- Tranh chấp gì? án hình sự — "Lê L - phạm tội chế tạo, tàng trữ, vận chuyển, sử dụng, mua bán trái phép hoặc chiếm đoạt vũ khí quân dụng, phương tiện kỹ thuật quân sự (đi…"
- Tòa quyết gì? 1/ Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Lê L; giữ nguyên phần hình phạt của Bản án hình sự sơ thẩm số 15/2022/HS-ST ngày 19/4/2022 của Tòa án nhân dân tỉnh Phú Yên.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 304 Bộ luật Hình sự
| TẠI ĐÀ NẴNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 243/2022/HS-PT Ngày: 06-7-2022 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI ĐÀ NẴNG
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Tấn Trường
Các thẩm phán:
Ông Vũ Thanh Liêm
Ông Phạm Tồn
- Thư ký phiên tòa: Ông Phạm Văn Phong, Thẩm tra viên Tòa án nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Chiến, Kiểm sát viên.
Ngày 06 tháng 7 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng, xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 219/2022/TLPT-HS ngày 01 tháng 6 năm 2022 đối với bị cáo Lê L về tội “Tàng trữ, mua bán trái phép vũ khí quân dụng; làm giả tài liệu của cơ quan, tổ chức; sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức”. Do có kháng cáo của bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 15/2022/HSST ngày 19/4/2022 của Tòa án nhân dân tỉnh Phú Yên.
Bị cáo có kháng cáo:
Lê L (Tên gọi khác: La), sinh năm 1994; tại tỉnh Phú Yên. Nơi cư trú: Thôn 2, xã X, thị xã S, tỉnh Phú Yên; giới tính: Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; quốc tịch Việt Nam; nghề nghiệp: Thợ điện; trình độ văn hóa (học vấn): 12/12; con ông Lê Văn T, sinh năm 1968 và bà Phan Thị C, sinh năm 1968; có vợ Phan Thị Kim L, sinh năm 1995 và 02 con, lớn sinh năm 2016, nhỏ sinh năm 2019; tiền án, tiền sự: Không; nhân thân: Ngày 16/5/2010 bị Tòa án nhân dân tỉnh Bình Định phạt 03 năm tù về tội “Cướp tài sản”; tạm giữ, tạm giam từ ngày 17/6/2021 đến ngày 13/11/2021 thay đổi biện pháp ngăn chặn cho bảo lĩnh;
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Qua các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và quá trình xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng cuối 2019, do có ý định mua vỏ đạn về làm đồ trang trí nên Phạm Sơn T1 sử dụng tài khoản Facebook truy cập vào nhóm “Kỷ vật chiến tranh” đăng thông tin cần mua đạn thì một đối tượng (không rõ nhân thân, lai lịch) nhắn tin qua ứng dụng Messenger đề nghị bán đạn và súng Carbine cho T1 với giá 10.000.000 đồng, T1 đồng ý. Sau đó, T1 đến Bưu điện thành phố Biên Hòa sử dụng thông tin cá nhân giả gửi 10.000.000 đồng cho đối tương trên. Khoảng 02 ngày sau, T1 đến bến xe Biên Hòa nhận 01 thùng hàng bên trong có 01 khẩu súng Carbine và 01 thùng đạn chứa 01 hộp tiếp đạn, 272 viên đạn, 24 vỏ đạn. T1 đem khẩu súng Carbine và thùng đạn cất giấu tại nhà của T1 ở 57/20/4 khu phố 5, phường Trung Dũng, thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai.
Đầu tháng 6/2021, một người tên Hiền (không rõ nhân thân, lai lịch) gọi điện thoại cho Lê L hỏi mua một khẩu súng Carbine, L đồng ý. Sau đó. L sử dụng Facebook truy cập vào nhóm Pacebook “Đam mê súng săn PCP” đăng bài cần mua súng Carbine, lúc này một tài khoản Facebook tên “Lãng Khách” (không rõ nhân thân, lai lịch) hướng dẫn L kết bạn với T1 qua tài khoản Telegram.
