- Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng tín dụng — án dân sự — "Tranh chấp hợp đồng tín dụng"
- Tòa quyết gì? Áp dụng Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
- Căn cứ chính? Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 9 THÀNH PHỒ HỒ CHÍ MINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 2438/2025/DS-ST Ngày: 30/9/2025 V/v: “tranh chấp hợp đồng tín dụng” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 9 - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: ông Phạm Việt Hải.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Vương Tấn Độ;
2. Bà Trần Thị Thiếu Liên.
- Thư ký phiên tòa: bà Lê Thị Kim Cương là Thư ký Tòa án nhân khu vực 9 - Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 9 – Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: bà Nguyễn Thị Ánh Tuyết – Kiểm sát viên.
Ngày 30 tháng 9 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 9 - Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 574/2025/TLST-DS ngày 11 tháng 6 năm 2025 về việc “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 773/2025/QĐXXST-DS ngày 19 tháng 8 năm 2025, Quyết định hoãn phiên tòa số 605/2025/QĐST-DS ngày 10 tháng 9 năm 2025, giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Công ty Tài chính TNHH MTV MA (VN); Địa chỉ: số aa đường P, phường SG, Thành phố H;
Người đại diện theo ủy quyền: ông NPTN, sinh năm 20xx (có đơn xin giải quyết vắng mặt); Địa chỉ: Phòng số bb, Tầng bb, Tòa nhà số bb đường TSX phường TH, Thành phố H.
2. Bị đơn: bà NTM, sinh năm 19xx (vắng mặt); Địa chỉ: số cc đường LĐC, phường TT, Thành phố H.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện của nguyên đơn, bản tự khai của đại diện nguyên đơn tại Tòa án cùng các tài liệu, chứng cứ khác đã thu thập được có trong hồ sơ thì nội dung vụ án được xác định như sau:
* Nguyên đơn Công ty Tài chính TNHH MTV MA (VN) có người đại diện theo ủy quyền trình bày:
Ngày 04/4/2024, Công ty Tài chính TNHH MTV MA (VN) (sau đây gọi tắt là Công ty) ký kết Đề nghị vay vốn kiêm Hợp đồng tín dụng số 5422343 (sau đây gọi tắt là Hợp đồng tín dụng) về việc cấp tín dụng cho bà NTM với khoản vay trị giá 38.772.000 đồng, lãi suất 58%/năm. Sau khi hợp đồng được ký kết, Công ty đã giải ngân vào ngày 05/4/2024 theo đúng quy định trong hợp đồng tín dụng cho bà NTM, số tiền giải ngân được Công ty chuyển vào tài khoản cá nhân của bà M. Theo hợp đồng tín dụng, bà NTM có trách nhiệm, nghĩa vụ thanh toán trả góp hàng tháng với số tiền 2.296.629 đồng trong kỳ hạn 35 tháng, kể từ ngày 25/4/2024 đến ngày 25/02/2027 cho Công ty.
Kể từ ngày được giải ngân đến nay bà NTM chỉ mới thanh toán trả góp cho Công ty được 01 kỳ với tổng số tiền đã thanh toán là 2.320.128 đồng. Từ ngày 30/4/2024 đến nay bà NTM không tiếp tục thực hiện nghĩa vụ thanh toán trả góp theo hợp đồng tín dụng đã ký kết với Công ty.
Công ty đã liên hệ nhắc nợ qua điện thoại rất nhiều lần để yêu cầu bà NTM thực hiện nghĩa vụ thanh toán theo Hợp đồng tín dụng. Đồng thời, Công ty cũng đã gửi thư đề nghị thanh toán để thông báo trực tiếp cho bà M biết về việc đã quá hạn thanh toán. Tuy nhiên, bà M vẫn không thực hiện nghĩa vụ thanh toán theo Hợp đồng tín dụng cho phía Công ty.
Tại Tòa, Công ty Tài chính TNHH MTV MA (VN) yêu cầu Tòa án giải quyết: buộc bà NTM phải trả cho Công ty Tài chính TNHH MTV MA (VN) tổng số tiền (gồm cả gốc và lãi) tạm tính đến ngày 30/9/2025 là 72.845.697 đồng, trong đó: nợ gốc chưa thanh toán là 37.707.576 đồng; tiền lãi trong hạn là 27.035.128 đồng; tiền lãi quá hạn là 6.147.387 đồng; tiền lãi chậm trả là 1.955.606 đồng.
Ngoài ra, bà NTM còn phải thanh toán lãi, phí phát sinh kể từ ngày 01/10/2025 cho đến khi thi hành xong khoản nợ theo lãi suất quy định trong hợp đồng.
