- Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Hoàng K phạm tội "Tổ chức đánh bạc" - phạm tội tổ chức đánh bạc hoặc gá bạc (điều 249 Bộ luật hình sự năm 1999)"
- Tòa quyết gì? Không chấp nhận Kháng nghị số 16/KN-VKS-P2 ngày 02/06/2017 của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh.
- Căn cứ chính? Điều 46 Bộ luật Hình sự; Điều 355 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 248 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 243/2018/HS-PT Ngày 23 - 04 - 2018 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Thu Thủy;
Các thẩm phán:
Ông Đặng Quốc Khởi;
Ông Phạm Trung Tuấn.
- Thư ký ghi biên bản phiên toà: Ông Nguyễn Tấn Duy Minh, Thư ký Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên toà: Ông Phạm Văn Nhàn, Kiểm sát viên.
Trong ngày 23 tháng 04 năm 2018, tại trụ sở Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh mở phiên tòa công khai xét xử phúc thẩm vụ án hình sự thụ lý số 335/2017/HSPT-TL ngày 06 tháng 7 năm 2017 đối với bị cáo Nguyễn Hoàng K và các bị cáo khác phạm tội “Đánh bạc”, “Tổ chức đánh bạc”, do có kháng cáo của các bị cáo và kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 179/2017/HSST ngày 24/5/2017 của Tòa án nhân dân thành phố Hồ Chí Minh.
Các bị cáo có kháng cáo, bị kháng nghị:
1. Nguyễn Hoàng K; giới tính: nam; sinh năm: 1972 tại: Thành phố Hồ Chí Minh; thường trú: đường Ph, Phường X, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh; trình độ học vấn: 01/12; nghề nghiệp: không; con ông Nguyễn Văn H và bà Huỳnh Thị Ng (chết)
Nguyễn Thị L và 01 con (sinh năm: 2005); tiền án: không; tiền sự: ngày 22/7/2013, Công an Phường X, quận B xử phạt hành chính về hành vi “Gây rối trật tự công cộng, xâm hại đến sức khỏe, tính mạng của người khác” với số tiền 1.650.000 đồng; nhân thân: ngày 29/01/1991 Tòa án nhân dân quận B tuyên phạt 09 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản xã hội chủ nghĩa” theo Bản án số 11/HS; ngày 15/01/1993 Tòa án phúc thẩm Tòa án nhân dân Tối cao tại Thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 08 năm tù về tội “Cướp tài sản công dân” theo Bản án số 27/HSPT; ngày 21/5/2007 Tòa án phúc thẩm Tòa án nhân dân Tối cao tại Thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 03 năm tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo Bản án số 623/2007/HSPT (hoãn thi hành án), ngày 25/8/2011 có quyết định đặc xá miễn chấp hành án.
Tạm giữ, tạm giam ngày: 09/5/2015 (có mặt).
2. Lê Quốc C; giới tính: nam; sinh năm: 1982 tại: Thành phố Hồ Chí Minh; thường trú: đường Đ, Phường X1, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh; chỗ ở: 207/47A Bạch Đằng, Phường 15, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh; trình độ học vấn: 7/12; nghề nghiệp: không; con ông Lê Quốc Phong và bà Nguyễn Ngọc Lan; hoàn cảnh gia đình: có vợ là bà Nguyễn Đỗ Thu Thảo và 01 con (sinh năm 2011); tiền án, tiền sự: không.
Tạm giữ, tạm giam ngày: 09/5/2015 (có mặt).
3. Trần Trọng Th; giới tính: nam; sinh năm: 1972 tại: Thành phố Hồ Chí Minh; thường trú: 66/26 đường 45, Phường 14, quận G, Thành phố Hồ Chí Minh; trình độ học vấn: 10/12; nghề nghiệp: không; con ông Trần Văn Thùy (chết) và bà Nguyễn Thị Dung (chết)
, con; tiền án, tiền sự: không; nhân thân: ngày 13/4/1993 Tòa án nhân dân Quận 3 xử phạt 6 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản của công dân” theo Bản án số 46/HS-ST; ngày 18/7/2000 Tòa án nhân dân Quận 3 xử phạt 30 tháng tù về tội hai tội “Trộm cắp tài sản của công dân” và “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản của công dân” theo Bản án số 130/HS-ST; ngày 22/12/2005 Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 08 năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo Bản án số 1817/2005/HSST.
Tạm giữ, tạm giam ngày từ 09/5/2015 đến ngày 9/11/2017 được trả tự do (có mặt).
4. Lê Thanh T; giới tính: nam; sinh năm: 1991 tại: Thành phố Hồ Chí Minh; thường trú: 348/50 Ph, Phường X, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh; chỗ ở: 346/19/10 Ph, Phường X, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh; trình độ học vấn: 4/12; nghề nghiệp: không; con ông Lê Văn Tám và bà Nguyễn Thị Hoàng; hoàn cảnh gia đình: chưa có vợ, con; tiền án, tiền sự: không.
Tạm giữ, tạm giam ngày từ 09/5/2015 đến ngày 9/11/2017 được trả tự do (có mặt).
