- Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Văn T về Tội tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có - phạm tội chứa chấp hoặc tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có (đ…"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn T phạm Tội tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 47 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ DĨ AN TỈNH BÌNH DƯƠNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 242/2023/HS-ST Ngày 15-8-2023 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ DĨ AN TỈNH BÌNH DƯƠNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thắm
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Bà Hoàng Lệ Chi.
2. Ông Nguyễn Văn Hoàn.
- Thư ký phiên toà: Ông Lê Duy Long, Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An tham gia phiên toà: Bà Vũ Thị Tố Mai, Kiểm sát viên.
Ngày 15 tháng 8 năm 2023 tại Hội trường A, Tòa án nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 233/2023/TLST-HS ngày 06 tháng 7 năm 2023, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 374/2023/QĐXXST-HS ngày 04/8/2023 đối với bị cáo:
Nguyễn Văn T, sinh năm 1986 tại tỉnh Hải Dương; thường trú: Đội 9, thôn Gi, xã Gi, huyện Gi, tỉnh Hải Dương; chỗ ở: 105, đường Nguyễn Thị Kh, khu phố Ch, phường T, thành phố D, tỉnh Bình Dương; nghề nghiệp: Buôn bán xe máy; trình độ học vấn: Lớp 12/12; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; giới tính: Nam; con ông Nguyễn Văn C, sinh năm 1962 và bà Nguyễn Thị Y, sinh năm 1963; bị cáo có 01 em ruột, sinh năm 1988; bị cáo có vợ Trần Thị X, sinh năm 1984; bị cáo có 03 con, lớn sinh năm 2013, nhỏ sinh năm 2020; tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn tạm giữ, tạm giam từ ngày 06/3/2023 đến ngày 15/5/2023 được thay đổi biện pháp ngăn chặn bằng Quyết định bảo lĩnh, có mặt tại phiên tòa.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:
Ông Huỳnh Phương B, sinh năm 1972; thường trú: Ấp Sơn Th, xã V, huyện Th, tỉnh An Giang; tạm trú: 9/13, khu phố H, phường Th, thành phố Th, tỉnh Bình Dương. Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Qua các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Nguyễn Văn T kinh doanh cửa hàng mua bán xe mô tô Minh Anh tại địa chỉ số 105, Nguyễn Thị Kh, khu phố Ch, phường T, thành phố D, tỉnh Bình Dương.
Khoảng 07 giờ 00 phút ngày 06/3/2023, khi T đang ở cửa hàng thì có một thanh niên tên Lộc Phát (chưa rõ lai lịch, địa chỉ) gọi điện muốn bán xe mô tô cho T thì T đồng ý. Qua nói chuyện, T biết Ph bán xe Honda Future không có giấy tờ, đồng thời do đã mua 01 xe Honda Wave trộm cắp của Phát trước đó nên T biết xe Honda Future trên cũng là xe mô tô do trộm cắp mà có nhưng vẫn đồng ý mua. Sau đó cả hai hẹn gặp nhau tại địa điểm gần chung cư Charm thuộc khu phố Th, phường D, thành phố D, tỉnh Bình Dương để kiểm tra xe và thực hiện việc mua bán. Sau khi hẹn với Phát, T nhờ khách hàng (người vừa chuộc xe Sirirus đã cầm cho T trước đó) chở T đến điểm hẹn. Khi đến nơi, T thấy người thanh niên đang đứng cùng với 01 xe Honda Future màu xám, gắn biển số 68M1 – 