vanban.org

Bản án 243/2019/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên xử: Chấp nhận toàn bộ đơn khởi kiện của chị Ngô Thị Cẩm T.

Về hôn nhân: Cho chị Ngô Thị Cẩm T được ly hôn với anh Đặng Văn P. Về con chung: Có 02 người là Đặng Hoài N, sinh ngày 16/8/2012 và Đặng Thị Bình Nh, sinh ngày 04/11/2014. Giao cháu Đặng Thị Bình Nh cho chị Ngô Thị Cẩm T được trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, quản lý và giao cháu Đặng Hoài N cho anh … Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ngô Thị Cẩm T"
  • Tòa quyết gì? Tuyên xử: Chấp nhận toàn bộ đơn khởi kiện của chị Ngô Thị Cẩm T.
  • Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN PHÙ MỸ

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH BÌNH ĐỊNH
Bản án số: 243/2019/HNGĐ-ST
Ngày 16-10-2019
V/v: Ly hôn, tranh chấp nuôi con
khi ly hôn.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÙ MỸ, TỈNH BÌNH ĐỊNH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Quốc Truyền.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Nguyễn Lộc;

2. Ông Lê Tiến Dũng.

- Thư ký phiên tòa: Ông Võ Bá Tùng là Thư ký Tòa án nhân dân huyện Phù Mỹ, tỉnh Bình Định.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phù Mỹ, tỉnh Bình Định tham gia phiên toà: Ông Đinh Quốc Vương - Kiểm sát viên.

Ngày 16 tháng 10 năm 2019 tại Tòa án nhân dân huyện Phù Mỹ, tỉnh Bình Định xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 140/2019/TLST-HNGĐ ngày 26 tháng 6 năm 2019 về tranh chấp “Ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 1422/2019/QĐXXST-HNGĐ ngày 30 tháng 9 năm 2019; giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Chị Ngô Thị Cẩm T, sinh năm: 1988; địa chỉ: Thôn VTr, xã MP, huyện PM, tỉnh BĐ. (có mặt).

2. Bị đơn: Anh Đặng Văn P, sinh năm: 1978; địa chỉ: Thôn VTr, xã MP, huyện PM, tỉnh BĐ. (vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

- Tại đơn khởi kiện đề ngày 19/6/2019, trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên toà nguyên đơn chị Ngô Thị Cẩm T trình bày:

+ Về hôn nhân: Chị Ngô Thị Cẩm T và anh Đặng Văn P kết hôn tự nguyện và đăng ký kết hôn tại UBND xã MP, huyện PM ngày 08/11/2008. Sau khi kết hôn vợ chồng sống hạnh phúc đến năm 2016 thì xảy ra mâu thuẫn. Nguyên nhân chính dẫn đến mâu thuẫn của vợ chồng là do anh P không chí thú làm ăn, sống không có trách nhiệm với gia đình, nhiều lần có hành vi bạo lực đối với chị T và hiện tại vợ chồng không còn chung sống. Chị Ngô Thị Cẩm T nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn, mâu thuẫn của vợ chồng không còn khả năng hàn gắn, mục đích hôn nhân không đạt được nên yêu cầu được ly hôn với anh Đặng Văn P.

+ Về con chung: Có 02 người là Đặng Hoài N, sinh ngày 16/8/2012 và Đặng Thị Bình Nh, sinh ngày 04/11/2014. Khi ly hôn chị Ngô Thị Cẩm T yêu cầu được chăm sóc, nuôi dưỡng cháu Đặng Thị Bình Nh và giao cháu Đặng Hoài N cho anh Đặng Văn P chăm sóc, nuôi dưỡng. Hai bên không ai phải cấp dưỡng nuôi con.

+ Về tài sản chung: Hai bên tự giải quyết, nên khi ly hôn không yêu cầu Tòa án giải quyết.

- Tại Biên bản lấy lời khai của đương sự lập ngày 01/7/2019, bị đơn anh Đặng Văn P trình bày:

+ Về thời gian, điều kiện kết hôn anh Đặng Văn P thống nhất như lời trình bày của chị Ngô Thị Cẩm T. Nguyên nhân chính dẫn đến mâu thuẫn của vợ chồng là do làm ăn kinh tế thường xuyên thất bại, nên vợ chồng thường xuyên xảy ra mâu thuẫn và vợ chồng không chung sống với nhau từ tháng 6/2018 cho đến nay. Anh Đặng Văn P nhận thấy tình cảm vợ chồng vẫn còn, mâu thuẫn của vợ chồng còn khả năng hàn gắn, nên không đồng ý ly hôn với chị Ngô Thị Cẩm T.

+ Về con chung: Có 02 người là Đặng Hoài N, sinh ngày 16/8/2012 và Đặng Thị Bình Nh, sinh ngày 04/11/2014. Nếu Toà án giải quyết ly hôn thì anh Đặng Văn P yêu cầu được chăm sóc, nuôi dưỡng cháu N và chị Ngô Thị Cẩm T được chăm sóc, nuôi dưỡng cháu Nh. Hai bên không ai phải cấp dưỡng nuôi con.