5. Nguyễn Hữu D; giới tính: nam; sinh năm: 1972 tại: Thành phố Hồ Chí Minh; thường trú: 125/101/16 Đ, Phường X1, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh; trình độ học vấn: 0/12; nghề nghiệp: thợ hồ; con ông Nguyễn Văn V (chết) và bà Nguyễn Thị Minh Ch; hoàn cảnh gia đình: có vợ là bà Lê Thị L1 (đã ly dị) và 02 con (con lớn sinh năm 1992, con nhỏ sinh năm 1993); tiền án, tiền sự: không; nhân thân: năm 2012 Công an quận B xử phạt về hành vi đá gà với số tiền 1.500.000 đồng.
Tạm giữ, tạm giam ngày từ 09/5/2015 đến ngày 9/11/2017 được trả tự do (có mặt).
6. Nguyễn Văn Nh; giới tính: nam; sinh năm: 1979 tại: Thành phố Hồ Chí Minh; thường trú: đường Đ, Phường X1, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh; trình độ học vấn: 01/12; nghề nghiệp: không; con ông Nguyễn Văn L2 (chết) và bà Vọng Thị Kim L3; hoàn cảnh gia đình: chưa có vợ, con; tiền án, tiền sự: không.
Tạm giữ, tạm giam ngày từ 09/5/2015 đến ngày 9/11/2017 được trả tự do (có mặt).
7. Trần Chí S; giới tính: nam; sinh năm: 1978 tại: Thành phố Hồ Chí Minh; thường trú: đường C, Phường X2, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh; trình độ học vấn: 01/12; nghề nghiệp: phụ làm đồ điện; con ông Trần Văn M (chết) và bà Diệp Thị T1; hoàn cảnh gia đình: có vợ là bà Nguyễn Thị Diễm H1 và 02 con (con lớn sinh năm 2005, con nhỏ sinh năm 2012); tiền án, tiền sự: không;
Tạm giữ từ ngày 09/5/2015 đến ngày 11/5/2015 được trả tự do (có mặt).
8. Phùng Phương B; giới tính: nam; sinh năm: 1977 tại: Thành phố Hồ Chí Minh; thường trú: đường Ng, Phường X2, quận G, Thành phố Hồ Chí Minh; trình độ học vấn: 5/12; nghề nghiệp: không; con ông Phùng Cẩm H2 và bà Trần Thị Nh1; hoàn cảnh gia đình: có vợ là bà Phạm Thị Thanh L4 và 03 con (con lớn nhất sinh năm 1996, con nhỏ nhất sinh năm 2010); tiền án, tiền sự: không;
Tạm giữ từ ngày 09/5/2015 đến ngày 11/5/2015 được trả tự do (có mặt).
Người
Phùng Phương B và Nguyễn Hoàng K: Luật sư Đỗ Hải B1 - Văn phòng luật sư Q, thuộc Đoàn luật sư Thành phố Hồ Chí Minh (có mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Nguyễn Hoàng K là đối tượng có nhân thân xấu, không nghề nghiệp ổn định. Vào khoảng năm 2013, K dùng bãi đất trống tại hẻm Ph, phường X1, quận B tổ chức đánh bạc ăn tiền với hình thức xóc đĩa (tài xỉu) và đá gà. Để phục vụ cho tụ điểm tổ chức đánh bạc, K đã rủ rê những đối tượng có nhiều tiền án, tiền sự, không nghề nghiệp ổn định giúp K tổ chức các sòng bạc với các hình thức xóc đĩa, đá gà ăn tiền khác nhau như: Trần Văn L5 giúp tổ chức sòng đá gà; Lê Quốc C giúp tổ chức sòng xóc đĩa; ngoài còn có Trần Trọng Th giúp K giữ tiền xâu của các chủ gà và sau mỗi trận giao tiền cho K, thay mặt K trả tiền công cho các đối tượng giúp K tổ chức đánh bạc; Lê Thanh T, Nguyễn Thế T1, Nguyễn Văn H3, Bùi Ngọc Ch1, Nguyễn Hữu D (canh cửa, cảnh giới, giữ xe, kiểm tra con bạc vv..). K còn sử dụng 4 camera để theo dõi đối phó với Cơ quan Công an, kiểm tra đối tượng thay K tổ chức và theo dõi các con bạc tránh gian lận.
Vào lúc 15 giờ ngày 09/05/2015, Phòng Cảnh sát điều tra về trật tự xã hội – Công an Thành phố Hồ Chí Minh phối hợp với Công an quận B tiến hành kiểm tra tại bãi đất trống hẻm Ph, phường X1, quận B bắt quả tang đối tượng Nguyễn Hoàng K cùng các đồng phạm đang tổ chức cho các con bạc chơi đánh bạc ăn thua bằng tiền dưới hình thức xóc đĩa (tài xỉu) và đá gà, thu giữ tại hiện trường gồm:
- 31.000.000 đồng (ba mươi mốt triệu đồng) thu tại chiếu bạc.
- 3.000.000 đồng (ba triệu đồng) tiền xâu.