Qua trao đổi trên Telegram, T1 thống nhất bán cho L khẩu súng Carbine mà T1 đã mua trước đó với giá 33.000.000 đồng. Sau khi có được nguồn hàng, L điện thoại thông báo cho Hiền biết giá một khẩu súng Carbine là 35.000.000 đồng và yêu cầu Hiền trả tiền trước. Ngày 14/6/2021, Lê L gặp Hiền tại quán cà phê MC thuộc xã X, thị xã S, tỉnh Phú Yên nhận số tiền 35.000.000 đồng. L đến ngân hàng Agribank chi nhánh S chuyển 33.000.000 đồng vào số tài khoản 0481000719246 do Vũ Trần Thụy Vy (là vợ của T1) đứng tên chủ tài khoản rồi L gọi điện cho T1 yêu cầu gửi súng đến bến xe Quy Nhơn. Trưa ngày 16/6/2021, L đến bến xe Quy Nhơn, Bình Định nhận súng Carbine đem về nhà cất giấu ở tủ quần áo trong phòng ngủ của vợ chồng L. Khoảng 12 giờ 40 phút ngày 17/6/2021, L và Hiền gọi điện hẹn địa điểm giao súng rồi L sử dụng xe AirBiade biển kiểm soát 77G1-581.43 đem theo khẩu súng Carbine được bọc trong bao tải đến quán cà phê MC để giao cho Hiền thì bị bắt quả tang.
Trước đó, khoảng đầu tháng 10/2020, L sợ Công an phát hiện việc L mua bán súng và linh kiện súng nên sử dụng Facebook truy cập vào nhóm “Hội mua bán xe không giấy tờ” đăng bài cần mua một chứng minh nhân dân (CMND) giả. Một đối tượng (không rõ nhân thân, lai lịch) liên lạc với L thỏa thuận việc làm giả giấy CMND bằng cách dán hình thẻ của L vào giấy CMND có thông tin người khác với giá 200.000 đồng. L đồng ý và chụp hình thẻ của L, gửi cho đối tượng trên. Khoảng 01 tuần sau, L nhận được 01 kiện hàng bên trong là một CMND tên Từ Châu Nhật trú tại Hòa Mỹ, Xuân Cảnh, thị xã S, tỉnh Phú Yên. Sau đó L đến ngân hàng Sacombank tại thành phố Quy Nhơn, tỉnh Bình Định đăng ký mở tài khoản Ngân hàng bằng giấy CMND giả và được ngân hàng cấp cho một thẻ ATM Sacombank tên Từ Châu Nhật.
Từ cuối năm 2020 đến tháng 6/2021, L đã sử dụng CMND giả và tài khoản ngân hàng Sacombank để đăng ký sử dụng tài khoản giao hàng tại Công ty cổ phần Giao hàng tiết kiệm và Công ty Giao hàng nhanh Thuận Phong vào việc gửi, giao nhận tiền mua bán các linh kiện súng như: quy lát, cò quy, nòng súng, ống giảm thanh... cho Nguyễn Thanh Dũng, Nguyễn Đức, Cơ Lâu Bhia, Nguyễn Văn Chinh, Nguyễn Văn Công, Lê Xuân Đại, Nguyễn Duy Thành, Nguyễn Trung Kiên và 07 đối tượng khác ở các tỉnh, thành trên cả nước thu được tổng số tiền 70.405.000 đồng.
Tại Kết luận giám định số 186/GĐ-PC09 ngày 22/6/2021 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Phú Yên kết luận khẩu súng thu giữ của Lê L là khẩu súng quân dụng, loại súng trường có hiệu “U.S.CARBINE”, số súng “1307370” do Mỹ sản xuất.
Tại Kết luận giám định số 315/GĐ-PC09 ngày 05/11/2021 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Phú Yên kết luận đối với 01 hộp tiếp đạn, 272 viên đạn, 24 vỏ đạn thu giữ của Phạm Sơn T1, trong đó 254 viên đạn là vũ khí quân dụng, 18 viên đạn không phải là vũ khí quân dụng; 24 vỏ đạn là vỏ đạn của loại đạn quân dụng; hộp tiếp đạn dùng cho súng hiệu “CARBINE” sử dụng được bình thường.
