vanban.org

Bản án 244/2018/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của y ban thư ng vụ quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án ph và lệ ph Tòa án.

Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Trần Thị Ngọc G. Về hôn nhân: Chị Trần Thị Ngọc G được ly hôn với anh Trần Văn D. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "LY HÔN"
  • Tòa quyết gì? Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của y ban thư ng vụ quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án ph và lệ ph Tòa án.
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN CHỢ MỚI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH AN GIANG
Bản án số: 244/2018/HNGĐ-ST
Ngày: 23-11-2018
V/v tranh chấp “Ly hôn”.

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHỢ MỚI,TỈNH AN GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Châu Vũ Sơn.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Trương Phước Công;

2. Bà Hoàng Thị Thiện Lai.

- Thư ký phiên tòa: Bà Ngô Thị Lắm, là Thư ký Tòa án nhân dân huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang: Không tham gia phiên tòa.

Trong ngày 23 tháng 11 năm 2018 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Chợ Mới xét xử công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số 649/2018/TLST-HNGĐ ngày 05 tháng 9 năm 2018 về việc tranh chấp “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 192/2018/QĐST-HNGĐ ngày 18 tháng 10 năm 2018 giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Chị Trần Thị Ngọc G, sinh năm 19765 (Có mặt).

Địa chỉ: Ấp M, xã A, huyện C, tỉnh An Giang.

Bị đơn: Anh Trần Văn D, sinh năm 1970 (Vắng mặt).

Địa chỉ: Ấp M, xã A, huyện C, tỉnh An Giang.

NỘI DUNG VỤ ÁN;

Trong đơn khởi kiện, t tự khai và tại phiên tòa, nguyên đơn chị Trần Thị Ngọc G trình bày: Chị và anh D quen biết nhau và sống chung vào năm 2002 nhưng đến năm 2012 anh chị mới đăng ký kết hôn theo quy định pháp luật. Trong cuộc sống không hạnh phúc nhưng anh chị vẫn sống chung trong nhà, đến tháng 02.2018 anhD bỏ nhà ra đi cho đến nay. Nguyên nhân do bất đồng quan điểm trong cuộc sống, thư ng xuyên cự cãi, anh D có quan hệ với ngư i phụ nữ bên ngoài. Vợ chồng không còn sống chung từ đó cho đến nay. Nay nhận thấy tình cảm không còn chị yêu cầu ly hôn với anhD.

- Về con chung: Vợ chồng có 01 con chung tên Trần Văn H, sinh ngày 18.02.2008. Hiện cháu H đang sống chung với chị G. Khi ly hôn, chị yêu cầu được tiếp tục chăm sóc và nuôi dưỡng con chung, không yêu cầu chồng cấp dưỡng nuôi con.

- Về tài sản chung: Vợ chồng tự thỏa thuận không yêu cầu xem xét giải quyết.

- Về nợ chung: Chị G xác định không có nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

Tòa án đã thông báo thụ lý vụ án và triệu tập hợp lệ anh Trần Văn D đến Tòa án để tham gia phiên hòa giải nhưng anh D vắng mặt nên Tòa án không tiến hành hòa giải được vụ án.

Tại phiên tòa, chị G vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN;

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1]. Về tố tụng: Chị Trần Thị Ngọc G khởi kiện anh Trần Văn D, anh D cư trú ấp M, xã A, huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang, Tòa án nhân dân huyện C thụ lý giải quyết là đúng thẩm quyền, phù hợp theo quy định tại Điều 28, Điều 35, Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự.

Anh Trần Văn D đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai để tham gia phiên tòa nhưng vắng mặt. Căn cứ Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt anh D.

[2]. Về hôn nhân: Chị G và anh D sống chung với nhau vào năm 2002 nhưng đến năm 2012 anh chị mới đăng ký kết hôn theo quy định pháp luật tại y ban nhân dân xã A, huyện C, tỉnh An Giang nên quan hệ hôn nhân giữa anh chị được pháp luật thừa nhận và bảo vệ. Quá trình chung sống do anh, chị bất đồng quan điểm sống, anh D không lo làm ăn, có quan hệ với ngư i phụ nữ bên ngoài nên dẫn đến va chạm, mâu thuẫn, mất lòng tin với nhau. Chị và D không còn sống chung từ tháng 02/2018 cho đến nay, như vậy mâu thuẫn đã trầm trọng, đ i sống chung giữa chị G và anh D không thể kéo dài, mục đ ch của hôn nhân không đạt được, chị G yêu cầu ly hôn với anhD, căn cứ Điều 56 Luật hôn nhân gia đình “ Khi vợ hoặc chồng xin ly hôn mà hòa giải tại Tòa án không thành thì Tòa án giải quyết cho ly hôn .” Tại phiên tòa, chị G xác định tình cảm không còn. Do đó, yêu cầu ly hôn của chị G là có căn cứ nên Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị G.

