vanban.org

Bản án 242/2024/HS-ST — Hình sự

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Xử phạt bị cáo Phan Hoàng P 03 (ba) năm 06 (sáu) tháng tù, về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ.

Về vật chứng: Căn cứ vào Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) và Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015. Trả lại cho bị cáo Phan Hoàng P: Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "242 14-11 Phan Hoàng P 260 - không phạm tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ (điều 260 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của…"
  • Tòa quyết gì? Xử phạt bị cáo Phan Hoàng P 03 (ba) năm 06 (sáu) tháng tù, về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 8
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 242 /2024/HS-ST
Ngày 14 - 11 - 2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 8, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Phúc.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Bà Nguyễn Thị Kính.

2. Bà Trần Thị Ngọc Hà.

- Thư ký phiên tòa: Ông Trịnh Sơn Tùng – Thư ký Tòa án.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 8, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Ông Bùi Đức Tuấn - Kiểm sát viên.

Ngày 14 tháng 11 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân Quận 8, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 332/2024/TLST-HS ngày 22 tháng 10 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 424/2024/QĐXXST-HS ngày 30 tháng 10 năm 2024, đối với bị cáo:

Phan Hoàng P; sinh năm 2000, tại Khánh Hòa; Nơi đăng ký thường trú: Tổ dân phố D, phường N, thị xã N, tỉnh Khánh Hòa; Nơi ở: Số D đường số B, KDC ấp E, xã P, huyện B, Thành phố Hồ Chí Minh; nghề nghiệp: Làm công; trình độ học vấn: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Namtôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Phan Văn P1 và bà Nguyễn Thị Bình M; vợ, con: Chưa có; tiền án, tiền sự: Không; bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 16/5/2024 đến nay. (có mặt)

- Bị hại: Ông Lâm Văn T, sinh năm 1954; nơi cư trú: 2 P, Phường F, Quận H, Thành phố Hồ Chí Minh (đã chết).

- Người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng của bị hại:

1. Bà Lê Thị H, sinh năm 1953; nơi cư trú: 2 P, Phường F, Quận H, Thành phố Hồ Chí Minh (là vợ của bị hại). (vắng mặt)

2. Anh Lâm Hoàng P2, sinh năm 1974 (là con của bị hại). (vắng mặt)

3. Anh Lâm Hoàng L, sinh năm 1977 (là con của bị hại). (vắng mặt)

4. Chị Lâm Thị Thúy H1, sinh năm 1980 (là con của bị hại). (vắng mặt)

5. Anh Lâm Hoàng G, sinh năm 1987 (là con của bị hại). (vắng mặt)

6. Chị Lâm Thị Thúy O, sinh năm 1982 (là con của bị hại). (vắng mặt)

7. Chị Lâm Thị Thúy L1, sinh năm 1984 (là con của bị hại). (vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 23 giờ ngày 23/12/2023, sau khi đi làm về Phan Hoàng P điều khiển xe mô tô hiệu Honda Vario 150 phân khối, biển số: 50N2-00617 (có giấy phép lái xe hạng A1) đi về nhà mẹ ruột tại địa chỉ: 3 B, Phường F, Quận H để gửi chiếc xe trên. Sau đó, P đi đến quán H2 tại đường T, Phường E Quận H nhậu cùng với bạn. Đến khoảng 04 giờ 15 phút ngày 24/12/2023, P về nhà mẹ lấy xe để đi về nhà tại số D đường số B, KDC P, xã B, huyện B. P điều khiển xe mô tô lưu thông trên đường B băng qua hẻm nhỏ ra đường đôi Tạ Quang B rồi rẽ phải, tiếp tục lưu thông trên đường đôi Tạ Quang B (hướng từ giao lộ Quốc lộ E - đường T về đường P). P điều khiển xe lưu thông phía bên phải làn đường. Khi đến trước địa chỉ A đường Đ T, Phường F Quận H thì lúc này có ông Lâm Văn T đang đi bộ qua đường (không đi trên vạch sơn trắng dành cho người đi bộ), ông T đột ngột chuyển sang chạy bộ hướng từ lề trái qua lề phải theo chiều P đang lưu thông. Mặc dù thấy ông T đang qua đường nhưng P không giảm tốc độ, ông T chạy băng qua nên P không kịp xử lý tay lái dẫn đến đụng trúng vào người ông T (vị trí va chạm phía bên phải làn đường). Tai nạn xảy ra làm ông T và P té ngã ra đường và bất tỉnh. Lúc này, ông Trần Văn C là hàng xóm của ông T đi tập thể dục ngang qua phát hiện nên đã đến nhà ông T báo tin cho gia đình biết. Sau đó, người dân gọi xe cấp cứu đến đưa P đi cấp cứu tại Bệnh viện N, ông T được đưa đi cấp cứu tại Bệnh viện N1. Đến 06 giờ 35 phút ngày 28/12/2023, ông T chết tại Bệnh viện N1. Riêng P điều trị đến ngày 10/01/2024 được xuất viện về nhà.