Công ty chỉ yêu cầu cá nhân bà M trả số tiền nợ gốc và tiền lãi nêu trên cho Công ty mà không yêu cầu ai khác liên đới trả nợ. Công ty không yêu cầu Tòa án triệu tập thêm ai khác tham gia tố tụng. Công ty chỉ biết địa chỉ của bà M là số cc đường LĐC, phường TT (phường TT, quận BT cũ), Thành phố H và đây cũng là địa chỉ bà M cung cấp trong Đề nghị vay vốn kiêm hợp đồng tín dụng ngày 04/4/2024. Công ty không biết địa chỉ nào khác của bà M để cung cấp cho Tòa án. Bà M chưa thông báo cho Công ty biết bà M thay đổi địa chỉ nơi cư trú nên Công ty không có địa chỉ nào khác cung cấp cho Tòa án.
* Bị đơn là bà NTMi: bị đơn đã được triệu tập hợp lệ nhưng vẫn không đến Tòa án, vắng mặt không rõ lý do và không có văn bản ghi nhận ý kiến của bị đơn đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn gửi cho Tòa án. Bị đơn không có yêu cầu phản tố.
* Tại phiên tòa:
- Nguyên đơn có đơn giải quyết vắng mặt và giữ nguyên yêu cầu khởi kiện. Bị đơn vắng mặt không lý do.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân khu vực 9 - Thành phố Hồ Chí Minh phát biểu ý kiến và kết luận: quá trình thụ lý, giải quyết vụ án Toà án đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng Dân sự về thẩm quyền, thủ tục. Hội đồng xét xử đã thực hiện đầy đủ và đúng quy định của Bộ luật Tố tụng Dân sự. Về nội dung: do bà NTM đã vi phạm nghĩa vụ thanh toán nên căn cứ vào Đề nghị vay vốn kiêm hợp đồng tín dụng, Công ty yêu cầu bà M thanh toán số dư nợ còn thiếu là phù hợp. Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ Điều 91, Điều 95 Luật các Tổ chức Tín dụng chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và công bố các yêu cầu và tài liệu, chứng cứ tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
Về tố tụng:
Tranh chấp giữa Công ty và bà NTM là tranh chấp dân sự phát sinh từ Đề nghị vay vốn kiêm Hợp đồng tín dụng số 5422343 ngày 04/4/2024.
Theo Đề nghị vay vốn kiêm Hợp đồng tín dụng số 5422343 ngày 04/4/2024 thì bà NTM cung cấp địa chỉ tại số cc đường LĐC, phường TT (phường TT, quận BT cũ), Thành phố H. Tuy nhiên, theo kết quả xác minh của Công an phường TT thì bà NTM có đăng ký thường trú tại số cc đường LĐC, phường TT, Thành phố H nhưng đã bán nhà từ năm 2018. Tháng 11/2023 đăng ký tạm trú tại số dd TL10, phường BT, Thành phố H. Theo kết quả xác minh của Công an phường BT thì bà NTM không đăng ký tạm trú, không thực tế cư trú tại số dd TL10, phường BT, Thành phố H. Do đó, căn cứ vào Khoản 3 Điều 40 của Bộ luật Dân sự năm 2015 và điểm a Khoản 2 Điều 6 Nghị quyết số 04/2017/NQ-HĐTP ngày 05/5/2017 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao quy định: Bị đơn không còn cư trú tại địa chỉ ghi trong Hợp đồng nhưng không thông báo nơi cư trú mới cho người khởi kiện xem như bị đơn cố tình giấu địa chỉ. Căn cứ những quy định trên, Hội đồng xét xử xác định địa chỉ bị đơn tại số cc đường LĐC, phường TT, Thành phố H để Tòa án tống đạt, niêm yết văn bản tố tụng theo quy định của pháp luật.
Do đó, Toà án nhân dân khu vực 9 - Thành phố Hồ Chí Minh giải quyết vụ án theo quy định tại khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 40 Bộ luật Tố tụng dân sự và Luật số 85/2025/QH15 ngày 25/6/2025 sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
Tại phiên tòa, đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn có đơn xin vắng mặt, bị đơn bà NTM đã được Toà án tống đạt hợp lệ, nhưng vẫn không có mặt để tham dự phiên toà. Do đó, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt nguyên đơn và bị đơn tại phiên tòa sơ thẩm là có căn cứ, đúng theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227 và khoản 1 khoản 3 Điều 228 Bộ luật Tố tụng Dân sự.