- 01 (một) bộ dụng cụ dùng để lắc tài xỉu.
- 03 (ba) hột xí ngầu.
- 01 (một) tấm ni-lon màu trắng có ghi chữ tài – xỉu.
- 04 (bốn) máy camera hiệu CABLE 5A.
- 01 (một) ổ ghi hình ảnh do 04 (bốn) camera ghi lại.
- 01 (một) TV hiệu Sony.
- 01 (một) Remote TV hiệu Sony.
- 02 (hai) mã tấu.
- 01 (một) cây kiếm Nhật.
- 35 (ba mươi lăm) viên đạn.
Kết quả điều tra đã xác định được:
01. Đối với hành vi của Nguyễn Hoàng K:
K giao công việc cho Trần Văn L5 điều hành công việc cụ thể đứng ra thu tiền xâu của các đối tượng làm cái tại sòng tài xỉu với giá 3.000.000 đồng/lượt 3 giờ. Hàng ngày, L5 thu tiền xâu từ việc tổ chức đá gà ăn tiền là từ 9.000.000 đồng đến 12.000.000 đồng của các con bạc tham gia cá độ, trung bình mỗi ngày L5 thu tiền xâu về cho K được từ khoảng 12.000.000 đồng đến 15.000.000 đồng. K giao hết cho L5 được toàn quyền quyết định việc thuê mướn những người phụ giúp việc tổ chức trường gà và sòng tài xỉu.
K tổ chức trường đá gà và sòng tài xỉu ăn tiền cho đến ngày 24/04/2015 thì không còn trực tiếp điều hành nữa mà giao lại cho L5 điều hành rồi thu tiền mang về cho K. Ngày 09/05/2015, K đang nằm chơi và theo dõi các hoạt động tại khu vực trường gà và sòng tài xỉu của mình thì Công an vào bắt giữ K. Trong quá trình điều tra, K không khai nhận hành vi phạm tội của bản thân do đó chưa thể xác định được số tiền K hưởng lợi bất chính từ mở trường đá gà và sòng tài xỉu tại hẻm 348 Ph, phường X1, quận B. Tuy nhiên, căn cứ vào lời khai của các đối tượng tham gia tổ chức với K như: Trần Văn L5, Trần Trọng Th, Bùi Ngọc Ch1, Nguyễn Văn H3, Nguyễn Thế T1, Lê Thanh T, Nguyễn Hữu D, Lê Quốc C thì K thu lợi bất chính đặc biệt lớn.
02. Đối với hành vi của Trần Trọng Th:
Thành được giao nhiệm vụ giữ tiền xâu của các chủ gà, các trọng tài và ghi cá độ của các con bạc cho Trần Văn L5, Nguyễn Hữu D, Tý A (chưa rõ lai lịch). Sau mỗi trận gà, Th lấy tiền xâu từ các trọng tài, biện gà trung bình từ 200.000 đồng đến 500.000 đồng/trận. Th ghi số tiền thu được vào tờ giấy giao cho K và giúp K trả tiền công cho các đối tượng phụ giúp tổ chức đánh bạc từ 2.000.000 đồng đến 4.000.000 đồng/tuần như: Trần Văn L5 (thu tiền xâu), Lê Thanh T, Nguyễn Thế T1, Nguyễn Văn H3, Bùi Ngọc Ch1 (canh cửa, cảnh giới, giữ xe).
Ngày 09/5/2015 từ 13 giờ đến 15 giờ, K tổ chức 05 trận đá gà. Trong đó L5 làm trọng tài 03 trận, Nguyễn Hữu D, Tý A (không rõ lai lịch) mỗi người làm trọng tài 01 trận, Th nhận tiền xâu từ L5 và D đưa được 2.500.000 đồng và Th đã đưa cho K. Sau khi kết thúc 05 trận gà thì không còn gà đá độ nữa nên mọi người chờ người khác đến đá. Đến 15 giờ cùng ngày, Th đang xem tài xỉu để đợi các chủ gà mang gà đến đá thì bị lực lượng Công an bắt quả tang. Th khai do trước đây mang ơn K cho Th tiền mua thuốc chữa bệnh nên Th nhận lời đến giúp thu tiền xâu cho K chứ không thỏa thuận tiền công, hằng ngày K chỉ bao Th ăn uống.
03. Đối với hành vi của Lê Thanh T:
Nguyễn Hoàng K giao nhiệm vụ cho T canh cửa, cảnh giới công an để cho các con bạc đánh bạc (đá gà và đánh tài xỉu) ăn tiền từ 11 giờ đến 17 giờ hàng ngày. Mỗi ngày T được K trả công khoảng 250.000 đồng nhưng do Trần Trọng Th trực tiếp đưa tiền công cho T. Vào lúc khoảng 11 giờ 30 phút, ngày 09/5/2015, T từ nhà qua canh gác cổng cho trường gà và sòng bạc của K, đến 15 giờ cùng ngày thì bị lực lượng công an bắt quả tang. Số tiền T hưởng lợi được việc giúp sức trông coi xe cho K trong 06 ngày là 1.200.000 đồng.