299.23 thì biết là Phát nên lại gần nói chuyện và kiểm tra xe. Quá trình kiểm tra, T có hỏi lại lần nữa là giấy tờ xe đâu thì Phát nói có giấy phô tô nhưng bị rách và thất lạc, đồng thời khi nhìn vào chìa khóa xe đang cắm trên ổ khoá, T thấy có dấu hiệu bị bẻ khoá, khi T lên xe chạy thử thì chìa khóa rớt ra nên T biết đây là xe do trộm cắp mà có. Do thấy xe còn mới nên T nhận mua xe này với giá 11.000.000đ (mười một triệu đồng), Phát đồng ý. Sau đó T đưa số tiền 11.000.000đ (mười một triệu đồng) cho Ph. Cả hai không làm giấy tờ mua bán và T điều khiển xe Honda Future, gắn biển số 68M1 – 299.23 về kiot trên đường V, khu phố Đ, phường T, thành phố D, tỉnh Bình Dương để cất giấu với ý định chờ một thời gian sẽ thay đổi kết cấu và bán kiếm lời, Ph và người khách của T cũng bỏ đi. Sau đó, T cất giấu xe mô tô và chuẩn bị khóa cửa để đi về nhà thì bị lực lượng Công an phường T, thành phố D tiến hành kiểm tra hành chính, phát hiện xe Honda Future, gắn biển số 68M1 – 299.23, số khung: RLHJC7656MY005430, số máy: JC90E0103400 có dấu hiệu bị cạy khóa, không có giấy tờ xe. Đồng thời, lực lượng Công an phát hiện và thu giữ xe mô tô hiệu Honda Wave S màu xanh đen, biển số: 83P1-601.94 và xe mô tô xe Yamaha Sirius màu đen đỏ biển số: 81AA-097.38 để điều tra làm rõ. Qua tra cứu nhanh xác định xe đã bị thay biển số nên đưa T cùng tang vật liên quan về trụ sở làm việc. Tại Cơ quan Công an, T đầu thú về hành vi phạm tội của mình nên Công an phường Tân Đông Hiệp lập hồ sơ vụ việc và chuyển cho Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Dĩ An để thụ lý, giải quyết theo thẩm quyền.
Qua điều tra xác định, xe mô tô nhãn hiệu Honda Future trên có biển số thật là 67M1 – 812.62, chủ sở hữu là ông Huỳnh Phương B, sinh năm 1972, thường trú: Ấp S, xã V, huyện Th, tỉnh An Giang. Vào khoảng 06 giờ 00 ngày 06/3/2023, anh B dừng xe ăn phở trên đường L thuộc phường B, thành phố Th, tỉnh Bình Dương thì bị kẻ gian bẻ khóa lấy trộm. Ngày 17/3/2023, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Th đã khởi tố vụ án hình sự, về tội “Trộm cắp tài sản”.
Ngoài ra, Công an phường T, thành phố Dĩ An còn tiến hành kiểm tra hành chính cửa hàng mua bán xe mô tô của Nguyễn Văn T phát hiện 03 xe mô tô gồm: 01 xe mô tô kiểu dáng Wave biển số 52F6-7303, 01 xe mô tô kiểu dáng Wave biển số 54Y9-3205, 01 xe mô tô kiểu dáng Dream biển sồ 78H7-6900 có dấu hiệu bị đục số máy, số khung nên đã tạm giữ phương tiện để làm rõ.
Tại Biên bản và Kết luận định giá tài sản trong Tố tụng Hình sự thành phố Th, tỉnh Bình Dương kết luận xe mô tô nhãn hiệu Honda Future FI, màu sơn xanh nâu đen, số khung RLHJC7656MY005430, số máy JC90E0103400, biển số 67M1 – 812.62, trị giá 29.000.000đ (hai mươi chín triệu đồng).
Tại bản kết luận giám định số: 392/KL(01)-KTHS ngày 19/4/2023 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bình Dương, kết luận: Xe mô tô hai bánh kiểu dáng WAVE, nhãn hiệu: ORIENTAL, dung tích xy lanh và số loại không xác định (do không đọc được số khung, số máy), mang biển kiểm soát: 54Y9- 3205; có số khung, số máy (bị mài phá số sâu không đọc được).
