vanban.org

Bản án 242/2019/DS-PT — Tranh chấp về thừa kế tài sản

TAND tỉnh Tiền Giang Tuyên án 04/09/2019 Dân sự Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 04/09/2019 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban th ờng vụ Quốc Hội 14.

* Xử: Chấp nhận 01 phần yêu cầu háng cáo của bà Bạch Thị B. Không chấp nhận háng nghị số: 773/QĐKNPT-VKS-DS ngày 06/12/2018 của Viện kiểm sát nh n d n thị xã C, tỉnh T. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp về thừa kế tài sản — án dân sự — "Bạch văn S, bạch Thị B"
  • Tòa quyết gì? Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban th ờng vụ Quốc Hội 14.
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 166 Luật Đất đai; Điều 168 Luật Đất đai
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH TIỀN GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 242/2019/DS-PT
Ngày: 04/9/2019
V/v tranh chấp “Đòi di sản
thừa kế”.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TIỀN GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Kim Em;

Các Thẩm phán: Ông Mai Hoàng Khải.

Bà Nguyễn Thị Sâm Hương.

- Thư ký phiên tòa: Bà Đ ng Thị Thanh Trinh, Th

Tòa án nh n d n tỉnh Tiền Giang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Tiền Giang tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Cẩm Thúy- Kiểm sát viên.

Trong các ngày 29 tháng 8 và ngày 04 tháng 9 năm 2019, tại trụ sở Tòa án nh n d n tỉnh Tiền Giang xét xử phúc thẩm công hai vụ án d n sự thụ l số 60/2019/TLPT-DS ngày 19/02/2019 về việc tranh chấp: “Đòi di sản thừa kế”.

Do Bản án d n sự sơ thẩm số 99/2018/DS-ST ngày 21/11/2018 của Tòa án nh n d n thị xã Cai Lậy, tỉnh Tiền Giang bị háng cáo, bị háng nghị.

Theo Quyết định đ a vụ án ra xét xử số 75/2019/QĐ-PT ngày 22/02/2019 giữa các đ ơng sự:

- Nguyên đơn: Bạch Văn S, sinh năm 1970;

Địa chỉ: ấp Q, xã N, thị xã C, tỉnh T.

Ng ời đại diện theo ủy quyền: Ông Nguyễn Văn D, sinh năm 1957 (có mặt). Địa chỉ: số nhà A, đ ờng L, Ph ờng B, thành phố M, tỉnh T.

Luật s bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của anh Bạch Văn S có ông Phạm Ngọc D – Luật s – văn phòng luật s Phạm Ngọc D – Đoàn luật s tỉnh T (có mặt).

- Bị đơn: Bạch Thị B, sinh năm 1963;

Địa chỉ: ấp Q , xã N , thị xã C , tỉnh T .

Đại diện theo ủy quyền của bà Bạch Thị B có ông Nguyễn Vĩnh L , sinh năm 1976 (có mặt).

Địa chỉ: ấp M , xã M , huyện C , tỉnh T .

Th ờng trú: ấp T , xã Đ , huyện C , tỉnh T.

Theo văn bản ủy quyền ngày 19/3/2019

Luật s bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của bà Bạch Thị B có ông Bùi Lê X – Luật s – văn phòng luật s Bùi Lê X – Đoàn luật s tỉnh T (có mặt).

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

1/ Huỳnh Thị C , sinh năm 1947; (có mặt

Địa chỉ: ấp Q , xã N , thị xã C , tỉnh T .

2/ Tr ơng Thị Nùng K , sinh năm 1986.

Địa chỉ: ấp Qu T , xã N , thị xã C , tỉnh T .

Ng ời đại diện theo ủy quyền: Bạch Thị B , sinh năm 1963 (có mặt)

Địa chỉ: ấp Q , xã N , thị xã C , tỉnh T .

3/Ủy ban nh n d n thị xã C , tỉnh T .

Địa chỉ: đ ờng 30/4, Ph ờng 1, thị xã Cai lậy, tỉnh Tiền Giang.

Ng ời đại diện hợp pháp: Trần Tuấn K. Chức vụ: Phó Chủ tịch. Là ng ời đại diện theo ủy quyền của Chủ tịch Ủy ban nh n d n thị xã C , tỉnh T (có đơn vắng mặt).

+ Ng ời háng cáo: Bị đơn Bạch Thị B .

+ Kháng nghị của Viện kiểm sát nh n d n thị xã C , tỉnh T .