04. Đối với hành vi của Nguyễn Hữu D:
Nguyễn Hoàng K giao cho D làm biện trong sòng gà và thu tiền xâu. Mỗi tuần, K trả tiền công cho D từ 1.000.000 đồng đến 2.000.000 đồng. K quy định chủ gà đá thắng độ 3.000.000 đồng thì trả cho K tiền xâu là 200.000 đồng. D làm biện thu tiền xâu cho K nhưng đưa lại tiền xâu cho Trần Văn L5 hoặc đưa cho Trần Trọng Th giữ. Vào 14 giờ, ngày 09/5/2015, D đi xe một mình đến trường gà tại bãi đất trống hẻm 348 Ph, Phường X1, quận B để làm biện gà. Đến nơi, D thấy sòng tài xỉu có khoảng 50 người đang tham gia cá cược. D làm biện hàng sáo bên ngoài (ghi cá cược bên ngoài) với số tiền 3.000.000 đồng, D thu tiền xâu được 150.000 đồng. Sau đó giao cho Th. Trận thứ hai, D làm biện hàng sáo với số tiền là 6.000.000 đồng, giao tiền xâu 300.000 đồng lại cho Th. Đến khoảng 15 giờ cùng ngày trong lúc đang chờ chủ gà mang gà đến đá thì lực lượng công an vào bắt quả tang trường gà và sòng tài xỉu. Số tiền D hưởng lợi được việc giúp sức trong coi xe cho K trong 01 tuần là 1.000.000 đồng.
05. Đối với hành vi của Lê Quốc C:
Lê Quốc C làm cái sòng tài – xỉu theo giờ (ca) và trả tiền xâu cho Nguyễn Hoàng K trước lúc bị bắt khoảng 01 tháng. K quy định, C được làm cái trong thời gian 03 giờ đồng hồ (01 ca), thời gian hoạt động từ 12 giờ trưa đến rạng sáng ngày hôm sau. Hết 01 ca, K lấy tiền xâu là 3.000.000 đồng, nếu nhà cái “bão” thì C và K chia 50/50. Trung bình số tiền đặt cược một ván chơi từ là 10.000.000 đồng đến 20.000.000 đồng (tùy theo số con bạc đặt tiền nhiều hay ít). Hình thức chơi tài xỉu bằng một bộ chén dùng để lắc và 03 (ba) hột xí ngầu, quy định từ 4 đến 10 là “Xỉu”, từ 11 đến 17 là “Tài”.
Để phục vụ cho việc tổ chức đánh bạc, Lê Quốc C thuê Nguyễn Ngọc L6 lắc xí ngầu trả công 1.000.000 đồng/ngày, thuê Nguyễn Văn Nh đứng vòng ngoài canh phát hiện các con bạc nào chơi ăn gian trả công 200.000 đồng/ngày, thuê Lê Hồng Đ (không rõ lai lịch) giữ tiền giúp cho C; thuê 2 người Hoa tên A C1 và A Ph (không rõ lai lịch) làm nhiệm vụ chung chi tiền thắng thua cho con bạc trả công 200.000 đồng/ngày (nếu hôm nào làm cái thua thì không trả tiền công mà chỉ dẫn đi ăn uống). Vào lúc 14 giờ 30 phút, ngày 09/5/2015, C đến sòng bạc mang theo 4.600.000 đồng để tham gia làm cái tài xỉu. Khi đến nơi C thấy L6 đang ngồi làm cái lắc tài xỉu chưa hết ca nên C ngồi đợi xem trận đá gà do Trần Văn L5, Nguyễn Hữu D làm trọng tài. Khi xem xong trận gà, thì Nguyễn Ngọc L6 đã làm cái xong. C nhờ L6 ngồi lắc xí ngầu cho C làm cái ăn thua với khoảng 20 con bạc. C làm cái được 3 ván thua hết 1.500.000 đồng (còn lại 3.100.000 đồng để trong người), đến khoảng 15 giờ trong lúc đang tiếp tục làm cái thì công an vào bắt quả tang.
6. Đối với hành vi của Nguyễn Văn Nh:
Nguyễn Văn Nh tham gia phụ giúp Lê Quốc C quản lý, phát hiện các con bạc chơi gian lận được 04 ngày. Nh khai sòng tài xỉu trên do K tổ chức, Trần Văn L5, Trần Trọng Th làm trọng tài sòng gà, Nguyễn Hữu D làm biện gà. Vào lúc 14 giờ, ngày 09/5/2015, Nh đến trường gà của K để phụ C quản lý sòng tài xỉu. Khoảng 30 phút sau mọi người bắt đầu chơi tài xỉu và C đứng ra làm cái, Nguyễn Ngọc L6 phụ giúp C lắc xí ngầu, Nh đang trong coi để phát hiện con bạc nào chơi ăn gian, Lê Hồng Đ giữ tiền giúp cho C, 02 người Hoa tên A C1 và A Ph (không rõ lai lịch) làm nhiệm vụ chung chi tiền thắng thua cho con bạc. Chơi được 03 ván thì công an vào bắt quả tang. Nh chỉ mới phụ giúp C tổ chức làm cái sòng tài xỉu được khoảng 04 ngày và được trả công 400.000 đồng.