Tại bản kết luận giám định số: 392/KL(02)-KTHS ngày 19/4/2023 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bình Dương, kết luận: Xe mô tô hai bánh kiểu dáng WAVE, nhãn hiệu: DAMSAN, dung tích xy lanh và số loại không xác định (do không đọc được số khung, số máy), mang biển kiểm soát: 52F6- 7303; có số khung, số máy (bị mài phá số sâu không đọc được).
Tại bản kết luận giám định số: 392/KL(03)-KTHS ngày 19/4/2023 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bình Dương kết luận: Xe mô tô hai bánh kiểu dáng DREAM, nhãn hiệu: LONCIN, dung tích xy lanh và số loại không xác định (do số khung bị mài phá số sâu không đọc được), mang biển kiểm soát: 78H7-6900; có số khung, số máy (bị mài phá số sâu không đọc được).
Tại bản kết luận giám định số: 392/KL(04)-KTHS ngày 19/4/2023 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bình Dương, kết luận: Xe mô tô hai bánh kiểu dáng HONDA, dung tích xi lanh: 125cm, số loại: JC764 FUTURE FI, mang biển kiểm soát: 68M1-299.23; có số khung, số máy: không đổi (số khung: RLHJC7656MY005430, số máy: JC90E0103400).
Đối với đối tượng tên Ph hiện chưa rõ lai lịch, địa chỉ, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Dĩ An sẽ tiếp tục tiến hành xác minh, làm rõ, xử lý sau.
Tại cáo trạng số 245/CT – VKS – DA ngày 05 tháng 7 năm 2023, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương truy tố bị cáo Nguyễn Văn T về Tội tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có theo quy định tại khoản 1 Điều 323 Bộ luật Hình sự. Tại phiên tòa, trong phần tranh luận đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng khoản 1 Điều 323; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 65 xử phạt bị cáo Nguyễn Văn T từ 01 năm đến 01 năm 06 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 02 năm đến 03 năm.
Về xử lý vật chứng:
Đối với xe mô tô nhãn hiệu Honda Future FI màu xanh - nâu – đen (số khung: RLHJC7656MY005430, số máy: JC90E0103400) đã thu hồi được. Cơ quan CSĐT Công an thành phố Dĩ An đã bàn giao cho Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dương thụ lý, giải quyết theo thẩm quyền.
Đối với 01 xe mô tô kiểu dáng WAVE màu xanh, nhãn hiệu: ORIENTAL, 01 xe mô tô kiểu dáng WAVE màu xanh, nhãn hiệu: DAMSAN, 01 xe mô tô xe kiểu dáng DREAM màu nho, nhãn hiệu: LONCIN thu giữ tại cửa hàng kinh doanh mua bán xe mô tô Minh Anh. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Dĩ An đã trưng cầu giám định tại Phòng Kỹ thuật Hình sự Công an tỉnh Bình Dương thì không giám định được số máy, số khung của xe do bị mài phá sâu nên không xác định được nguồn gốc đối với các xe mô tô trên. Quá trình điều tra, T khai nhận khi mới mở cửa hàng mua bán xe máy, do chưa có điều kiện nên thu mua 03 xe mô tô trên với giá rẻ để bán kiếm lời. Khi mua khách có đưa cho bị cáo T xem giấy chứng nhận đăng ký xe và T nhìn đúng kiểu dáng, biển số xe nên đồng ý mua. Do xe mua giá rẻ nên khi mua bị cáo T không làm hợp đồng mua bán và cũng không xem số khung, số máy xe. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Dĩ An đã đăng báo truy tìm chủ sở hữu nhưng không ai đến liên hệ giải quyết. Vì vậy, đề nghị tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước.
Đối với xe mô tô hiệu Honda Wave S màu xanh đen, biển số: 83P1-601.94 là tài sản của anh Thạch Minh T, sinh năm1992; thường trú: Số 299B, ấp K, phường 8, thành phố S tỉnh Sóc Trăng cầm cố tại dịch vụ cầm đồ Mạnh L, sau đó không có khả năng chuộc lại tài sản nên dịch vụ cầm đồ Mạnh L đã thanh lý bán lại cho T để kiếm lời, không phải là vật chứng trong vụ án. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Dĩ An ra Quyết định xử lý đồ vật, tài liệu trả cho Nguyễn Văn T.