Trích lục hồ sơ bệnh án của Phan Hoàng P tại Bệnh viện N ghi nhận kết quả xét nghiệm nồng độ cồn trong máu là 188.0 mg/100ml máu.

Kết quả khám nghiệm hiện trường:

Đoạn đường nơi xảy ra tai nạn là đường T, Phường F Quận H, loại đường đôi có dải phân cách cố định: Vị trí nơi xảy ra tai nạn tại phần đường có hướng lưu thông từ giao lộ Quốc lộ E - đường T về đường P. Đường thẳng, mặt đường được trải bê tông nhựa tương đối bằng phẳng rộng 8m. Trên đường có một vạch kẻ làn đường màu trắng không liên tục chia phần đường thành hai làn đường dành cho xe cơ giới chạy cùng chiều nhau. Mỗi làn đường rộng 4m, tại vị trí hiện trường có vạch kẻ đường dành cho người đi bộ qua đường và khoảng trống giữa hai dải phân cách cố định dành cho các phương tiện chuyển hướng quay đầu xe. Đoạn đường có đèn chiếu sáng công cộng và có gắn hệ thống biển báo cấm (cấm đi ngược chiều, cấm đỗ xe), biển báo chỉ dẫn.

Lấy trụ đèn số 41 nằm trên vỉa hè và mép đường bê tông nhựa phía bên phải theo hướng lưu thông từ giao lộ Quốc lộ E - đường T về đường P làm điểm mốc.

+ Vị trí vết cà trượt không liên tục của xe mô tô biển số: 50N2-00617 có chiều hướng song song với mặt đường theo hướng lưu thông từ giao lộ Quốc lộ E - đường T về đường P kéo đến gác chân sau bên phải của xe mô tô biển số: 50N2-00617 là 20m5. Điểm đầu của vết cà trượt nằm trên vạch kẻ dành cho người đi bộ qua đường cách mép đường chuẩn 1m, cách trụ biển báo “cấm đỗ xe” nằm trên vỉa hè phía bên phải là 2m8.

+ Vị trí vết máu của Lâm Văn T có kích thước 0,1 x 0,15m, tâm vết máu cách mép đường chuẩn 1m4, cách điểm đầu vết cà trượt 9m5, cách tâm trục bánh trước xe mô tô biển số: 50N2-00617 là 10m2.

+ Vị trí xe mô tô biển ngã phía bên phải (đầu xe hướng về giao lộ Quốc lộ E - đường T, đuôi xe hướng về đường P), xe ngã nằm gần mép đường chuẩn, tâm trục bánh xe phía trước cách mép đường chuẩn 0,4m, tâm trục bánh xe phía sau cách mép đường chuẩn 0,7m.

+ Vị trí vết máu của Phan Hoàng P có kích thước 0,4 x 0,5m nằm gần mép đường chuẩn và bánh xe phía sau của xe mô tô. T1 vết máu cách mép đường chuẩn 0,2m và cách tâm trục bánh xe phía sau của xe mô tô biển số: 50N2-00617 là 0,5m.

+ Điểm mốc của hiện trường từ tâm trục bánh xe phía sau của xe mô tô đến tâm trụ đèn số 41 là 8m4. T1 trụ đèn cách mép đường chuẩn 0,6m.