Tại Kết luận giám định số 204/GĐ-PC09 ngày 13/7/2021 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Phú Yên kết luận: Giấy chứng minh nhân dân số 221339540 tên Từ Châu Nhật thu giữ của Lê L là giả, đã bị thay thế ảnh thẻ gốc của Giấy chứng minh nhân dân.
Tại B n án h nh s sơ thẩm s 15/2022/HSST ngày 19/4/2022 của Tòa án nhân dân tỉnh Phú Yên đ uy t đ nh:
Tuyên bố: Bị cáo bị cáo Phạm Sơn T1 phạm tội “Tàng trữ, mua bán phép vũ khí quân dụng”; bị cáo Lê L phạm tội “Tàng trữ, mua bán trái phép vũ khí quân dụng” và “Làm giả tài liệu của cơ quan, tổ chức; sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức”.
Áp dụng khoản 1 Điều 304; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự; phạt bị cáo Phạm Sơn T1 02 (Hai) năm 06 (Sáu) tháng tù về tội “Tàng trữ, mua bán trái phép vũ khí quân dụng”, thời hạn tù tính từ ngày 11/10/2021.
Áp dụng khoản 1 Điều 304; khoản 1 Điều 341; điểm s, khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 55 Bộ luật Hình sự; phạt bị cáo Lê L 01 (Một) năm 03 (Ba) tháng tù về tội “Tàng trữ, mua bán trái phép vũ khí quân dụng”; 09 (Chín) tháng tù về tội “Làm giả tài liệu của cơ quan, tổ chức; sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức”. Tổng hợp hình phạt, buộc bị cáo Lê L phải chấp hành hình phạt chung của 02 tội là 02 (Hai) năm tù, thời hạn từ tính từ ngày bắt bị cáo thi hành án, nhưng được trừ thời gian đã tạm giữ, tạm giam từ ngày 17/6/2021 đến 13/11/2021.
Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn quyết định về phần xử lý vật chứng, án phí và quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Ngày 26 và 29/4/2022 bị cáo kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt và xin được hưởng án treo.
Tại phiên tòa phúc thẩm:
Bị cáo Lê L vẫn giữ nguyên nội dung kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt và xin được hưởng án treo.
Đại diện Viện kiểm sát nhân cấp cao tại Đà Nẵng phát biểu quan điểm về vụ án cho rằng: về tố tụng, HĐXX tuân thủ đúng các quy định của pháp luật, về nội dung, căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, đã có đủ căn cứ xác định Tòa án cấp sơ thẩm xét xử các bị cáo là đúng người đúng tội. Tại phiên tòa hôm nay bị cáo Lê L vẫn giữ nội dung kháng cáo nhưng không cung cấp được tình tiết giảm nhẹ nào mới, nên không có cơ sở xem xét chấp nhận kháng cáo giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo Lê L đã thừa nhận toàn bộ hành vi mà bị cáo đã thực hiện đúng như bản án sơ thẩm đã nêu. Lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai tại phiên tòa sơ thẩm và các tài liệu, chứng cứ đã được Cơ quan cảnh sát điều tra thu thập. Như vậy, có đủ cơ sở kết luận: Chỉ vì động cơ vụ L, mà ngày 14/6/2021 bị cáo L đã mua lại cây súng Carbine của bị cáo Phạm Sơn T1 với giá 33.000.000đ rồi bán lại cho người tên Hiền với giá 35.000.000đ tại quán cà phê MC thuộc xã X, thị xã S, tỉnh Phú Yên vào lúc 12h40 ngày 17/6/2021. Ngoài ra vào tháng 10 năm 2020 đến tháng 6 năm 2021 bị cáo L còn làm giả Chứng minh nhân dân với tên Từ Châu Nhật để mở tài khoản tại Ngân hàng giao dịch mua bán nhiều lần vũ khí trái phép với 7 đối tượng với số tiền 70.405.000đ. Vì vậy, tòa án cấp sơ thẩm áp dụng các tình tiết giảm nhẹ tại điểm s, khoản 1, khoản 2 Điều 51; khoản 1 Điều 304 về tội “Tàng trữ, mua bán trái phép vũ khí quân dụng” có khung hình phạt tù từ 01 năm đến 07 năm xử phạt bị cáo Lê L 01 năm 03 tháng tù; áp dụng khoản 1 Điều 341 về tội “Làm giả tài liệu của cơ quan, tổ chức; sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức” có khung hình phạt tù từ 06 tháng đến 02 năm xử phạt bị cáo Lê L 09 tháng tù. Tổng hợp hình phạt, buộc bị cáo Lê L phải chấp hành hình phạt chung của 02 tội là 02 năm tù là không nặng.