Đối với xe mô tô xe Yamaha Sirius màu đen đỏ biển số: 81AA-097.38 là tài sản của anh Trần Văn Ngọc, sinh năm 2002; thường trú: Thôn H, xã Ia, huyện Ch tỉnh Gia Lai bán cho T, không phải là vật chứng trong vụ án. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Dĩ An ra Quyết định xử lý đồ vật, tài liệu trả cho Nguyễn Văn T.
Đối với biển số: 68M1-299.23, qua xác minh do ông Ngô Văn Mộng, sinh năm 1969; thường trú: Ấp B, xã Th, huyện A, tỉnh Kiên Giang đứng tên chủ sở hữu xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave màu đỏ - đen - bạc số máy: JA39E0520095, số khung: RLHJA3902HY544941 đăng ký ngày 16/10/2018. Tiến hành xác minh nơi cư trú ông M và gia đình hiện tại không còn sinh sống tại địa phương, đi đâu, làm gì không rõ nên cần tịch thu, tiêu huỷ đối với biển số trên.
Đối với biển số: 54Y9-3205 qua xác minh do chị Trần Thị Kim Ng, sinh năm 1986, thường trú: 27/4A, ấp Trung Đ, xã Th, huyện H, thành phố Hồ Chí Minh đứng tên chủ sở hữu xe mô tô nhãn hiệu Max Neo màu xanh số máy: 150FMG043538, số khung: CG1NG81025538 đăng ký ngày 09/10/2000. Chị Ng trình bày đã bán cho một người không rõ nhân thân, lai lịch vào năm 2011, quá trình sử dụng không cho ai mượn xe hay đánh rơi biển số nên nên cần tịch thu, tiêu huỷ đối với biển số trên.
Đối với biển số: 52F6-7303 qua xác minh do anh Đỗ Việt H, sinh năm 1973, thường trú: 61/2, Đường 11, Phường 11, quận G, thành phố Hồ Chí Minh đúng tên chủ sở hữu xe ba bánh nhãn hiệu Newei màu đen xanh sô máy: FMHA-006763, số khung: CX- 61007258 đăng ký ngày 14/9/2006. Tiến hành làm việc với anh Đỗ Việt H trình bày chưa từng mua, sử dụng hay đứng tên dùm ai đối với xe ba bánh trên nên cần tịch thu, tiêu huỷ đối với biển số trên.
Đối với biển số: 78H7-6900 qua xác minh do anh Võ Văn Th, sinh năm 1949; thường trú: Ấp M, xã H, huyện T, tỉnh Phú Yên đứng tên chủ sở hữu xe mô tô nhãn hiệu LONCIN màu nâu số máy: F22002026000, số khung: CG022FY000500 đăng ký ngày 20/01/2006. Tiến hành làm việc với bà Nguyễn Thị Út, sinh năm 1955; thường trú: Khu phố M, thị trấn Ph, huyện T, tỉnh Phú Yên (vợ ông Th) trình bày ông Th từng sở hữu và sử dụng xe mô tô trên, quá trình sử dụng không cho ai mượn hay đánh rơi biển số. Tuy nhiên, năm 2007 ông Th qua đời, do gia đình không có nhu cầu sử dụng nên bán lại cho một người không rõ nhân thân, lai lịch nên nên cần tịch thu, tiêu huỷ đối với biển số trên.
Đối với 01 điện thoại di động hiệu Iphone 14 Promax là phương tiện Nguyễn Văn T dùng để liên lạc với đối tượng tên Phát nên cần tịch thu, sung vào ngân sách Nhà nước.