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo bản án sơ thẩm, nguyên đơn Bạch Văn S trình bày:

Cố Bạch Văn H (chết năm 2004 và cố Nguyễn Thị H (chết năm 2002)

có 01 ng ời con là cụ ông Bạch Văn T (chết năm 1970). Cụ ông Bạch Văn T có 01 ng ời con là ông Bạch Văn S . Sinh thời cố H có tạo lập đ ợc 04 thửa đất gồm:

+ Thửa số 262, tờ bản đồ số 02, diện tích 552 m2, loại đất thổ quả (tr ớc

đ y theo hồ sơ 299 là thửa số 1063 ; trên thửa đất có 01 căn nhà;

+ Thửa số 195, tờ bản đồ số 02, diện tích 4.926 m2, loại đất lúa (tr ớc

đ y theo hồ sơ 299 là thửa số 955);

+ Thửa số 159, tờ bản đồ số 02, diện tích 973 m2, loại đất nghĩa địa;

+ Thửa số 160, tờ bản đồ số 02, diện tích 285 m2, loại đất nghĩa địa.

Cả 04 thửa đất trên đều tọa lạc tại ấp Q, xã N, thị xã C, tỉnh T.

Đến năm 1970, cụ T mất thì ông S theo mẹ về quê sinh sống tại xã N và hông quản l đối với các phần đất này. Lúc này, bà Bạch Thị B tiến hành tự chiếm và quản l , sử dụng các thửa đất này mà hông có sự đồng của gia đình ông. Sau này bà B còn tiến hành làm thủ tục cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với 02 thửa đất là thửa số 195 và thửa số 262. Quá trình sử dụng, bà B có cải tạo lại đất thửa 195 để trồng c y l u năm, các thửa đất còn lại bà B hông có cải tạo và hai thác.

Ông S yêu cầu tòa án giải quyết buộc bà B trả lại cho ông 04 thửa đất nêu trên vì ông S là thừa kế duy nhất đối với di sản của cố H. Ông S đồng bồi hoàn các chi phí cải tạo đất và giá trị c y trồng trên đất lại cho bà B, giữ nguyên hiện trạng mồ mả trên thửa đất 159 và thửa đất 160. Tr ờng hợp bà B đồng trả lại 02 phần đất này thì ông S sẽ rút lại một phần yêu cầu khởi kiện. Đồng thời yêu cầu hủy 02 giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số H02662 và số H02623 do UBND huyện C cấp cùng ngày 20/7/2007 cho bà B. Đối với căn nhà trên thửa đất số 262 và phần tiền bồi th ờng giải tỏa 01 phần diện tích thửa đất số 195 để thi công đ ờng tránh thị xã C, ông S hông yêu cầu khởi kiện. Ông S thống nhất kết quả xem xét, thẩm định tại chổ và định giá tài sản của Tòa án nh n d n thị xã C.

*Bị đơn Bạch Thị B trình bày:

Thửa đất số 262 và thửa đất số 195, tờ bản đồ số 2, tọa lạc tại ấp Q, xã N, thị xã C, tỉnh T thuộc quyền sử dụng của cố H, cố H lập hợp đồng tặng cho bà vào năm 2004. Tuy nhiên các bên lập hợp đồng chuyển nh ợng theo yêu cầu của cố H. Nội dung hợp đồng có ghi “cha cho con” là nhằm mục đích tránh nộp thuế. Hợp đồng đ ợc làm theo mẫu quy định đ ợc cố H và bà cùng tên tại nhà, sau đó mang đến nộp Ủy ban nh n d n xã N, huyện C, tỉnh T chứng thực. Trong thời gian chờ cấp giấy chứng nhận thì Ủy ban nh n d n huyện C tỉnh T lại cấp giấy chứng nhận cho cố H, nh ng ch a giao cho cố H, sau đó phát hiện sai nên thu hồi đất để cấp cho bà.

Thửa đất số 159, tờ bản đồ số 2, loại đất nghĩa địa, tạo lạc tại ấp Q, xã N, thị xã C, tỉnh T thuộc quyền sử dụng của cố H và đã đ ợc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Thửa đất số 160, tờ bản đồ số 2 loại đất nghĩa địa tọa lạc tại ấp Q, xã N, thị xã C, tỉnh T do cố H đứng tên Sổ mục ê lập năm 1984. Các thửa đất này tuy bà ch a đ ợc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nh ng cố H đã giao cho bà sử dụng từ năm 2002 để bà quản l mồ mả ông bà và sử dụng vào việc chôn cất các thành viên trong dòng tộc chết.

Bà hông đồng trả lại đất theo yêu cầu khởi kiện của ông S. Đối với yêu cầu hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất là hông đúng vì việc tặng cho giữa bà và cố H là hợp pháp và bà đã đ ợc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo đúng trình tự, thủ tục pháp luật quy định.

Trên thửa đất số 262 có 01 căn nhà thô sơ của cố H hiện đã cũ, hông còn giá trị. Tr ớc đ y, Tr ơng Thị Nùng K có đăng hộ khẩu th ờng trú tại căn nhà này để đ ợc gắn điện kế nh ng hông có c trú tại đó.

