- Tranh chấp gì? án hình sự — "Phan Đức D - Khoản 1 Điều 249BLHS - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Phan Đức D phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”.
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TÂN UYÊN TỈNH BÌNH DƯƠNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 243/2023/HS-ST Ngày 28-9-2023 |
NHÂN DA
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TÂN UYÊN, TỈNH BÌNH DƯƠNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Võ Thị Lê
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Tống Văn Tâm;
Bà Huỳnh A Thư.
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Mỹ Hạnh – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Tân Uyên, tỉnh Bình Dương.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Tân Uyên, tỉnh Bình Dương tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Trọng - Kiểm sát viên.
Ngày 28 tháng 9 năm 2023 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Tân Uyên, tỉnh Bình Dương tiến hành xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 240/2023/TLST-HS ngày 13 tháng 9 năm 2023, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 250/2023/QĐXXST-HS ngày 16 tháng 9 năm 2023 đối với bị cáo:
Phan Đức D, sinh ngày 15/3/2005 tại Cà Mau; nơi cư trú: khóm 6, thị trấn C, huyện N, tỉnh Cà Mau; nghề nghiệp: làm thuê; trình độ văn hoá: lớp 00/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lê Văn Phư và bà Phan Thị Đ; chưa có vợ, con; tiền sự: không; tiền án: không; bị bắt quả tang và tạm giữ, tạm giam từ ngày 04/4/2023 cho đến nay; có mặt.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án: Bà Nguyễn Thị V, sinh năm 1976 và ông Phạm Hoài A, sinh năm 2001. Cùng nơi thường trú: ấp 9, xã K, huyện U, tỉnh Cà Mau; nơi tạm trú: khu phố Đ, phường T, thành phố U, tỉnh Bình Dương; có đơn xin vắng mặt.
- Người làm chứng: ông Hoàng Văn L và ông Nguyễn Văn T; đều vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Bị cáo Phan Đức D là đối tượng sử dụng ma túy từ năm 2019, loại ma túy D sử dụng là ma túy đá, loại Methamphetamine.
Khoảng 17 giờ 00 phút ngày 04/4/2023, do cần ma túy sử dụng nên bị cáo D điều khiển xe mô tô biển số 69H1-277.31 đi từ khu nhà trọ Hoàng Gia D thuộc phường H, thành phố U, tỉnh Bình Dương đến khu vực chợ Đông Đô thuộc phường T, thành phố A, tỉnh Bình Dương để tìm gặp đối tượng tên Q (không rõ nhân thân) mua ma túy về sử dụng (D biết Q bán ma túy do được bạn không rõ nhân thân giới thiệu). Khi đến nơi, D gặp Q và hỏi mua 2.000.000 đồng (hai triệu đồng) ma túy. Sau khi đưa tiền và nhận 01 túi nylon miệng kéo dính hàn kín chứa chất tinh thể màu trắng là ma tuý thì D cất vào túi quần rồi điều khiển xe về phòng trọ. Khoảng 20 giờ 30 phút cùng ngày, D điều khiển xe về đến khu vực thuộc khu phố Ông Đông, phường Tân Hiệp, thì bị lực lượng tuần tra công an phường Tân Hiệp phát hiện D có biểu hiện nghi vấn nên yêu cầu kiểm tra hành chính. Qua kiểm tra phát hiện bên trong túi quần D có 01 túi nylon miệng kéo dính hàn kín chứa chất tinh thể màu trắng. D khai nhận: chất tinh thể màu trắng là ma túy đá, lực lượng tuần tra tiến hành niêm phong và đưa D đến trụ sở Công an phường Tân Hiệp, thành phố Tân Uyên để lập biên bản bắt người phạm tội quả tang và thu giữ vật chứng gồm: 01 túi nylon miệng kéo dính hàn kín chứa chất tinh thể màu trắng, xe mô tô biển số 69H1 – 277.31, 01 điện thoại hiệu OPPO Reno 5.
Sau đó, Công an phường Tân Hiệp bàn giao bị cáo D cùng hồ sơ vụ việc, vật chứng cho Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Tân Uyên thụ lý theo thẩm quyền.
Tại Bản kết luận giám định số 185/MT - PC09 ngày 11/4/2023 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bình Dương kết luận: 01 túi nylon hàn kín chứa chất tinh thể màu trắng thu giữ của Phan Đức D là chất ma túy, loại Methamphetamine, có trọng lượng 4,9057 gam.
Bản Cáo trạng số 255/CT-VKSTU ngày 11/9/2023 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Tân Uyên, tỉnh Bình Dương truy tố bị cáo Phan Đức D về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” theo điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa:
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Tân Uyên, tỉnh Bình Dương vẫn giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử như sau:
+ Về trách nhiệm hình sự: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 và Điều 38 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Phan Đức D mức hình phạt từ 03 (ba) năm đến 04 (bốn) năm tù.
+ Về xử lý vật chứng và biện pháp tư pháp: Đề nghị Hội đồng xét xử tuyên: tịch thu, tiêu hủy số ma túy còn lại sau giám định; tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước 01 điện thoại di động Oppo Reno 5.