Tại phiên tòa, bị cáo không tranh luận, đối đáp. Trong phần nói lời sau cùng, bị cáo Nguyễn Văn T xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
Về tố tụng: Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố Dĩ An, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, không có ý kiến hay khiếu nại gì về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Tại cơ quan điều tra, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án không có ý kiến gì. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Vào ngày 06/3/2023, Nguyễn Văn T biết rõ xe mô tô nhãn hiệu Honda Future FI, màu sơn xanh nâu đen, số khung RLHJC7656MY005430, số máy JC90E0103400, biển số 67M1 – 812.62, trị giá 29.000.000đ (hai mươi chín triệu đồng) là do trộm cắp mà có nhưng vẫn mua, sau đó T mang về kiot trên đường V, khu phố Đ, phường T, thành phố D, tỉnh Bình Dương cất giấu, sau đó đem đi tiêu thụ nhằm thu lợi bất chính. Như vậy, hành vi của Nguyễn Văn T đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có” quy định tại khoản 1 Điều 323 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Cáo trạng số 245/CT – VKS – DA ngày 05 tháng 7 năm 2023 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương và luận tội của Kiểm sát viên đề nghị đối với bị cáo là có căn cứ đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.
Tính chất, mức độ của hành vi: Tội phạm do bị cáo thực hiện tuy là ít nghiêm trọng nhưng đã trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu hợp pháp về tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ, gây mất trật tự trị an tại địa phương. Bị cáo là người có năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức rõ hành vi tiêu thụ tài sản do phạm tội mà có là vi phạm pháp luật, nhưng vẫn cố ý thực hiện. Vì vậy, cần xử phạt bị cáo mức hình phạt tương xứng với tính chất, mức độ tội phạm đã thực hiện, có xét đến các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo đủ để giáo dục, cải tạo và có tác dụng đấu tranh phòng ngừa chung.
Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có.
Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa, bị cáo đã thành khẩn khai báo; ăn năn hối cải; phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; bị cáo ra đầu thú. Đây là những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Về nhân thân: Bị cáo có nhân thân tốt, có việc làm ổn định, không có tiền án tiền sự.
Về hình phạt:
- Về hình phạt chính: Xét bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, phạm tội ít nghiêm trọng, bị cáo hiện là trụ cột chính trong gia đình, phải chăm sóc và nuôi dưỡng 03 con còn nhỏ. Kể từ khi được áp dụng biện pháp bảo lĩnh bị cáo luôn chấp hành tốt chính sách pháp luật của Nhà nước và địa phương. Vì vậy, xem xét cho bị cáo được hưởng án treo theo quy định tại Điều 65 Bộ luật Hình sự và Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15/5/2018 và Nghị quyết số 01/2022/NQ-HĐTP ngày 15/4/2022 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao. Do đó, Hội đồng xét xử áp dụng hình phạt tù nhưng cho hưởng án treo, tạo điều kiện cho bị cáo tự cải tạo dưới sự giám sát giáo dục của chính quyền địa phương nơi cư trú cũng không ảnh hưởng đến việc phòng chống tội phạm tại địa phương. Hủy bỏ lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú của Tòa án nhân dân thành phố Dĩ An đối với bị cáo.
- Hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 323 Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017 “Người phạm tội còn bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng”. Tuy nhiên, áp dụng hình phạt tù nhưng cho hưởng án treo cũng đủ sức răn đe, giáo dục nên Hội đồng xét xử quyết định không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
Đối với tên Phát hiện chưa rõ lai lịch, địa chỉ, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Dĩ An sẽ tiếp tục tiến hành xác minh, làm rõ, xử lý sau.
Về xử lý vật chứng:
Đối với xe mô tô nhãn hiệu Honda Future FI màu xanh - nâu – đen (số khung: RLHJC7656MY005430, số máy: JC90E0103400) đã thu hồi được. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Dĩ An đã bàn giao cho Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dương thụ lý, giải quyết theo thẩm quyền là phù hợp.