7. Đối với hành vi của Trần Chí S:
Trần Chí S thông qua một đối tượng tên Mót (không rõ lai lịch) biết tại bãi đất trống hẻm Ph, phường X1, quận B có trường đá gà ăn tiền và sòng tài xỉu ăn tiền do người tên K (Cu Đỉ) đứng ra tổ chức. S đã vào tham gia cá cược tài xỉu ăn tiền được 02 lần. Lần đầu vào ngày 08/05/2015, Mót rủ S đi theo vào xem đá gà và chơi tài xỉu ăn tiền, S mang theo 1.600.000 đồng để tham gia cá cược. Khi vào đến nơi S vào chơi tài xỉu ăn tiền do Lê Quốc C làm cái sòng tài xỉu. S đặt mỗi ván khoảng 200.000 đồng đến 500.000 đồng, kết quả S thua hết 1.600.000 đồng. Đến khoảng 13 giờ, ngày 09/05/2015, S tiếp tục mang theo 1.500.000 đồng đến đây tham gia cá cược tài xỉu ăn tiền do Lê Quốc C làm cái. S đặt mỗi ván khoảng 200.000 đồng đến 400.000 đồng. S chơi thua hết 1.400.000 đồng, chỉ còn lại 100.000 đồng trong người. Đang chơi tiếp thì công an vào bắt quả tang S cùng mọi người đang chơi tài xỉu ăn tiền.
8. Đối với hành vi của Phùng Phương B:
Phùng Phương B nghe nhiều người nói tại bãi đất trống hẻm Ph, phường X1, quận B có trường đá gà ăn tiền và sòng tài xỉu ăn tiền do K tổ chức. Vào khoảng 13 giờ, ngày 09/05/2015, B cùng các người bạn tên Đào Hoàng Đức Nh2, Trương L7 và Bé S (nữ) ngồi uống café tại đường Tr, quận Ph thì L7 rủ mọi người đi đến trường gà và sòng tài xỉu của K tham gia cá cược ăn tiền. B thấy có một sòng tài xỉu và một trường gà đang hoạt động, có khoảng hơn 80 người đang tham gia chơi cá cược. Nhân và L7 vào tham gia chơi đá gà ăn tiền còn B thì tham gia chơi tài xỉu ăn tiền. B mang theo số tiền 2.000.000 đồng để tham gia chơi đánh bạc, B đặt mỗi ván 100.000 đồng, B chơi khoảng 01 giờ thua hết 1.000.000 đồng, còn lại 1.000.000 đồng để trong người thì ngay lúc đó công an ập vào bắt quả tang. Do lúc đó mọi người bỏ chạy hoảng loạn nên B làm rơi mất 500.000 đồng nên công an chỉ thu giữ của B số tiền 500.000 đồng.
Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 179/2017/HSST ngày 24/5/2017, Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh đã quyết định:
ị cáo Nguyễn Hoàng K, Lê Quốc C, Trần Trọng Th, Lê Thanh T, Nguyễn Hữu D và Nguyễn Văn Nh phạm tộ
.
ị cáo Trần Chí S, Phùng Phương B phạm tội “Đ
.
- Áp dụng
khoản 2 Điều 249; điểm a khoản 1 Điều 48; Điều 33 Bộ luật hình sự năm 1999 đã được sửa đổi, bổ sung năm 2009.
1. Xử phạt: Nguyễn Hoàng K 05 (năm) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày: 09/5/2015.
- Áp dụng
khoản 2 Điều 249; điểm p khoản 1 Điều 46; điểm a khoản 1 Điều 48; Điều 33 Bộ luật hình sự năm 1999 đã được sửa đổi, bổ sung năm 2009 đối với bị cáo Lê Quốc C.
2. Xử phạt: Lê Quốc C 03 (ba) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày: 09/5/2015.
- Áp dụng khoản 1 Điều 249; điểm p khoản 1 Điều 46; điểm a khoản 1 Điều 48; Điều 33 Bộ luật hình sự năm 1999 đã được sửa đổi, bổ sung năm 2009.
3. Xử phạt: Trần Trọng Th 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày: 09/5/2015.
4. Xử phạt: Nguyễn Hữu D 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù.
09/5/2015.
5. Xử phạt: Lê Thanh T 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù.
09/5/2015.
6. Xử phạt: Nguyễn Văn Nh 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù.
09/5/2015.
- Áp dụng khoản 1 Điều 248; điểm h, p khoản 1 Điều 46; Điều 33 Bộ luật hình sự năm 1999 đã được sửa đổi, bổ sung năm 2009 đối với bị cáo Trần Chí S và Phùng Phương B.
7. Xử phạt: Trần Chí S 09 (chín) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt bị cáo chấp hành án được khấu trừ cho thời gian tạm giữ từ ngày 09/5/2015 đến ngày 11/5/2015.