Kết quả khám dấu vết phương tiện:

+ Vị trí mặt ngoài phía dưới đầu tay lái phía bên phải có vết ma sát mài mòn kim loại kích thước 0,03 x 0,02m, tâm vết cách mặt đất 0,91m.

+ Vị trí mặt ngoài phía dưới đầu tay thắng phía bên phải có vết ma sát mài mòn kim loại kích thước 0,015 x 0,015m, tâm vết cách mặt đất 0,88m.

+ Vị trí mặt ngoài cạnh bửng chắn gió phía bên phải, bên dưới cụm đèn chiếu sáng, đèn tín hiệu có vết ma sát, trầy xước nhựa chiều hướng từ ngoài vào trong kích thước 0,25 x 0,03m, tâm vết cách mặt đất 0,8m.

+ Vị trí mặt ngoài gạt chắn bùn bánh xe phía trước bên phải có vết ma sát bong tróc, trầy xước kích thước 0,04 x 0,04m, tâm vết cách mặt đất 0,59m.

+ Kính cụm đèn chiếu sáng, đèn tín hiệu phía bên trái vỡ kích thước 0,23 x 0,15m, tâm vết cách mặt đất 0,7m.

+ Bửng chắn phía bên trái bung khớp, gãy vỡ hoàn toàn kích thước 0,54 x 0,3m, tâm vết cách mặt đất 0,75m.

+ Vị trí mặt ngoài bửng chắn gió phía bên phải có vết ma sát trầy xước, bong tróc nhựa kích thước 0,3 x 0,13m, tâm vết cách mặt đất 0,6m.

+ Vị trí mặt ngoài cạnh gác chân sau bên phải có vết ma sát, trầy xước mài mòn kim loại kích thước 0,07 x 0,03m, tâm vết cách mặt đất 0,37m.

+ Vị trí mặt ngoài ốp nhựa bảo vệ pô xe có vết ma sát, trầy xước, bong tróc nhựa, gãy vỡ kích thước 0,3 x 0,11m, tâm vết cách mặt đất 0,33m.

+ Hệ thống đèn chiếu sáng, đèn tín hiệu phía bên trái không còn hoạt động.

Ngày 15/02/2024, Trung tâm pháp y – Sở Y tế Thành phố H có Kết luận giám định pháp y về tử thi số 849/KLGĐTT-2023 đối với ông Lâm Văn T, kết luận:

“1. Các kết quả chính:

- Kết quả khám nghiệm:

+ Sây sát da, bầm tụ máu nhiều vùng trên cơ thể.

+ Vỡ sọ phức tạp.

+ Tụ máu ngoài màng cứng.

+ Tụ máu dưới màng cứng.

+ Chảy máu dưới nhện.

+ Dập não.

+ Thoát vị não qua lỗ chẩm.

+ Tổn thương não cũ.

+ Hai phổi phù.

+ Cơ tim thất trái có vùng xơ trắng.

+ Tụ máu quanh thận phải.

+ Gãy hai xương cẳng chân trái.

- Kết quả xét nghiệm mô bệnh học:

+ Chảy máu dưới nhện.

+ Dập võ não, cầu não, tiểu não.

+ Có đặt Stent động mạch vành.

+ Nhồi máu cơ tim cấp.

+ Nhồi máu cơ tim cũ.

+ Dập, xẹp, phù và viêm phổi cấp.

- Kết quả xét nghiệm độc chất: Không thực hiện.

- Kết quả khác: Không thực hiện.

2. Kết luận:

Kết luận nguyên nhân chết: Đa chấn thương.

Qua rà soát camera an ninh trước cổng trụ sở Ủy ban nhân dân Phường F, Quận H ghi nhận diễn biến vụ việc nêu trên.

Ngày 04/3/2024, Phòng K – Công an Thành phố H có Kết luận giám định số 1163/KL-KTHS, kết luận: Không phát hiện thấy dấu hiệu cắt ghép, chỉnh sửa nội dung hình ảnh trong tập tin video cần giám định.