Đối với 01 xe mô tô kiểu dáng WAVE màu xanh, nhãn hiệu: ORIENTAL, 01 xe mô tô kiểu dáng WAVE màu xanh, nhãn hiệu: DAMSAN, 01 xe mô tô kiểu dáng DREAM màu nho, nhãn hiệu: LONCIN là tài sản bị cáo đã mua nhưng không xác định được người bán, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Dĩ An đã đăng báo truy tìm chủ sở hữu nhưng không ai đến liên hệ giải quyết. Do vậy, cần tịch thu sung vào ngân sách nhà nước.
Đối với xe mô tô hiệu Honda Wave S màu xanh đen, biển số: 83P1-601.94 là tài sản bị cáo T mua lại của cầm đồ M và xe mô tô xe Yamaha Sirius màu đen đỏ biển số: 81AA-097.38 mua lại của anh Trần Văn Ng. Xét đây là tài sản hợp pháp của bị cáo T nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Dĩ An trả cho bị cáo T là phù hợp.
Đối với biển số 68M1-299.23, biển số 54Y9-3205, biển số 52F6-7303 và biển số 78H7-6900, qua xác minh không tìm được chủ sở hữu nên cần tiêu hủy.
Đối với 01 điện thoại di động hiệu Iphone 14 Promax là phương tiện Nguyễn Văn T dùng để liên lạc với đối tượng tên Phát nên cần tịch thu, sung vào ngân sách Nhà nước.
Đối với quan điểm của đại diện Viện kiểm sát thành phố Dĩ An đề nghị áp dụng các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân, mức hình phạt, trách nhiệm dân sự và biện pháp tư pháp là phù hợp nên có cơ sở chấp nhận.
Án phí sơ thẩm: Bị cáo phải nộp theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
1. Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn T phạm Tội tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có.
Áp dụng khoản 1 Điều 323; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 65 Bộ luật Hình sự.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn T 01 (một) năm tù, nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 02 (hai) năm, tính từ ngày tuyên án. Giao bị cáo về cho Ủy ban nhân dân phường Tân Đông Hiệp, thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Trong trường hợp người đang chấp hành thời gian thử thách thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 1 Điều 92 Luật thi hành án hình sự.
Người được hưởng án treo phải thực hiện các nghĩa vụ trong thời gian thử thách theo quy định của luật thi hành án hình sự. Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 (hai) lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
Hủy bỏ Lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú số 140 ngày 06/7/2023 của Tòa án nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương đối với bị cáo.
2. Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm a, b khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017; điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.
Tịch thu sung vào Ngân sách nhà nước 01 xe mô tô kiểu dáng WAVE màu xanh, nhãn hiệu: ORIENTAL; 01 xe mô tô kiểu dáng WAVE màu xanh, nhãn hiệu: DAMSAN, 01 xe mô tô xe kiểu dáng DREAM màu nho, nhãn hiệu: LONCIN.
Tịch thu sung vào Ngân sách nhà nước 01 điện thoại di động hiệu Iphone 14 Promax (đã bị vô hiệu hóa).
Tịch thu tiêu hủy biển số 68M1-299.23; biển số 54Y9-3205; biển số 52F6-7303; biển số 78H7-6900.
(Theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 10/7/2023 giữa Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố Dĩ An với Chi cục thi hành án dân sự thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương).
3. Về án phí hình sự sơ thẩm: Áp dụng khoản 2 Điều 135 Bộ luật Tố tụng Hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội khoá 14 về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.
Bị cáo Nguyễn Văn T phải nộp 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo có mặt được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án vắng mặt được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định.
| Nơi nhận: - Bị cáo (01); - VKSND thành phố Dĩ An (01); - VKSND tỉnh Bình Dương (01); - Công an thành phố Dĩ An (01); - Trại tạm giam CA tỉnh BD (01); - Chi cục THADS thành phố Dĩ An (01); - TAND tỉnh Bình Dương (01); - Sở tư pháp tỉnh Bình Dương (01); - Phòng PV06 CA tỉnh Bình Dương (01); - UBND nơi cư trú của bị cáo (02); - Lưu: VT, HSVA (02). | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Thắm |