8. Xử phạt: Phùng Phương B 09 (chín) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt bị cáo chấp hành án được khấu trừ cho thời gian tạm giữ từ ngày 09/5/2015 đến ngày 11/5/2015.
- Áp dụng khoản 1 Điều 248; điểm h, p khoản 1, khoản 2 Điều 46; Điều 60 Bộ luật hình sự năm 1999 đã được sửa đổi, bổ sung năm 2009 đối với bị cáo Nguyễn Duy V.
Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn tuyên về tội danh và hình phạt của các bị cáo Trần Văn L5, Bùi Ngọc Ch1, Nguyễn Văn H3, Nguyễn Thế T1, Nguyễn Ngọc L6, Nguyễn Duy V và phần án phí, quyền kháng cáo theo quy định pháp luật.
Ngày 24/5/2017 các bị cáo Nguyễn Hoàng K, Trần Văn L5 và Nguyễn Văn H3 kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt; ngày 29/5/2017 các bị cáo Nguyễn Hoàng K, Trần Văn L5 xin rút toàn bộ nội dung kháng cáo và ngày 09/6/2017 bị cáo Nguyễn Văn H3 xin rút toàn bộ nội dung kháng cáo.
Ngày 29/5/2017, bị cáo Trần Chí S và Phùng Phương B kháng cáo xin được hưởng án treo.
Ngày 31/5/2017, bị cáo Trần Trọng Th kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt và ngày 27/12/2017 bị cáo Trần Trọng Th xin rút toàn bộ nội dung kháng cáo.
Ngày 01/6/2017, bị cáo Nguyễn Văn Nh kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt.
Ngày 02/6/2017, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh kháng nghị yêu cầu tăng hình phạt đối với bị cáo Nguyễn Hoàng K và Lê Quốc C.
Ngày 7/6/2017, bị cáo Nguyễn Hữu D kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt.
Ngày 8/6/2017, bị cáo Lê Thanh T kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt.
Trong giai đoạn chuẩn bị xét xử phúc thẩm, các bị cáo Nguyễn Hoàng K, Trần Văn L5, Nguyễn Văn H3 có đơn xin rút lại toàn bộ nội dung kháng cáo. Do đó, Hội đồng xét xử phúc thẩm không xem xét kháng cáo của các bị cáo K, L5, H3.
Tại phiên toà phúc thẩm, đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh giữ nguyên kháng nghị yêu cầu tăng hình phạt đối với bị cáo Nguyễn Hoàng K và rút lại kháng nghị đối với bị cáo Lê Quốc C. Các bị cáo Trần Chí S, Phùng Phương B xin được hưởng án treo. Các bị cáo Trần Trọng Th, Lê Thanh T và Nguyễn Hữu D rút lại kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt. Riêng bị cáo Nguyễn Văn Nh được triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt tại phiên tòa, Hội đồng xét xử vẫn xét xử yêu cầu kháng cáo của bị cáo.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh nêu quan điểm về việc giải quyết vụ án như sau: Bị cáo Lê Quốc C tham gia thời gian ngắn, chưa có tiền án, tiền sự, thu lợi bất chính không lớn, tham gia dưới sự chỉ đạo của K. Do đó, Viện kiểm sát rút kháng nghị đề nghị tăng hình phạt đối với bị cáo Lê Quốc C. Đối với bị cáo Nguyễn Hoàng K, bị cáo là chủ mưu, cầm đầu, thủ đoạn tinh vi, xảo quyệt, tham gia thời gian dài, nên đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh tăng hình phạt đối với bị cáo từ 08 năm đến 09 năm tù. Đối với kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt và xin hưởng án treo của các bị cáo Trần Chí S, Phùng Phương B, Nguyễn Văn Nh không có căn cứ chấp nhận, đề nghị Hội đồng xét xử giữ nguyên hình phạt đối với các bị cáo nêu trên.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào lời khai nhận tội của các bị cáo cùng các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, có đủ cơ sở xác định:
Bị cáo Nguyễn Hoàng K đã móc nối với các bị cáo Lê Quốc C, Trần Văn L5, Trần Trọng Th, Bùi Ngọc Ch1, Nguyễn Văn H3, Nguyễn Thế T1, Lê Thành T, Nguyễn Hữu D, Nguyễn Văn Nh, Nguyễn Ngọc L6 tổ chức đánh bạc ăn tiền với hình thức xóc dĩa và đá gà trên bãi đất trống tại hẻm Ph, Phường X1, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh. Trong đó, K là người đứng ra tổ chức, thuê các bị cáo khác thực hiện các công đoạn khác nhau và trả tiền công; L5 là người tổ chức, thu tiền xâu cho K và làm trọng tài các trận đá gà; Thành có nhiệm vụ giữ tiền xâu, làm trọng tài và ghi cá độ của các con bạc; Ch1, H3, T1 được K thuê để giữ xe cho các con bạc; T làm nhiệm vụ cảnh giới; D làm biện gà và thu tiền xâu; C làm cái sòng tài xỉu; L6 lắc xí ngầu và Nh phụ giúp C quản lý, phát hiện con bạc chơi gian lận. Biết bãi đất trống tại hẻm Ph có trường đá gà và sòng tài xỉu, Trần Chí S, Phùng Phương B và Nguyễn Duy V đến chơi và bị bắt quả tang tại đây.