[3]. Về con chung: Vợ chồng có 01 con chung tên Trần Văn H, sinh ngày 18.02.2008. Hiện cháu H đang sống chung với chịG. Khi ly hôn, chị yêu cầu được tiếp tục chăm sóc nuôi dưỡng con chung. Tuy nhiên, việc giao con cho ai nuôi cần phải xem xét mọi mặt về quyền lợi của con chưa thành niên, hiện nay cháu H sống n định với chịG vẫn phát triển tốt về thể chất và tinh thần. Trong quá trình làm việc Tòa án đã tiến hành ghi nhận ý kiến và nguyện vọng của cháu H thì cháu có nguyện vọng sống với chịG, anh D cũng không có ý kiến phản đối. Do đó, Hội đồng xét xử giao cháu H cho chịG tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng là phù hợp với quy định tại khoản 2 Điều 81 Luật hôn nhân và gia đình “ Vợ, chồng thỏa thuận về ngư i trực tiếp nuôi con, nghĩa vụ, quyền của mỗi bên sau khi ly hôn đối với con; trư ng hợp không thỏa thuận được thì Tòa án quyết định giao con cho một bên trực tiếp nuôi căn cứ vào quyền lợi về mọi mặt của con ; nếu con từ đủ 07 tu i trở lên thì phải xem xét nguyện vọng của con”.

[4]. Về cấp dưỡng nuôi con: Chị G không yêu cầu anh D cấp dưỡng nuôi con nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

[5]. Về tài sản chung: Vợ chồng tự thỏa thuận, chị G không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

[6]. Về nợ chung: Chị G xác định không có nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

Ghi nhận chị G xác định không có nợ chung, nhưng sau khi bản án ly hôn có hiệu lực pháp luật nếu có nguyên đơn xuất trình chứng cứ chứng minh nợ chung của chịG vàD thì anh, chị phải liên đới chịu trách nhiệm với tư cách đồng bị đơn trong vụ án dân sự khác.

[7]. Về án phí: Căn cứ Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của y ban thư ng vụ quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án ph và lệ ph Tòa án, chịG phải chịu án ph theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ:

Điều 28, 35, 39, 147, 228, 235, 273 Bộ luật tố tụng dân sự;

Điều 53, 56, 81, 82, 83, 84 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014;

Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của y ban thư ng vụ quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án ph và lệ ph Tòa án.

Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Trần Thị Ngọc G.

- Về hôn nhân: Chị Trần Thị Ngọc G được ly hôn với anh Trần Văn D.

- Về con chung: Chị Trần Thị Ngọc G được tiếp tục chăm sóc và nuôi dưỡng con chung tên Trần Văn H, sinh ngày 18.02.2008. Anh D không phải cấp dưỡng nuôi con.

Chị G cùng các thành viên gia đình (nếu có) không được cản trở anh D trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.

Vì lợi ch của con, theo yêu cầu của ngư i thân th ch của con, cơ quan có thẩm quyền, Toà án có thể quyết định thay đ i ngư i trực tiếp nuôi con, thay đ i mức cấp dưỡng nuôi con chung dựa trên các căn cứ do pháp luật quy định.

Về tài sản chung: Vợ chồng tự thỏa thuận, chị G không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

Về nợ chung: Chị G xác định không có nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

Ghi nhận chị G xác định không có nợ chung, nhưng sau khi bản án ly hôn có hiệu lực pháp luật nếu có nguyên đơn xuất trình chứng cứ chứng minh nợ chung của chịG và anhD thì anh, chị phải liên đới chịu trách nhiệm với tư cách đồng bị đơn trong vụ án dân sự khác.

Về án ph : Chị Trần Thị Ngọc G phải chịu án ph hôn nhân sơ thẩm 300.000 đồng (ba trăm ngàn đồng) được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án ph đã nộp 300.000 đồng (ba trăm ngàn đồng) theo biên lai thu tiền số 0000134 ngày 05.9.2018 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang. Chị G không phải nộp thêm.

Đương sự có mặt tham gia phiên toà có quyền kháng cáo trong th i hạn 15 (mư i lăm) ngày kể từ ngày tuyên án. Đương sự vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày được tống đạt hợp lệ bản án. Trư ng hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì ngư i được thi hành án dân sự, ngư i phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; th i hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự./.

Cỡ chữ