Vật chứng thu giữ trong vụ án:

- 01 xe mô tô biển số: 50N2-00617, số khung: MH1KF4110KK706649, số máy: KF41E1709331, qua xác minh chiếc xe trên là tài sản của ông Phan Quang D (là bạn của mẹ P). Ông D cho P mượn xe để làm phương tiện đi làm;

- 01 Giấy chứng nhận đăng ký xe số 023971 của ông Phan Quang D;

Ngày 26/4/2024, Cơ quan điều tra đã Quyết định xử lý vật chứng bằng hình thức trao trả lại xe mô tô và chứng nhận đăng ký xe cho ông Phan Quang D.

- 01 Giấy phép lái xe hạng A1 mang số 790180149290 của Phan Hoàng P;

- 01 USB hiệu Apacer, màu xanh đen, dung lượng 14,4 GB ghi lại hình ảnh vụ tai nạn.

Trách nhiệm dân sự: Những người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng của bị hại Lâm Văn T không có yêu cầu bồi thường dân sự.

Tại bản Cáo trạng số 236/CT-VKS-Q8 ngày 11/9/2024, Viện kiểm sát nhân dân Quận 8, Thành phố Hồ Chí Minh truy tố bị cáo Phan Hoàng Phúc về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 260 Bộ luật Hình sự năm 2015 (đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Tại phiên tòa, Kiểm sát viên đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 8, Thành phố Hồ Chí Minh giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo Phan Hoàng P về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”. Sau khi phân tích, đánh giá tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, Viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm b khoản 2 Điều 260; điểm s Khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017), xử phạt bị cáo Phan Hoàng P từ 03 năm 06 tháng đến 04 năm 06 tháng tù. Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Về trách nhiệm dân sự: Những người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng của bị không có yêu cầu bồi thường dân sự.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an Q, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân Quận 8, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa hôm nay, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về các hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Tại phiên tòa, bị cáo đã khai nhận hành vi phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai người làm chứng và các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, xác định: Vào lúc 04 giờ 48 phút, ngày 24/12/2023, tại trước số A đường Đ, Phường F, Quận H, Thành phố Hồ Chí Minh, bị cáo Phan Hoàng P điều khiển xe ô tô biển số: 50N2-00617 lưu thông trên đường, trong máu có nồng độ cồn 188.0 mg/100ml, do đã xử dụng rượu, bia, lái xe qua khu vực đường giao nhau, có vạch kẻ đường cho người đi bộ nhưng không giảm tốc độ, không xử lý kịp tình huống đã va chạm với ông Lâm Văn T đang đi bộ băng qua đường, hậu quả làm ông T tử vong.

Điều 260 của Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017) quy định về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộnhư sau:

1/ Người nào tham gia giao thông đường bộ mà vi phạm quy định về an toàn giao thông đường bộ gây thiệt hại cho người khác thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tiền từ 30.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 01 năm đến 05 năm.

...

2/ Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây thì bị phạt tù từ 03 năm đến 10 năm:

…

b/ Trong tình trạng có sử dụng rượu, bia mà trong máu hoặc hơi thở có nồng độ cồn vượt quá mức quy định, có sử dụng chất ma túy hoặc chất kích thích mạnh khác.

...

5) Người phạm tội còn có thể bị cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm.

Bị cáo là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, bị cáo điều khiển xe mô tô tham gia giao thông trong tình trạng có sử dụng rượu, bia mà trong máu hoặc hơi thở có nồng độ cồn vượt quá mức quy định. Đồng thời, khi tham gia giao thông, bị cáo điều khiển xe qua khu vực đường giao nhau có vạch kẻ đường cho người đi bộ nhưng không giảm tốc độ, không xử lý kịp tình huống đã va chạm với ông Lâm Văn T đang đi bộ băng ngang qua đường hậu quả làm ông T bị thương được đưa đi cấp cứu và chết ngày 28/12/2023. Hành vi của bị cáo Phan Hoàng P đã vi phạm Điều 8, Điều 9 Luật Giao thông đường bộ Việt Nam.