Hành vi của các bị cáo Nguyễn Hoàng K, Lê Quốc C, Trần Văn L5, Trần Trọng Th, Bùi Ngọc Ch1, Nguyễn Văn H3, Nguyễn Thế T1, Lê Thành T, Nguyễn Hữu D, Nguyễn Văn Nh, Nguyễn Ngọc L6 đã cấu thành tội “Tổ chức đánh bạc” theo Điều 249 Bộ luật Hình sự. Hành vi của các bị cáo Trần Chí S, Phùng Phương B và Nguyễn Duy V đã cấu thành tội “Đánh bạc” theo Điều 248 Bộ luật Hình sự năm 1999, được sửa đổi, bổ sung năm 2009. Tòa án cấp sơ thẩm xét xử các bị cáo về tội danh trên là có cơ sở, đúng người, đúng tội.
Đánh bạc là bất hợp pháp, bị nhà nước cấm hoạt động. Hành vi đánh bạc, tổ chức đánh bạc của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, gây tác động xấu đến trật tự trị an tại địa phương, tạo điều kiện cho các tội phạm khác phát triển. Bị cáo K cùng với các bị cáo khác đã có sự bàn bạc phân công chặt chẽ nhiệm vụ của từng người, lắp hệ thống giám sát để trốn tránh sự phát hiện của cơ quan công an, từ đó tổ chức hoạt động đánh bạc trong thời gian dài và thu lợi bất chính số tiền lớn. Do đó, cần phải xử phạt các bị cáo hình phạt nghiêm khắc để giáo dục các bị cáo và phòng ngừa chung cho xã hội.
Xét kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh yêu cầu tăng hình phạt đối với bị cáo Nguyễn Hoàng K, Hội đồng xét xử thấy: Tòa sơ thẩm đã xem xét bị cáo K là người chủ mưu, cầm đầu, thu lợi bất chính số tiền trung bình từ 12.000.000 đồng đến 15.000.000 đồng mỗi ngày nên xử phạt bị cáo mức hình phạt 05 năm 6 tháng tù theo khoản 2 Điều 249 Bộ luật Hình sự là thỏa đáng. Trong quá trình xét xử sơ thẩm bị cáo K có quanh co chối tội và kháng cáo kêu oan nhưng trước phiên tòa phúc thẩm bị cáo đã nhận thức được hành vi của mình là sai trái, hình phạt cấp sơ thẩm đã tuyên đối với bị cáo là thỏa đáng nên trước khi xét xử phúc thẩm bị cáo đã làm đơn xin rút kháng cáo. Hội đồng xét xử thấy bị cáo K đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi của mình nên không cần thiết phải tăng nặng hình phạt đối với bị cáo, với mức án cấp sơ thẩm tuyên cũng đủ giáo dục, răn đe bị cáo.
Xét kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo Nguyễn Văn Nh, Hội đồng xét xử thấy: Bị cáo là đối tượng giúp sức tích cực cho K, L5 và C tổ chức cho các con bạc chơi tài xỉu, đá gà, bị cáo là một trong những mắt xích giúp cho đường dây đánh bạc hoạt động thời gian dài mà không bị phát hiện.
Tòa án cấp sơ thẩm đã xem xét đầy đủ các tình tiết giảm nhẹ cho bị cáo như có vai trò đồng phạm hạn chế, bản thân chưa có tiền án, tiền sự, ăn năn hối cải, thu lợi bất chính nhỏ và phạm tội thuộc trường hợp ít nghiêm trọng để cân nhắc khi quyết định hình phạt. Từ đó, Tòa án cấp sơ thẩm xử phạt bị cáo Nh mức án 02 năm 06 tháng tù là tướng xứng với tính chất hành vi phạm tội của bị cáo, không nặng. Kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo Nguyễn Văn Nh là không có cơ sở chấp nhận.
Xét kháng cáo xin hưởng án treo của bị cáo Trần Chí S và Phùng Phương B, Hội đồng xét xử thấy: Các bị cáo đã thực hiện hành vi đánh bạc mà pháp luật không cho phép, hành vi của các bị cáo gây mất trật tự xã hội, tạo nếp sống không lành mạnh cho bản thân và những người xung quanh nên cần phải xử phạt các bị cáo hình phạt tương xứng để giáo dục, răn đe các bị cáo. Tòa án cấp sơ thẩm xem xét các bị cáo có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự, thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, phạm tội thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, nên đã xử phạt các bị cáo 09 tháng tù là thỏa đáng. Tuy nhiên, riêng đối với bị cáo Trần Chí S, tại giai đoạn phúc thẩm, bị cáo nộp giấy xác nhận bị cáo là lao động chính trong gia đình, vợ bị cáo bị bệnh nặng, khả năng lao động bị hạn chế và bản thân bị cáo phải trực tiếp nuôi dưỡng 02 con nhỏ sinh năm 2005 và 2012 không có khả năng lao động. Hội đồng xét xử xem xét bị cáo có địa chỉ cư trú rõ ràng, bản thân hiện tại là lao động duy nhất trong gia đình, tham gia đánh bạc 02 lần với số tiền nhỏ thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, nên kháng cáo xin hưởng án treo của bị cáo là có căn cứ chấp nhận.
