- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Hôn nhân và gia đình"
- Tòa quyết gì? điểm a, khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giãm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
- Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 220 Bộ luật tố tụng dân sự Quyết định đưa
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CÁI NƢỚC TỈNH CÀ MAU —————————— | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 243/2018/HNGĐ - ST Ngày 13 - 11 - 2018 V/v Tranh chấp Ly hôn, nuôi con |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CÁI NƢỚC, TỈNH CÀ MAU
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Hà Thanh Khiết
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Ngô Đức Kỳ
Ông Nguyễn Trung Đông
- Thư ký phiên tòa: Ông Hồ Văn Mil - Thư ký Tòa án
Trong ngày 13 tháng 11 năm 2018 tại Tòa án nhân dân huyện Cái Nước xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 399/2018/TLST- HNGĐ ngày 14 tháng 8 năm 2018 về tranh chấp Ly hôn, nuôi con theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 364/2018/QĐXXST-HNGĐ ngày 03 tháng 10 năm 2018 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Đỗ Thị N – sinh năm 1987 (Có mặt)
Cư trú tại: Ấp K, xã H, huyện C, tỉnh CM.
- Bị đơn: Anh Trƣơng Vũ T – sinh năm 1979 ( Vắng mặt)
Cư trú tại: Ấp G, xã T, huyện C, tỉnh CM.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện ngày 14 tháng 8 năm 2018 và tại phiên tòa chị Đỗ Thị N trình bày:
Về hôn nhân: Chị Đỗ Thị N và anh Trương Vũ T kết hôn vào ngày 27 tháng 9 năm 2010 có đăng ký kết hôn tại UBND xã T, huyện C, tỉnh CM. Năm 2016 vợ chồng chị đến tỉnh Bình Dương làm công nhân. Nguyên nhân mâu thuẩn do khi vợ chồng đến Bình Dương làm được một thời gian thì anh T có hành vi bạo lực gia đình, anh T đã đánh đập hành hạ chị rất nhiều lần. Nay chị xét thấy tình cảm gia đình không còn hạnh phúc nên yêu cầu Tòa án nhân dân huyện Cái Nước giải quyết cho chị được ly hôn với anh Trương Vũ T.
Về con chung: Trong quá trình chung sống chị N và anh T có với nhau 02 con chung tên Trương Vũ M, sinh ngày 15 tháng 8 năm 2010 và Trương Thảo N, sinh ngày 13 tháng 4 năm 2012 hiện nay con đang sống với chị N. Khi ly hôn chị N yêu cầu được tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng con cho đến khi thành niên, chị N không yêu cầu anh T cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung: Chị N xác định vợ chồng không có tài sản chung.
Về nợ chung và nợ riêng: Chị N xác định vợ chồng không nợ ai, cũng không ai nợ vợ chồng.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Tranh chấp giữa chị Đỗ Thị N và anh Trương Vũ T là tranh chấp về Hôn nhân và gia đình về việc Ly hôn, nuôi con thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án theo quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015. Anh Trương Vũ T có địa chỉ cư trú tại Ấp G, xã Tg, huyện C, tỉnh CM. Do đó Tòa án nhân dân huyện C thụ lý giải quyết là đúng thẩm quyền theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35 và Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.
Nhận định của Tòa án về nội dung tranh chấp của vụ án:
Về hôn nhân: Chị N và anh T kết hôn ngày 27 tháng 9 năm 2010, có đăng ký kết hôn tại UBND xã T, huyện C, tỉnh CM. Đây là hôn nhân hợp pháp, được pháp luật thừa nhận và bảo vệ.
Theo quy định tại khoản 1 Điều 51 Luật HNGĐ năm 2014 thì chị Đỗ Thị N có quyền yêu cầu giải quyết việc ly hôn. Yêu cầu của chị N đã được Tòa án nhân dân huyện C, tỉnh CM thụ lý giải quyết theo quy định tại Điều 53 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 và pháp luật tố tụng dân sự. Sau khi thụ lý giải quyết vụ án Tòa án nhân dân huyện C, tỉnh CM tiến hành hòa giải tại Tòa án theo quy định tại Điều 54 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014. Tuy nhiên anh Trương Vũ T đã được triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai mà vẫn vắng mặt không lý do. Do đó Tòa án nhân dân huyện C không tiến hành hòa giải được vụ án theo quy định tại khoản 1 Điều 207 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015. Tòa án nhân dân huyện C căn cứ vào Điều 220 Bộ luật tố tụng dân sự Quyết định đưa vụ án ra xét xử theo thủ tục chung. Đồng thời Tòa án nhân dân huyện C căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 xét xử vắng mặt đối với anh T.
