vanban.org

Bản án 243/2022/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên xử: Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của bà Lê Thị Yến N,

Về quan hệ hôn nhân: Bà Lê Thị Yến N được ly hôn với ông Nguyễn Quốc V. Giấy chứng nhận kết hôn số 101 do Ủy ban nhân dân xã Phước Hưng, huyện An Phú, tỉnh An Giang cấp ngày 01 tháng 11 năm 2018 cho ông Nguyễn Quốc V và bà Lê Thị Yến N không còn giá trị pháp lý kể từ ngày Bản án này có hiệu lực pháp… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "BA Nhi - Vũ"
  • Tòa quyết gì? Tuyên xử: Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của bà Lê Thị Yến N,
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 271 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN AN PHÚ

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH AN GIANG
Bản án số: 243/2022/HNGĐ-ST
Ngày: 08 - 06 - 2022
V/v “Tranh chấp hôn nhân và gia
đình, ly hôn, nuôi con chung”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN AN PHÚ, TỈNH AN GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Văn Sáu

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Võ Hoàng Nghiệp;

2. Ông Phan Phước Tân.

- Thư ký phiên tòa: Bà Võ Thị Chúc Phương – Thư ký Tòa án nhân dân huyện An Phú, tỉnh An Giang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện An Phú, tỉnh An Giang tham gia phiên tòa: Bà Lâm Thị Thanh Thúy – Kiểm sát viên.

Trong ngày 08 tháng 6 năm 2022 tại trụ sở Toà án nhân dân huyện An Phú, tỉnh An Giang mở phiên toà xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số 68/2022/TLST-HNGĐ, ngày 15 tháng 02 năm 2022 về việc “Tranh chấp hôn nhân và gia đình, ly hôn, nuôi con chung” theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 227/2022/QĐXXST-HNGĐ, ngày 28 tháng 4 năm 2022; Quyết định hoãn phiên tòa số 305/2022/QĐST-HNGĐ ngày 18 tháng 5 năm 2022, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Bà Lê Thị Yến N, sinh năm 1996; địa chỉ: Số nhà X, ấp P, xã PH, huyện An Phú, tỉnh An Giang.

- Bị đơn: Ông Nguyễn Quốc V, sinh năm 1996; địa chỉ: Số nhà Y, ấp P, xã PH, huyện An Phú, tỉnh An Giang.

Tại phiên tòa, bà N có mặt, ông V vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện, bản tự khai của nguyên đơn; các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Hôn nhân giữa bà Lê Thị Yến N và ông Nguyễn Quốc V là do tự tìm hiểu, có đăng ký kết hôn và được Ủy ban nhân dân xã Phước Hưng, huyện An Phú, tỉnh An Giang cấp Giấy chứng nhận kết hôn số 101 ngày 01 tháng 11 năm 2018. Nguyên nhân mâu thuẫn gia đình là do bất đồng quan điểm sống, ông V thường có hành vi bạo lực. Gia đình Nều lần khuyên can nhưng ông V vẫn không thay đổi. Bà N và ông V đã ly thân từ tháng 10 năm 2021. Nhận thấy đời sống hôn nhân không hạnh phúc, nên bà N xin ly hôn.

Về con chung: Trong thời kỳ hôn nhân, bà N và ông V có 01 (một) con chung tên Nguyễn Minh Đ, sinh ngày 17/06/2018. Cháu Đ hiện đang sống cùng bà N. Bà N có nguyện vọng được trực tiếp nuôi cháu Đ sau ly hôn và không yêu cầu ông V cấp dưỡng.

Về tài sản chung, nợ chung: Không yêu cầu giải quyết.

Tòa án đã triệu tập nhiều lần nhưng ông V đều vắng mặt không lý do và cũng không có văn bản trình bày ý kiến, nên không ghi nhận được ý kiến của ông V. Bà N có đơn yêu cầu không tiến hành hòa giải.

Tòa án tiến hành xác minh nơi cư trú, tình trạng hôn nhân:

Theo Biên bản xác minh nơi cư trú ngày 08/5/2022 thì ông Nguyễn Quốc V vẫn còn đăng ký hộ khẩu thường trú và sinh sống sống tại ấp P, xã PH, huyện An Phú, tỉnh An Giang.

Theo Biên bản xác minh ngày 18/4/2022 bà Nguyễn Thị Thanh T (mẹ bà N) cho biết, mâu thuẫn tình cảm giữa N và V xuất phát từ việc V ăn chơi, không quan tâm chăm lo cuộc sống gia đình. V Nều lần bị đưa đi cai nghiện, gia đình khuyên ngăn, tha thứ nhưng V không sửa đổi. Theo bà T, khả năng hàn gắn là không thể.

Tại phiên tòa, bà N giữ nguyên yêu cầu khởi kiện, xin được ly hôn với ông V và được trực tiếp nuôi dạy cháu Đ, không yêu cầu ông V cấp dưỡng.

Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát:

Về tố tụng: Tòa án thụ lý, xác định quan hệ tranh chấp, xác định tư cách đương sự, thu thập chứng cứ đảm bảo quy định của pháp luật tố tụng dân sự; thành phần Hội đồng xét xử không thuộc trường hợp phải thay đổi. Tiến hành xét xử vắng mặt đối với bị đơn là đúng quy định tại Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về nội dung: Theo trình bày của bà N; tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ, có căn cứ xác định, hôn nhân giữa bà N và ông V đã đến mức trầm trọng, đời sống hôn nhân không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, nên đề nghị chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của bà N. Về người trực tiếp nuôi con sau ly hôn, đề nghị chấp nhận theo yêu cầu của bà N, giao cháu Đ cho bà N trực tiếp nuôi dạy và công nhận sự tự nguyện không yêu cầu cấp dưỡng của bà N.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, quan điểm của đại diện Viện kiểm sát, Hội đồng xét xử nhận định:

Về tố tụng:

Về quan hệ tranh chấp, thẩm quyền giải quyết: Bà Lê Thị Yến N khởi kiện xin ly hôn với ông Nguyễn Quốc V và có nguyện vọng được trực tiếp nuôi con chung sau ly hôn. Xác định quan hệ tranh chấp “ly hôn, nuôi con chung”. Bị đơn ông Nguyễn Quốc V đăng ký hộ khẩu thường trú và hiện sinh sống tại ấp P, xã PH, huyện An Phú, tỉnh An Giang, nên vụ kiện thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện An Phú, tỉnh An Giang theo quy định tại các điều 28, 35, 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự và Điều 53 của Luật Hôn nhân và gia đình.

Về việc vắng mặt của đương sự: Tòa án đã tống đạt hợp lệ các Thông báo thụ lý, Thông báo hòa giải, Quyết định đưa vụ án ra xét xử, Quyết định hoãn phiên tòa nhưng ông Nguyễn Quốc V vắng mặt không lý do. Bà N có đơn yêu cầu không tiến hành hòa giải. Như vậy, ông V đã tự từ bỏ quyền tham gia tố tụng, Tòa án tiến hành xét xử mà không qua thủ tục hòa giải là phù hợp quy định tại Điều 207 Bô luật Tố tụng dân sự; xét xử vắng mặt đối với ông V là đúng quy định tại Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về nội dung vụ án:

Về quan hệ hôn nhân: Theo trình bày của bà N, kết quả xác minh được biết, nguyên nhân mâu thuẫn trong tình cảm giữa bà N và ông V là do bất đồng quan điểm sống, ông V thường có hành vi bạo lực, thiếu sự quan tâm chăm lo cuộc sống gia đình. Bà N và ông V đã ly thân từ tháng 10 năm 2021. Trong thời gian ly thân, cũng như trong thời gian Tòa án tiến hành giải quyết, ông V không có hành động thể hiện sự hàn gắn và không có ý kiến về việc bà N xin ly hôn. Từ đó cho thấy, mâu thuẫn tình cảm giữa bà N và ông V đã đến mức trầm trọng, đời sống hôn nhân không hạnh phúc, mục đích hôn nhân không đạt được, nên chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của bà Lê Thị Yến N là phù hợp quy định tại Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình.

Về con chung: Xét thấy cháu Nguyễn Minh Đ còn nhỏ, hiện đang được bà N nuôi dạy tốt. Bà N cũng có nguyện vọng được tiếp tục nuôi cháu Đ. Căn cứ Điều 81 Luật hôn nhân và gia đình, giao cháu Đ cho bà N trực tiếp nuôi dạy sẽ ổn định tâm lý, sự phát triển bình thường của cháu.

Công nhận sự tự nguyện của bà N về việc không yêu cầu ông Nguyễn Quốc V cấp dưỡng.

Về tài sản chung, nợ chung: Bà N xác định không có, không yêu cầu giải quyết, nên không xem xét giải quyết. Nếu ông V có căn cứ xác định có tài sản chung, nợ chung thì khởi kiện và sẽ được giải quyết trong một vụ án khác.

Về chi phí tố tụng:

Về án phí, bà Lê Thị Yến N là nguyên đơn nên phải chịu án phí hôn nhân sơ thẩm, ông Nguyễn Quốc V không phải chịu án phí.

Các đương sự không phải chịu các chi phí tố tụng khác.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ các điều 56, 81, 82, 83, 84 của Luật hôn nhân và gia đình;

Căn cứ các điều 147, 271, 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự;

Căn cứ điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội,

Tuyên xử: Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của bà Lê Thị Yến N,

1. Về quan hệ hôn nhân: Bà Lê Thị Yến N được ly hôn với ông Nguyễn Quốc V.

Giấy chứng nhận kết hôn số 101 do Ủy ban nhân dân xã Phước Hưng, huyện An Phú, tỉnh An Giang cấp ngày 01 tháng 11 năm 2018 cho ông Nguyễn Quốc V và bà Lê Thị Yến N không còn giá trị pháp lý kể từ ngày Bản án này có hiệu lực pháp luật.

2. Về con chung: Bà Lê Thị Yến N được trực tiếp nuôi dạy con chung tên Nguyễn Minh Đ, sinh ngày 17/06/2018.

Ông Nguyễn Quốc V không phải cấp dưỡng nuôi dạy con chung.

Ông Nguyễn Quốc V và các thành viên trong gia đình phải tôn trọng quyền được trực tiếp nuôi con của bà Lê Thị Yến N. Ngược lại, bà N và các thành viên trong gia đình phải tôn trọng quyền được thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung của ông V.

Vì lợi ích của con, theo yêu cầu của người thân thích của con, cơ quan có thẩm quyền, Toà án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con, buộc cấp dưỡng nuôi con chung theo quy định của pháp luật.

3. Về án phí: Bà Lê Thị Yến N phải chịu 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm, số tiền này được khấu trừ vào tiền tạm ứng án phí mà bà N đã nộp tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện An Phú theo Biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0006769 ngày 15/02/2022. (Bà N đã nộp đủ).

4. Về quyền kháng cáo: Án tuyên công khai có mặt bà Lê Thị Yến N. Thời hạn kháng cáo của bà N là 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Thời hạn kháng cáo của ông Nguyễn Quốc V là 15 ngày kể từ ngày Bản án được tống đạt hợp lệ theo quy định.

Cỡ chữ