Tại phiên tòa phúc thẩm hôm nay, bị cáo Trần Trọng Th, Lê Thành T và Nguyễn Hữu D đã rút toàn bộ kháng cáo, Viện kiểm sát rút kháng nghị đối với bị cáo Lê Quốc C nên Hội đồng xét xử đình chỉ xét xử phúc thẩm đối với các bị cáo.
Vì các lẽ trên, Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh đề nghị tăng hình phạt đối với bị cáo Nguyễn Hoàng K; không chấp nhận kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo Nguyễn Văn Nh và kháng cáo xin hưởng án treo của bị cáo Phùng Phương B; chấp nhận kháng cáo xin hưởng án treo của bị cáo Trần Chí S.
Do kháng cáo không được chấp nhận nên các bị cáo Nguyễn Văn Nh và Phùng Phương B, mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự phúc thẩm.
Hội đồng xét xử phúc thẩm tiếp tục kiến nghị đối với cấp giám đốc thẩm về các đối tượng như bản án sơ thẩm đã kiến nghị.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm a, điểm b và điểm đ khoản 1 Điều 355 của Bộ luật tố tụng hình sự;
- Không chấp nhận Kháng nghị số 16/KN-VKS-P2 ngày 02/06/2017 của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh. Không chấp nhận kháng cáo của các bị cáo Nguyễn Văn Nh và Phùng Phương B. Giữ nguyên quyết định của bản án sơ thẩm về phần hình phạt đối với các bị cáo Nguyễn Hoàng K, Lê Quốc C, Nguyễn Văn Nh và Phùng Phương B.
- Chấp nhận kháng cáo của bị cáo Trần Chí S. Sửa một phần bản án sơ thẩm về phần hình phạt đối với bị cáo Trần Chí S.
- Đình chỉ xét xử phúc thẩm đối với các bị cáo Lê Thanh T (tên gọi khác: Tủn), Nguyễn Hữu D và Trần Trọng Th (tên gọi khác: Táo).
Tuyên bố:
ị cáo Nguyễn Hoàng K, Lê Quốc C và Nguyễn Văn Nh phạm tộ
.
ị cáo Trần Chí S và Phùng Phương B phạm tộ
.
1) Áp dụ
khoản 2 Điều 249; điểm a khoản 1 Điều 48; Điều 33 Bộ luật hình sự năm 1999 đã được sửa đổi, bổ sung năm 2009.
Xử phạt: Nguyễn Hoàng K 05 (năm) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày: 09/5/2015.
2) Áp dụ
khoản 2 Điều 249; điểm p khoản 1 Điều 46; điểm a khoản 1 Điều 48; Điều 33 Bộ luật hình sự năm 1999 đã được sửa đổi, bổ sung năm 2009.
Xử phạt: Lê Quốc C 03 (ba) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày: 09/5/2015.
3) Áp dụng khoản 1 Điều 249; điểm h, p khoản 1 Điều 46; điểm a khoản 1 Điều 48; Điều 33 Bộ luật hình sự năm 1999 đã được sửa đổi, bổ sung năm 2009.
Xử phạt: Nguyễn Văn Nh 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù
09/5/2015. Bị cáo đã chấp hành xong hình phạt tù.
4) Áp dụng khoản 1 Điều 248; điểm h, p khoản 1 Điều 46; Điều 33 Bộ luật hình sự năm 1999 đã được sửa đổi, bổ sung năm 2009.
Xử phạt: Phùng Phương B 09 (chín) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt bị cáo chấp hành án, được khấu trừ cho thời gian tạm giữ từ ngày 09/5/2015 đến ngày 11/5/2015.
5) Áp dụng khoản 1 Điều 248; điểm h, p
46; 53; Điều 60 Bộ luật hình sự năm 1999 đã được sửa đổi, bổ sung năm 2009;
Xử phạt: Trần Chí S 09 (chín) tháng tù, cho bị cáo Trần Chí S (tên gọi khác: Út Mủ) hưởng án treo. Thời gian thử thách là 01 năm 06 tháng, kể từ ngày tuyên án phúc thẩm. Giao bị cáo Trần Chí S cho Uỷ ban nhân dân Phường X2, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh giám sát, giáo dục bị cáo trong thời gian thử thách.
Về án phí hình sự phúc thẩm:
- Các bị cáo Lê Thanh T, Nguyễn Hữu D, Trần Trọng Th và Trần Chí S không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
- Các bị cáo Nguyễn Văn Nh và Phùng Phương B, mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự phúc thẩm.
Các phần quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
CÁC THẨM PHÁN
| Đặng Quốc Khởi - Phạm Trung Tuấn | THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Thị Thu Thủy |