Xét kháng cáo của bị cáo Lê L xin giảm nhẹ hình phạt và xin được hưởng án treo; HĐXX thấy rằng: Bị cáo Lê L đã tốt nghiệp cấp ba, có nhận thức về việc vũ khí quân dụng, vật liệu nổ; đây là loại tài sản đặc biệt được trang bị cho lực lượng vũ trang nhân dân và các lực lượng khác theo quy định của Luật để thi hành công vụ, nhưng vì động cơ vụ lợi mà bị cáo bất chấp luật pháp để thực hiện hành vi phạm tội. Bị cáo có nhân thân xấu, đã từng phạm tội cướp tài sản bị phạt tù 03 năm, nhưng không lấy đó làm bài học ăn năn hối lỗi, mà lần này lại thực hiện cùng lúc nhiều hành vi phạm tội, nên không thể cho bị cáo hưởng án treo. Tại phiên tòa hôm nay, bị cáo kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt, nhưng không xuất trình được tình tiết giảm nhẹ nào mới mà chưa được xem xét. Do vậy, HĐXX không chấp nhận kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo; chấp nhận đề nghị của Kiểm sát viên, giữ nguyên hình phạt đối với bị cáo Lê L.
Về án phí: Kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo Lê L không được chấp nhận, nên bị cáo phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355, Điều 357 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.
1/ Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Lê L; giữ nguyên phần hình phạt của Bản án hình sự sơ thẩm số 15/2022/HS-ST ngày 19/4/2022 của Tòa án nhân dân tỉnh Phú Yên.
Tuyên bố: Bị cáo bị cáo Lê L phạm tội “Tàng trữ, mua bán trái phép vũ khí quân dụng” và “Làm giả tài liệu của cơ quan, tổ chức; sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức”.
Áp dụng khoản 1 Điều 304; khoản 1 Điều 341; điểm s, khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 55 Bộ luật Hình sự; phạt bị cáo Lê L 01 (Một) năm 03 (Ba) tháng tù về tội “Tàng trữ, mua bán trái phép vũ khí quân dụng”; 09 (Chín) tháng tù về tội “Làm giả tài liệu của cơ quan, tổ chức; sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức”. Tổng hợp hình phạt, buộc bị cáo Lê L phải chấp hành hình phạt chung của 02 tội là 02 (Hai) năm tù, thời hạn từ tính từ ngày bắt bị cáo thi hành án, nhưng được trừ thời gian đã tạm giữ, tạm giam từ ngày 17/6/2021 đến 13/11/2021.
2/ Về án phí: Căn cứ Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội “Quy định về về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng áp phí và lệ phí Tòa án”.
Bị cáo Lê L phải chịu 200.000đ án phí hình sự phúc thẩm.
3/ Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án (06/7/2022).
| Nơi nhận: - TAND tối cao; - VKSNDCC tại Đà Nẵng; - TAND tỉnh Phú Yên; - Cơ quan THAHS Công an tỉnh Phú Yên; - Sở Tư pháp tỉnh Phú Yên; - Cục THADS tỉnh Phú Yên; - Bị cáo; Người tham gia tố tụng; - Lưu: HSVA, Phòng HCTP, lưu trữ. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Nguyễn Tấn Trường |