- Bị cáo Phan Đức D khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, thống nhất tội dA, khung hình phạt mà Viện kiểm sát đề nghị áp dụng, không có ý kiến trA luận. Lời nói sau cùng, bị cáo xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo cơ hội sửa chữa lỗi lầm để trở thành công dân tốt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được trA tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về thủ tục tố tụng: Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố Tân Uyên, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Tân Uyên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng.
Về sự vắng mặt của những người tham gia tố tụng: Quá trình điều tra, lời khai của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án và người làm chứng không mâu thuẫn với lời khai của bị cáo và các chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát và bị cáo đồng ý xét xử vắng mặt người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án và người làm chứng. Căn cứ Điều 292, 293 của Bộ luật Tố tụng hình sự, Hội đồng xét xử xét xử vắng mặt những người này.
Lời khai nhận tội của bị cáo Phan Đức D tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan Điều tra, biên bản bắt người phạm tội quả tang, biên bản hỏi cung bị can, biên bản niêm phong, kết luận giám định, các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Do đó, Hội đồng xét xử có căn cứ kết luận:
Ngày 04/4/2023, bị cáo Phan Đức D có hành vi cất giấu trái phép chất ma túy, loại Methamphetamine có khối lượng 4,9057 gam mua của đối tượng tên thường gọi “Q” (không rõ nhân thân) nhằm mục đích để sử dụng thì bị phát hiện bắt quả tang tại khu phố Ông Đông, phường Tân Hiệp, thành phố Tân Uyên, tỉnh Bình Dương. Hành vi của bị cáo đã phạm vào tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự. Cáo trạng của Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Tân Uyên truy tố bị cáo về tội danh và điều khoản như trên là đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.
Hành vi mà bị cáo thực hiện là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến hoạt động quản lý của Nhà nước đối với chất ma túy. Khi thực hiện hành vi phạm tội, bị cáo là người đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, nhận thức rõ hành vi của mình là vi phạm pháp luật hình sự nhưng vì nghiện ma tuý và để thỏa mãn cơn nghiện và thái độ coi thường pháp luật mà đã cố ý thực hiện. Do đó cần có hình phạt tương xứng với hành vi của bị cáo để răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung cho xã hội.
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: không có.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.
Mức hình phạt mà Kiểm sát viên đề nghị đối với bị cáo là phù hợp nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
Về xử lý vật chứng và biện pháp tư pháp:
Đối với số ma túy loại Methamphetamine còn lại sau giám định là vật chứng của vụ án và là chất cấm nên cần tịch thu, tiêu hủy.
Đối với điện thoại di động Oppo Reno 5, bị cáo dùng liên lạc với đối tượng tên Q để mua ma tuý về sử dụng và là vật chứng của vụ án nên cần tịch thu sung vào ngân sách nhà nước.
Đối với xe mô tô biển số 69H1-277.31 do bà Nguyễn Thị V đứng tên đăng ký chủ sở hữu. Bà V cho Phạm Hoài A (là con ruột bà V) mượn để làm phương tiện đi lại. Do D không có xe đi lại nên A cho D mượn để làm phương tiện đi lại. Quá trình điều tra bà V và Phạm Hoài A hoàn toàn không biết D sử dụng xe nêu trên làm phương tiện đi mua ma tuý để sử dụng. Ngày 28/8/2023, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố Tân Uyên ban hành Quyết định xử lý vật chứng số 769 và trả lại xe mô tô trên cho bà V; là phù hợp.
Đối với đối tượng tên Q có hành vi bán ma túy cho D, kết quả điều tra đến nay chưa xác định được nhân thân nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Tân Uyên chưa có căn cứ để xử lý; là phù hợp.
Về án phí sơ thẩm: Bị cáo phạm tội và bị kết án nên phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố: Bị cáo Phan Đức D phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”.
1. Về trách nhiệm hình sự: Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 và Điều 38 của Bộ luật Hình sự;
Xử phạt bị cáo Phan Đức D 03 (ba) năm 06 (sáu) tháng tù; thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 04/4/2023.
2. Về xử lý vật chứng và biện pháp tư pháp: Căn cứ Điều 46, 47 của Bộ luật Hình sự; Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự;
- Tịch thu, tiêu hủy số ma túy còn lại sau giám định;
- Tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước 01 (một) điện thoại di động Oppo Reno 5.
(Theo Biên bản giao nhận vật chứng ngày 11/09/2023 tại Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Tân Uyên, tỉnh Bình Dương).
3. Về án phí sơ thẩm: Căn cứ Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Buộc bị cáo Phan Đức D phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
4. Về quyền kháng cáo: bị cáo; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án có mặt tại phiên toà được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Nếu vắng mặt được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày niêm yết công khai./.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Bình Dương (01); - VKSND tỉnh Bình Dương (01); - PV06, Công an tỉnh Bình Dương (01); - Sở Tư pháp tỉnh Bình Dương (01); - VKSND thành phố Tân Uyên (01); - Công an thành phố Tân Uyên (01); - Chi cục THADS thành phố Tân Uyên (01); - Bị cáo (01); - Người tham gia tố tụng (02); - Lưu: VT, HS (02). | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Võ Thị Lê |