 trưng cầu giám định chất bột màu trắng bên trong gói nhỏ thu giữ từ Cao Văn L như đã nêu trên. Yêu cầu giám định: “Mẫu vật gửi giám định có phải ma túy không? Tên gọi? Khối lượng bao nhiêu?”.
Tại bản Kết luận giám định số: 673/KLGĐMT-PC54 ngày 01 tháng 6 năm 2018 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bắc Ninh đã kết luận: “Chất bột màu trắng bên trong 01 gói nhỏ bọc ngoài bằng lớp giấy bạc màu vàng, có khối lượng 0,2460 gam; Là ma tuý; Loại ma tuý: Heroine.
Heroine là chất ma túy được quy định tại Nghị định số 73/2018/NĐ-CP ngày 15/5/2018 của Chính phủ ban hành các danh mục chất ma túy và tiền chất”.
Tại phiên toà, bị cáo Cao Văn L khai nhận: Do mắc nghiện ma túy từ năm 2004, nên ngày 01/6/2018 bị cáo bắt xe ôm của một người đàn ông không quen biết đi từ nhà đến khu phố Ng, phường Đ, thị xã TS, tỉnh Bắc Ninh mua 01 gói ma túy của người bị cáo không nhìn thấy mặt ở bên trong ngôi nhà có cổng sắt đóng kín. Mục đích mua để bị cáo sử dụng, nhưng chưa kịp sử dụng thì đã bị lực lượng Công an kiểm tra bắt giữ. Vật chứng là gói nhỏ thu giữ từ bị cáo đã được niêm phong có chữ ký của bị cáo và nhân chứng. Ngoài bị thu gói ma túy bị cáo vừa mua được, bị cáo không bị thu giữ thứ gì khác. Bị cáo không nhớ vị trí ngôi nhà đã bán ma tuý cho bị cáo. Bị cáo nhất trí với bản Kết luận giám định số: 673/KLGĐMT-PC54 ngày 01 tháng 6 năm 2018 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bắc Ninh và không yêu cầu giám định lại. Các tình tiết được mô tả trong bản cáo trạng Viện kiểm sát vừa công bố tại phiên tòa giống với bản cáo trạng bị cáo đã nhận được, đúng với diễn biến của vụ án mà bị cáo đã thực hiện. Bản cáo trạng truy tố bị cáo về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” là đúng người, đúng tội. Bị cáo có hoàn cảnh kinh tế khó khăn, đề nghị Hội đồng xét xử miễn phạt tiền cho bị cáo.
Kiểm sát viên đại diện cho Viện kiểm sát nhân dân thị xã TS, tỉnh Bắc Ninh thực hành quyền công tố tại phiên toà hôm nay, căn cứ vào những tài liệu, chứng cứ đã đ-ược thẩm tra tại phiên toà; ý kiến của bị cáo và những tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo, đã đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố bị cáo Cao Văn L phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật hình sự, xử phạt: Cao Văn L từ 15 đến 18 tháng tù, thời hạn tù được tính từ ngày tạm giữ, tạm giam 01 tháng 6 năm 2018; miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo. Về vật chứng của vụ án: Áp dụng Điều 47 của Bộ luật hình sự và Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu hủy vỏ đựng mẫu vật và mẫu vật còn lại sau giám định.
Trong phần tranh luận, bị cáo nhất trí với bản luận tội, không tham gia tranh luận với đại diện Viện kiểm sát. Kết thúc phần tranh luận, bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên toà,
HỘI ĐỒNG XÉT XỬ NHẬN XÉT VỀ VỤ ÁN
1. Về tội danh: Lời nhận tội của bị cáo Cao Văn L tại phiên toà hôm nay là hoàn toàn phù hợp với các chứng cứ, tài liệu đã được thu thập trong hồ sơ vụ án. Nội dung bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thị xã TS, tỉnh Bắc Ninh truy tố bị cáo là hoàn toàn đúng với các tình tiết của vụ án mà bị cáo đã thực hiện. Vật chứng được thu giữ từ bị cáo và giám định theo đúng trình tự luật định, sau giám định đã kết luận vật chứng thu giữ từ bị cáo có khối lượng là 0,2460 gam là ma túy; loại ma tuý: Heroine. Heroine là chất ma túy được quy định tại Nghị định số 73/2018 ngày 15 tháng 5 năm 2018 của Chính phủ quy định danh mục chất ma túy và tiền chất.
Ma túy là chất do Nhà nước độc quyền quản lý, mọi cơ quan, tổ chức và cá nhân đều không được tàng trữ, vận chuyển, mua bán, sử dụng khi không được cơ quan Nhà nước có thẩm quyền cho phép, nhưng Cao Văn L vẫn tàng trữ để sử dụng cho bản thân. Vì vậy, đã có đủ cơ sở để kết luận: Cao Văn L phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”, tội được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự như Viện kiểm sát nhân dân thị xã TS, tỉnh Bắc Ninh đã truy tố bị cáo là hoàn toàn đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
2. Về hình phạt:
- Về tình tiết định khung hình phạt: Bị cáo phạm tội không vi phạm các tình tiết định khung tăng nặng khác. Do vậy, chỉ bị xét xử ở điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự.