Bị đơn là bà NTM đã được Tòa án tống đạt các văn bản tố tụng hợp lệ nhưng không đến Tòa án để giải quyết vụ án theo quy định của pháp luật, có nghĩa là bị đơn đã tự tước bỏ quyền phản đối yêu cầu của nguyên đơn đối với mình, tự tước bỏ quyền được chứng minh của mình, nên phải chịu hậu quả của việc không chứng minh. Khoản 2 Điều 91 của Bộ luật tố tụng dân sự, quy định: “Đương sự phản đối yêu cầu của người khác đối với mình phải thể hiện bằng văn bản và phải thu thập, cung cấp, giao nộp cho Tòa án tài liệu, chứng cứ để chứng minh cho sự phản đối đó”; Khoản 2 Điều 92 của Bộ luật tố tụng dân sự, quy định: “Một bên đương sự thừa nhận hoặc không phản đối những tình tiết, sự kiện, tài liệu, văn bản, kết luận của cơ quan chuyên môn mà bên đương sự kia đưa ra thì bên đương sự đó không phải chứng minh”. Vì vậy, Hội đồng xét xử căn cứ yêu cầu khởi kiện, lời khai của nguyên đơn và các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ để xem xét giải quyết vụ án.
Về nội dung vụ án:
Vào ngày 04/4/2024, Công ty Tài chính TNHH MTV MA (VN) và bà NTM ký Đề nghị vay vốn kiêm Hợp đồng tín dụng số 5422343 về việc cấp tín dụng cho bà NTM với khoản vay trị giá 38.772.000 đồng, lãi suất 58%/năm. Bà NTM có nghĩa vụ thanh toán trả góp số tiền 2.296.629 đồng/tháng trong kỳ hạn 35 tháng, kể từ ngày 25/4/2022 đến ngày 25/02/2027 cho Công ty.
Tại thời điểm giao kết hợp đồng, pháp luật điều chỉnh quan hệ hợp đồng giữa các bên đương sự là Luật các Tổ chức Tín dụng năm 2010 sửa đổi, bổ sung năm 2017, Quy chế cho vay của tổ chức tín dụng đối với khách hàng ban hành kèm theo Quyết định số 1627/2001/QĐ-NHNN ngày 31 tháng 12 năm 2001 của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, Văn bản số 20/VBHN-NHNN ngày 20/5/2014 của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam về việc ban hành quy chế cho vay của tổ chức tín dụng đối với khách hàng và các văn bản pháp luật khác có liên quan.
Xét về hình thức, Đề nghị vay vốn kiêm Hợp đồng tín dụng nói trên được lập thành văn bản, phù hợp với quy định tại Điều 17 Quy chế cho vay của tổ chức tín dụng đối với khách hàng. Về mặt nội dung, chủ thể giao kết hợp đồng - Công ty Tài chính TNHH MTV MA (VN) là một tổ chức tín dụng, được phép cấp tín dụng; bà NTM có đầy đủ năng lực hành vi dân sự; Công ty và bà NTM tự nguyện giao kết hợp đồng. Do đó, hợp đồng phát sinh quyền và nghĩa vụ của hai bên.
Thỏa thuận của hai bên đương sự trong hợp đồng phù hợp với quy định tại khoản 2 Điều 91 của Luật các tổ chức tín dụng:“Tổ chức tín dụng và khách hàng có quyền thỏa thuận về lãi suất, phí cấp tín dụng trong hoạt động ngân hàng của tổ chức tín dụng theo quy định của pháp luật”, Điều 11 Quy chế cho vay của tổ chức tín dụng đối với khách hàng: “Mức lãi suất cho vay do tổ chức tín dụng và khách hàng thỏa thuận phù hợp với quy định của Ngân hàng Nhà nước về lãi suất cho vay tại thời điểm ký kết hợp đồng tín dụng”.