+ Về tài sản chung: Hai bên tự giải quyết, nên khi ly hôn không yêu cầu Tòa án giải quyết.

- Tại phiên tòa hôm nay: Chị Ngô Thị Cẩm T giữ nguyên yêu cầu khởi kiện ban đầu.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phù Mỹ, tỉnh Bình Định phát biểu quan điểm về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký Tòa án kể từ khi thụ lý vụ cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án là đúng quy định của pháp luật; việc chấp hành pháp luật của đương sự kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án đối với nguyên đơn thực hiện đúng quy định tại các Điều 70, 71 Bộ luật tố tụng Dân sự. Tuy nhiên, bị đơn anh Đặng Văn P được Tòa án triệu tập hợp lệ đến lần thứ 02 nhưng vắng mặt không có lý do, nên Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn là đúng quy định của pháp luật.

Ý kiến quan điểm của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phù Mỹ, tỉnh Bình Định về việc giải quyết vụ án:

- Về quan hệ pháp luật và thẩm quyền giải quyết vụ án: Đây là quan hệ tranh chấp “Ly hôn” thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Phù Mỹ, tỉnh Bình Định theo quy định của Khoản 1 Điều 28, điểm a Khoản 1 Điều 35 Bộ luật tố tụng dân sự.

- Về hôn nhân: Căn cứ Điều 51, 56 Luật Hôn nhân và gia đình, chấp nhận cho chị Ngô Thị Cẩm T được ly hôn với anh Đặng Văn P.

- Về con chung: Căn cứ Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình, giao cháu Nh cho chị Ngô Thị Cẩm T được trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giao cháu N cho anh P được trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng. Đối với việc cấp dưỡng nuôi con: Do chị T, anh P đều không yêu cầu, nên không xem xét.

- Về tài sản chung: Chị Ngô Thị Cẩm T và anh Đặng Văn P đều không yêu cầu, nên không xem xét.

- Về án phí sơ thẩm: Căn cứ Khoản 4 Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự; điểm a Khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy Ban Thường vụ Quốc Hội. Buộc chị Ngô Thị Cẩm T phải chịu 300.000 đồng án phí Hôn nhân sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ kết quả tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:

Về tố tụng:

- Về sự vắng mặt của đương sự: Bị đơn anh Đặng Văn P được triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vắng mặt không có lý do. Do đó, căn cứ điểm b Khoản 2 Điều 227 của Bộ luật Tố tụng Dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt đối với anh Đặng Văn P.

- Về quan hệ pháp luật tranh chấp và thẩm quyền giải quyết vụ án: Đây là vu ̣ kiện “Ly hôn” và người bị kiện cư trú tại huyện Phù Mỹ, tỉnh Bình Định. Do đó, căn cứ Khoản 1 Điều 28, điểm a Khoản 1 Điều 35 Bộ luật tố tụng dân sự thì vu ̣ kiện thuô ̣c thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Phù Mỹ, tỉnh Bình Định.

Về hôn nhân: Chị Ngô Thị Cẩm T và anh Đặng Văn P kết hôn tự nguyện và đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã MP, huyện PM, tỉnh BĐ ngày 08/11/2008 là phù hợp với Giấy chứng nhận kết hôn số: 58, quyển số 01 của UBND xã MP, huyện Phù Mỹ cấp cho Đặng Văn P và Ngô Thị Cẩm T ngày 08/11/2008. Nên hôn nhân giữa chị Ngô Thị Cẩm T và Đặng Văn P là hợp pháp, được pháp luật bảo vệ.

Chị Ngô Thị Cẩm T cho rằng trong thời gian chung sống vợ chồng thường xuyên xảy ra mâu thuẫn không thể khắc phục được. Nguyên nhân chính là do anh P không chí thú làm ăn, không quan tâm đến gia đình, có hành vi bạo lực đối với chị T; hiện tại vợ chồng không chung sống với nhau. Chị Ngô Thị Cẩm T nhận thấy mâu thuẫn vợ chồng không còn khả năng hàn gắn, mục đích hôn nhân không đạt được, nên yêu cầu được ly hôn với anh Đặng Văn P.

Anh Đặng Văn P thừa nhận vợ chồng thường xuyên xảy ra mâu thuẫn, nhưng nguyên nhân chính xuất phát từ kinh tế gia đình và vợ chồng không còn chung sống với nhau. Anh Đặng Văn P cho rằng tình cảm vợ chồng vẫn còn, mâu thuẫn của vợ chồng còn khả năng hàn gắn, nên yêu cầu được đoàn tụ.