Do đó, hành vi của bị cáo Phan Hoàng P đã phạm vào các tình tiết định khung tăng nặng trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm b khoản 2 Điều 260 Bộ luật hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017). Trong vụ án này, bị hại Lâm Văn T lưu thông không đúng phần đường (không đi trên vạch sơn trắng dành cho người đi bộ) nên cũng có một phần lỗi. Như vậy, Hội đồng xét xử có căn cứ xác định hành vi của bị cáo Phan Hoàng P đã đủ yếu tố cấu thành tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm b khoản 2 Điều 260 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến trật tự an toàn giao thông. Xét tính nghiêm trọng của tội phạm mà bị cáo đã thực hiện, cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định bằng hình phạt tù có thời hạn nhằm cải tạo, giáo dục bị cáo trở thành người có ích, có ý thức tuân theo pháp luật và các quy tắc của cuộc sống, ngăn ngừa phạm tội mới; đồng thời phòng ngừa và đấu tranh chống tội phạm trong xã hội.

Cáo trạng Viện kiểm sát truy tố bị cáo về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” là có cơ sở, đúng người, đúng tội. Mức hình phạt mà Viện kiểm sát nhân dân Quận 8 đề nghị áp dụng đối với bị cáo là phù hợp, tương xứng với tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội nên có căn cứ chấp nhận. Tuy nhiên, trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bị cáo chưa có tiền án tiền sự, phạm tội lần đầu; người đại diện hợp pháp của bị hại làm đơn xin bãi nại cho bị cáo. Vì vậy, Hội đồng xét xử áp dụng điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) để giảm nhẹ một phần hình phạt đối với bị cáo.

Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 260 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) thì bị cáo còn có thể bị cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm. Hội đồng xét xử xét thấy không cần thiết áp dụng đối với bị cáo.

Về trách nhiệm dân sự: Quá trình điều tra, những người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng của bị hại không có yêu cầu bị cáo bồi thường dân sự nên không xem xét giải quyết.

Về xử lý vật chứng:

- 01 (một) xe mô tô biển số: 50N2-00617, số khung: MH1KF4110KK706649, số máy: KF41E1709331 và 01 (một) Giấy chứng nhận đăng ký xe số 023971, qua xác minh là tài sản của ông Phan Quang D (là bạn của mẹ bị cáo P). Ông D cho bị cáo P mượn xe để làm phương tiện đi làm, hành vi phạm tội của bị cáo P không liên quan đến ông D. Ngày 26/4/2024, Cơ quan điều tra đã Quyết định xử lý vật chứng bằng hình thức trao trả lại xe mô tô và chứng nhận đăng ký xe cho ông Phan Quang D, đồng thời ông D không có ý kiến gì về việc tạm giữ, xử lý vật chứng nên Hội đồng xét xử không xem xét.

- 01 Giấy phép lái xe hạng A1 số 790180149290 là giấy tờ thuộc quyền sở hữu, sử dụng của bị cáo nên trả lại cho bị cáo.

- Dữ liệu điện tử: 01 (một) USB hiệu Apacer, màu xanh đen, dung lượng 14,4 GB chứa đoạn hình ảnh về hành vi phạm tội của bị cáo, có giá trị chứng minh tội phạm nên cần tiếp tục lưu giữ theo hồ sơ vụ án..

Về án phí hình sự sơ thẩm: Căn cứ quy định tại các điều 23, 26 của Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội, bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

- Căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 260; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017);

Xử phạt bị cáo Phan Hoàng P 03 (ba) năm 06 (sáu) tháng tù, về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 16/5/2024.

- Về vật chứng: Căn cứ vào Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) và Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.

Trả lại cho bị cáo Phan Hoàng P:

01 Giấy phép lái xe hạng A1 mang số 790180149290.

Tịch thu lưu theo hồ sơ vụ án:

01 USB hiệu Apacer, màu xanh đen, dung lượng 14,4 GB

(Theo Biên bản giao - nhận tang tài vật ngày 26/9/2024).

- Căn cứ vào các điều 135, 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.

Buộc bị cáo Phan Hoàng P nộp 200.000 (hai trăm ngàn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng của bị hại vắng mặt tại phiên toà có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, tính từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Cỡ chữ