- Về tính chất nguy hiểm của hành vi phạm tội, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và hình phạt đối với bị cáo:
Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội. Bởi lẽ, hành vi đó đã xâm phạm đến chính sách độc quyền của Nhà nước về ma tuý, xâm phạm trật tự an toàn xã hội. Nạn ma tuý là hiểm họa của xã hội, bị loài người cực lực lên án. Vì nó, mà không biết bao nhiêu gia đình cha mẹ mất con, vợ mất chồng, đạo đức xã hội bị băng hoại, sức khoẻ bị suy tàn, giống nòi bị thui chột, tài sản bị khánh kiệt. Đây còn là nguyên nhân trực tiếp của nhiều tội phạm nguy hiểm khác và cũng là con đường ngắn nhất để lây truyền căn bệnh vô phương cứu chữa. Biết vậy, nhưng chỉ vì thỏa mãn nhu cầu ích kỷ, đồi bại của bản thân, bị cáo vẫn bất chấp pháp luật, kỷ cương phép nước, lao vào ma túy, lao vào con đường phạm tội, để rồi phải đứng trước phiên tòa hôm nay chịu sự trừng phạt của pháp luật. Bản thân bị cáo đã 01 lần bị xử lý hành chính. Tại Quyết định số: 1543/Đ-UBND ngày 14/9/2011 của Chủ tịch UBND huyện Y, tỉnh Bắc Ninh đưa L là đối tượng nghiện ma tuý vào Trung tâm giáo dục-Dạy nghề-Hướng thiện tỉnh Bắc Ninh với thười hạn 02 năm. Ngày 30/9/2013 L chấp hành xong Quyết định. Trước ngày phạm tội lần này, bị cáo được coi là chưa bị xử lý hành chính. Song, đây cũng là tình tiết cần được xem xét khi quyết định hình phạt đối với bị cáo, cần cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian nhất định mới có tác dụng giáo dục riêng và phòng ngừa chung. Tuy nhiên xét thấy, sau khi phạm tội, bị cáo đã khai báo thành khẩn. Đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự. Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự theo quy định tại khoản 1 Điều 52 của Bộ luật hình sự. Do vậy, cần giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo khi quyết định hình phạt.
- Về hình phạt bổ sung: Bị cáo phạm tội không có mục đích trục lợi và có hoàn cảnh kinh tế khó khăn. Tại phiên tòa bị cáo xin miễn phạt tiền; đại diện Viện kiểm sát cũng đề nghị Hội đồng xét xử miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo. Vì vậy, không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
Liên quan trong vụ án này còn có người đã chở bị cáo đi mua ma tuý và có người ở bên trong ngôi nhà có cổng sắt đóng kín đã bán ma tuý cho bị cáo, nhưng bị cáo biết danh tính, địa chỉ của người xe ôm, không nhìn thấy mặt người bán và không nhớ vị trí ngôi nhà đã bán ma tuý cho bị cáo. Vì vậy, Cơ quan điều tra vẫn đang tiếp tục xác minh, khi nào làm rõ sẽ xử lý sau là phù hợp với quy định của pháp luật.
3. Về các vấn đề khác:
- Về vật chứng vụ án: Khi bắt quả tang Cao Văn L tàng trữ ma túy, Cơ quan điều tra đã thu giữ từ L 01 gói ma túy là Heroine có khối lượng 0,2460 gam. Sau giám định còn lại 0,1523 gam mẫu vật. Xét thấy, vỏ đựng mẫu vật không có giá trị sử dụng và mẫu vật còn lại sau giám định là vật Nhà nước cấm L hành. Vì vậy, cần tịch thu tiêu hủy;
- Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Cao Văn L phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
2. Về hình phạt: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật hình sự; khoản 1 Điều 329 của Bộ luật tố tụng hình sự,
Xử phạt: Cao Văn L 16 (mười sáu) tháng tù, thời hạn tù được tính từ ngày tạm giữ 01 tháng 6 năm 2018. Tạm giam bị cáo 45 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm 16 tháng 10 năm 2018.
3. Về các vấn đề khác:
- Về vật chứng: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật hình sự; khoản 1, điểm a, điểm c khoản 2 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu hủy vỏ đựng mẫu vật và 0,1523 gam mẫu vật còn lại sau giám định được niêm phong trong phong bì thư có chữ ký của Giám định viên và dấu đỏ của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bắc Ninh. Vật chứng hiện đang được L giữ tại Chi cục Thi hành án dân sự thị xã TS, tỉnh Bắc Ninh;
- Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội: Buộc Cao Văn L phải chịu 200.000 đồng án phí HSST;
- Về quyền kháng cáo: Án xử công khai sơ thẩm, bị cáo được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án./.
| Nơi nhận: - Bị cáo; - TAND tỉnh; - VKSND thị, tỉnh; - Công an thị xã TS; - Trại tạm giam Công an tỉnh Bắc Ninh; - Chi cục Thi hành án dân sự thị xã; - L. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ Thẩm phán-Chủ toạ phiên toà |