Xét hôn nhân giữa chị Ngô Thị Cẩm T và anh Đặng Văn P đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, nếu có duy trì cũng không đem lại kết quả; bỡi vì: Trong thời hạn chuẩn bị xét xử Toà án đã 02 lần thông báo chị T và anh P đến Toà án để hoà giải nhưng cả 02 lần anh P đều vắng mặt. Điều này chứng tỏ anh P bỏ mặt hậu quả mâu thuẫn của vợ chồng, không có biện pháp khắc phục mâu thuẫn. Qua xác minh mâu thuẫn của vợ chồng tại địa phương xác định vợ chồng của chị T, anh P có mâu thuẫn và không còn chung sống với nhau. Do đó, chấp nhận cho chị Ngô Thị Cẩm T được ly hôn với anh Đặng Văn P là có căn cứ, phù hợp với quy định tại Điều 51, Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình.

Về con chung: Có 02 người là Đặng Hoài N, sinh ngày 16/8/2012 và Đặng Thị Bình Nh, sinh ngày 04/11/2014. Lời trình bày của chị T và anh P phù hợp với Trích lục khai sinh số: 46/TLKS-BS ngày 04/7/2017 của UBND xã MP, huyện Phù Mỹ, tỉnh Bình Định cấp cho Đặng Hoài N, sinh ngày 16/8/2012 và Giấy khai sinh số: 185/2014, quyển số: 01/2014 ngày 24/12/2014 của UBND xã MP, huyện Phù Mỹ, tỉnh Bình Định cấp cho Đặng Thị Bình Nh, sinh ngày 04/11/2014.

Chị Ngô Thị Cẩm T và anh Đặng Văn P thoả thuận thống nhất: Giao cháu N cho anh P được trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giao cháu Nh cho chị T được trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng.

Việc thoả thuận giữa chị Ngô Thị Cẩm T và anh Đặng Văn P là hoàn toàn tự nguyện không trái với đạo đức xã hội, phù hợp với nguyện vọng của cháu Nam và phù hợp với quy định tại Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình, nên được chấp nhận là giao cháu Nh cho chị T được trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giao cháu Nam cho anh Phong được trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng.

Đối với việc cấp dưỡng nuôi con: Do chị Ngô Thị Cẩm T và anh Đặng Văn P đều không yêu cầu, nên không xem xét.

Về tài sản chung: Chị Ngô Thị Cẩm T và anh Đặng Văn P thống nhất tự giải quyết và không yêu cầu Toà án giải quyết, nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Về án phí dân sự sơ thẩm: Căn cứ điểm a Khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy Ban Thường vụ Quốc hội, chị Ngô Thị Cẩm T phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào Khoản 1 Điều 28, điểm a Khoản 1 Điều 35, điểm b Khoản 2 Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự; các Điều 51, 56, 81, 82, 83, 84 Luật Hôn nhân và gia đình; điểm a Khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy Ban Thường vụ Quốc Hội.

Tuyên xử: Chấp nhận toàn bộ đơn khởi kiện của chị Ngô Thị Cẩm T.

1. Về hôn nhân: Cho chị Ngô Thị Cẩm T được ly hôn với anh Đặng Văn P.

2. Về con chung: Có 02 người là Đặng Hoài N, sinh ngày 16/8/2012 và Đặng Thị Bình Nh, sinh ngày 04/11/2014. Giao cháu Đặng Thị Bình Nh cho chị Ngô Thị Cẩm T được trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, quản lý và giao cháu Đặng Hoài N cho anh Đặng Văn P được trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, quản lý.

Chị Ngô Thị Cẩm T và anh Đặng Văn P không ai phải cấp dưỡng nuôi con.

Anh P và chị T có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở; nhưng anh P, chị T không được lạm dụng việc thăm nom con để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con của chị T, anh P. Khi cần thiết chị T, anh P có quyền yêu cầu Tòa án thay đổi người trực tiếp nuôi con, mức cấp dưỡng và phương thức cấp dưỡng nuôi con.

3. Về tài sản chung: Chị Ngô Thị Cẩm T và anh Đặng Văn P thống nhất tự giải quyết và không yêu cầu Tòa án giải quyết. Do đó, Hội đồng xét xử không xem xét.

4. Về án phí dân sự sơ thẩm: Chị Ngô Thị Cẩm T phải chi ̣u 300.000 đồng (Ba trăm nghin đồng) án phi sơ thẩm, nhưng được trừ vào số tiền ta ̣m ứ ng án phi

̀

́

́ dân sự sơ thẩm chị T đa nô ̣̃ p là 300.000 đồng theo biên lai số 0000839 ngày 26 tháng 6 năm 2019 của Chi cu ̣c thi hành án dân sự huyện Phù Mỹ, tỉnh Bình Định.

5. Về quyền kháng cáo: Chị Ngô Thị Cẩm Tú có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Anh Đặng Văn Phong có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết hợp lệ./.

Cỡ chữ