Xét thấy tại đơn khởi kiện và tại phiên tòa chị N cho rằng nguyên nhân mâu thuẩn là do anh T đã đánh đập, hành hạ chị nhiều lần kể từ năm 2016, sau khi chị và anh T đến tỉnh Bình Dương làm thuê. Chị N cho rằng anh T đánh đập chị nhiều lần nên chị xét thấy cuộc sống vợ chồng không còn ý nghĩa và hạnh phúc nên chị yêu cầu Tòa án nhân dân huyện C giải quyết cho chị được ly hôn với anh T. Hội đồng xét xử xét thấy anh Trương Vũ T đã được thông báo về việc chị N yêu cầu ly hôn với anh, nhưng anh T không có ý kiến và cũng không có bất kỳ văn bản nào thể hiện ý kiến của mình đối với yêu cầu của chị N. Điều đó chứng tỏ mâu thuẩn của anh T và chị N đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên Tòa án chấp nhận cho chị N được ly hôn với anh T.
Về con chung: Chị N xác định vợ chồng có với nhau được 02 con chung tên Trương Vũ M, sinh ngày 15 tháng 8 năm 2010 và Trương Thảo N, sinh ngày 13 tháng 4 năm 2012. Hiện con đang sống với chị N. Sau khi ly hôn chị N yêu cầu tiếp tục nuôi con, không yêu cầu anh T cấp dưỡng nuôi con. Hội đồng xét xử xét thấy các cháu Trương Vũ M, sinh ngày 15 tháng 8 năm 2010 đã đủ độ tuổi theo quy định tại Điều 81 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 về việc xem xét nguyện vọng của các cháu là ở với ai khi cha mẹ các cháu ly hôn. Tại biên bản ghi lời khai cháu Trương Vũ M, sinh ngày 15 tháng 8 năm 2010 ngày 13 tháng 11 năm 2018 thì cháu M có nguyện vọng được sống với mẹ. Do đó Hội đồng xét xử giao các cháu Trương Vũ M, sinh ngày 15 tháng 8 năm 2010 và Trương Thảo N, sinh ngày 13 tháng 4 năm 2012 cho chị Đỗ Thị N tiếp tục nuôi dưỡng cho đến khi thành niên. Vấn đề cấp dưỡng nuôi con Hội đồng xét xử xét thấy chị N không yêu cầu nên không đặt ra xém xét.
Người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.
Về tài sản chung và nợ chung: Chị N xác định không có nên không yêu cầu Tòa án giải quyết. Do đó Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét. Nếu sau này chị N và anh T có phát sinh tranh chấp về tài sản chung và nợ chung thì chị N và anh T đều có quyền khởi kiện thành vụ kiện dân sự khác theo quy định pháp luật.
Án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm Chị Đỗ Thị N phải nộp 300.000 đồng theo quy định tại Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giãm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Chị Đỗ Thị N đã nộp 300.000 đồng theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí tòa án số 0004672 ngày 14 tháng 8 năm 2018. Chị Đỗ Thị N đã nộp đủ án phí Hôn nhân và gia đình sơ thẩm.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ:
Các điều 28; 35; 39; 147, 227, 266, 271, 273 Bộ luật tố tụng dân sự 2015;
Các điều 9, 51, 53, 54, 56, 57, 58, 81 và 82 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014;
điểm a, khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giãm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
[1] Về hôn nhân: Chấp nhận cho chị Đỗ Thị N ly hôn với anh Trƣơng Vũ T.
[2] Về con chung: Giao 02 cháu Trƣơng Vũ M, sinh ngày 15 tháng 8 năm 2010 và Trƣơng Thảo N, sinh ngày 13 tháng 4 năm 2012 cho chị Đỗ Thị N tiếp tục nuôi dưỡng đến khi thành niên.
Người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.
[3] Về tài sản chung và nợ chung: Chị N xác định không có không yêu cầu Tòa án giải quyết. Do đó Tòa án không đặt ra xem xét. Nếu sau này chị N và anh T có phát sinh tranh chấp về tài sản chung và nợ chung thì chị N và anh T đều có quyền khởi kiện thành vụ kiện dân sự khác theo quy định pháp luật.
[4] Án phí Hôn nhân và gia đình sơ thẩm: Chị Đỗ Thị N phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm số tiền là 300.000 đồng. Chị Đỗ Thị N đã nộp 300.000 đồng theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí tòa án số 0004672 ngày 14 tháng 8 năm 2018. Chị Đỗ Thị N đã nộp đủ án phí Hôn nhân và gia đình sơ thẩm.
Trường hợp Bản án (Quyết định) được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a ,7b và 9 Luật thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Án xử sơ thẩm công khai các đương sự có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Anh Trương Vũ T vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết công khai.
| Nơi nhận: - Phòng KTNV&THA TAND tỉnh CM; - VKSND huyện Cái Nước; - Chi cục THADS huyện C; - UBND xã H; - Các đương sự; - Lưu: VT, hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Hà Thanh Khiết |