Ngày 05/4/2024, Công ty đã giải ngân vào tài khoản cá nhân của bà NTM số tiền 38.772.000 đồng. Kể từ ngày được giải ngân đến nay bà NTM chỉ mới thanh toán trả góp được 01 kỳ với tổng số tiền đã thanh toán là 2.320.128 đồng. Từ ngày 30/4/2024 đến nay bà NTM không tiếp tục thực hiện nghĩa vụ thanh toán trả góp theo hợp đồng đã ký. Như vậy, bà M là bên vi phạm hợp đồng, không trả gốc lãi đúng hạn quy định theo Đề nghị vay vốn kiêm Hợp đồng tín dụng số 5422343 ngày 04/4/2024. Công ty yêu cầu bà M phải thanh toán nợ gốc và lãi gồm: nợ gốc chưa thanh toán là 37.707.576 đồng; lãi trong hạn là 27.035.128 đồng; lãi quá hạn là 6.147.387 đồng; lãi chậm trả là 1.955.606 đồng và tiền lãi phát sinh. Xét số tiền lãi do Công ty yêu cầu được tính dựa trên mức lãi suất phù hợp với thỏa thuận của các bên tại Đề nghị vay vốn kiêm hợp đồng tín dụng số 3363697 ngày 13/7/2022, Điều 91, 95 Luật các Tổ chức Tín dụng năm 2010 và các văn bản pháp luật có liên quan về ban hành quy chế cho vay của tổ chức tín dụng với khách hàng nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.
Như vậy, bà NTM phải trả cho Công ty tổng số tiền là 72.845.697 đồng (trong đó: nợ gốc là 37.707.576 đồng; lãi trong hạn là 27.035.128 đồng; lãi quá hạn là 6.147.387 đồng; lãi chậm trả là 1.955.606 đồng) và tiền lãi phát sinh từ ngày 01/10/2025 cho đến khi bà M thanh toán hết nợ theo quy định tại Đề nghị vay vốn kiêm Hợp đồng tín dụng số 3363697 ngày 13/7/2022.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 9 - Thành phố Hồ Chí Minh đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận theo yêu cầu của nguyên đơn, việc đề nghị này của đại diện Viện kiểm sát là đúng với quy định của pháp luật, nên được Hội đồng xét xử ghi nhận.
Về án phí:
- Bà NTM chịu án phí dân sự sơ thẩm là 3.642.285 đồng theo quy định của pháp luật.
- Hoàn lại cho Công ty Tài chính TNHH MTV MA (VN) số tiền tạm ứng án phí đã nộp.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào Khoản 3 Điều 26, điểm a Khoản 1 Điều 35, điểm a Khoản 1 Điều 40, Khoản 2 Điều 91, điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 1 khoản 3 Điều 228, Điều 147 và Điều 273 Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2025;
Căn cứ vào Điều 91, Điều 95 Luật các Tổ chức Tín dụng năm 2010 được sửa đổi, bổ sung năm 2017;
Căn cứ Luật thi hành án dân sự;
Áp dụng Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Công ty Tài chính TNHH MTV MA (VN) đối với bà NTM:
Buộc bà NTM phải trả cho Công ty Tài chính TNHH MTV MA (VN) tổng số tiền là 72.845.697 đồng, trong đó: nợ gốc chưa thanh toán là 37.707.576 đồng; tiền lãi trong hạn là 27.035.128 đồng; tiền lãi quá hạn là 6.147.387 đồng; tiền lãi chậm trả là 1.955.606 đồng.
Bà NTM phải tiếp tục trả cho Công ty Tài chính TNHH MTV MA (VN) tiền lãi phát sinh từ ngày 01/10/2025 cho đến khi bà NTM thanh toán hết nợ theo quy định tại Đề nghị vay vốn kiêm Hợp đồng tín dụng số 5422343 ngày 04/4/2024.
Trả một lần ngay khi bản án của Tòa án có hiệu lực pháp luật.
2. Về án phí:
Bà NTM nộp án phí dân sự sơ thẩm là 3.642.285 đồng (ba triệu, sáu trăm bốn mươi hai nghìn, hai trăm tám mươi lăm đồng).
Hoàn lại cho Công ty Tài chính TNHH MTV MA (VN) số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 1.180.434 đồng (một triệu, một trăm tám mươi nghìn, bốn trăm ba mươi bốn đồng) theo biên lai thu số 0077707 ngày 11/6/2025 của Chi cục Thi hành án dân sự quận Bình Tân, Thành phố Hồ Chí Minh (nay là Phòng Thi hành án dân sự khu vực 9 – Thành phố Hồ Chí Minh).
3. Các bên Thi hành tại cơ quan thi hành án dân sự có thẩm quyền.
4. Về quyền kháng cáo: Các đương sự vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án sơ thẩm hoặc bản án sơ thẩm được niêm yết, để yêu cầu xét xử phúc thẩm. Viện Kiểm sát cùng cấp và cấp trên trực tiếp có quyền kháng nghị theo quy định của pháp luật.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quyết định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật thi hành án Dân sự.
| Nơi nhận: - TAND TP.HCM; - VKSND KV9 - TP.HCM; - THADS TP.HCM; - Các đương sự; - Lưu HS. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phạm Việt Hải |