Bà thống nhất kết quả xem xét, thẩm định tại chổ và ết quả định giá tài sản của Tòa án nh n d n thị xã C, tỉnh T.

* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Huỳnh Thị C trình bày:

Thống nhất iến trình bày của ông Bạch Văn S. Bà yêu cầu giao hết tài sản thừa kế cho ông Bạch Văn S theo quy định pháp luật.

* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Trương Thị Nùng K trình bày:

Thống nhất nội dung trình bày của bà Bạch Thị B.

* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Ủy ban nhân dân thị xã C, tỉnh T:

Không có iến về vụ tranh chấp giữa các đ ơng sự, đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định pháp luật.

* Bản án sơ thẩm số: 99/2018/DS-ST ngày 21/11/2018 của Tòa án nh n d n thị xã C, tỉnh T căn cứ vào Điều 26, Điều 147, Điều 228 Bộ luật Tố tụng d n sự; Điều 357; Điều 688 Bộ luật d n sự số 91/2015/QH13; Điều 463; Điều 636; Điều 680 Bộ luật d n sự năm 1995; Nghị định 181/2004/NĐ-CP ngày 29/10/2004 của Chính Phủ; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn giảm, thu, nộp, quản l và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Xử:

1. Chấp nhận yêu cầu của ông Bạch Văn S.

Buộc bà Bạch Thị B trả cho ông Bạch Văn S các thửa đất sau:

Thửa đất số 195, tờ bản đồ số 2, diện tích 4967,9 m2 tọa lạc tại ấp Q, xã N, thị xã C, tỉnh T ( èm theo bản vẽ trích đo địa chính thửa đất).

Thửa đất số 262, tờ bản đồ số 2, diện tích 507,1 m2 tọa lạc tại ấp Q, xã N, thị xã C , tỉnh T ( èm theo bản trích vẽ đo địa chính thửa đất).

Thửa đất số 159, tờ bản đồ số 2, diện tích 892,7 m2 tọa lạc tại ấp Q , xã N , thị xã C , tỉnh T ( èm theo bản vẽ trích đo địa chính thửa đất).

Thửa đất số 160, tờ bản đồ số 2, diện tích 285 m2, tọa lạc tại ấp Q , xã N, thị xã C , tỉnh T ( èm theo bản vẽ trích đo địa chính thửa đất).

Hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất có số vào sổ “H”02622 ngày 20/7/2007 do Ủy ban nh n d n huyện C , tỉnh T cấp cho bà Bạch Thị B .

Hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất có số vào sổ “H” 02623 ngày 20/7/2007 do Ủy ban nh n d n huyện C , tỉnh T cấp cho bà Bạch Thị B.

Ông Bạch Văn S có nghĩa vụ đăng quyền sử dụng đất theo quy định pháp luật đất đai.

Ông Bạch Văn S có nghĩa vụ bồi th ờng cho bà Bạch Thị B số tiền 104.861.000 đồng.

Kể từ ngày bà Bạch Thị B có đơn yêu cầu thi hành án, nếu ông Bạch Văn S chậm trả nợ thì hàng tháng còn phải trả lãi theo quy định tại khoản 2 Điều 357 của Bộ luật D n sự số 91/2015/QH13 đối với số tiền chậm trả t ơng ứng với thời gian chậm trả.

*Ngoài ra, án sơ thẩm còn tuyên về án phí và quyền háng cáo của các đ ơng sự theo quy định của pháp luật.

* Ngày 22/11/2018, bị đơn bà Bạch Thị B háng cáo toàn bộ bản án sơ thẩm số 99/2018/DSST ngày 21/11/2018 của Tòa án nh n d n thị xã C, tỉnh T yêu cầu: Hủy bản án sơ thẩm của Tòa án nh n d n thị xã C, theo h ớng hông chấp nhận yêu cầu của ông Bạch Văn S.

* Ngày 06/12/2018 Viện tr ởng Viện kiểm sát nh n d n thị xã C có quyết định háng nghị số 773/QĐKNPT-VKS-DS ngày 06/12/2018 đề nghị Tòa án nh n d n tỉnh T xét xử phúc thẩm theo h ớng hủy án sơ thẩm.

Tại phiên tòa phúc thẩm, đại diện ủy quyền của bị đơn giữ nguyên yêu cầu háng cáo hông chấp nhận yêu cầu của ông Bạch Văn S, đại diện ủy quyền của anh S hông đồng đề nghị giữ nguyên bản án sơ thẩm của Tòa án nh n d n thị xã C.

Hai bên đ ơng sự hông thỏa thuận với nhau về việc giải quyết vụ án.

Luật s bảo vệ quyền lợi cho nguyên đơn cho rằng ông Bạch Văn T là con nuôi của cụ Bạch Văn H và cụ Nguyễn Thị H giấy chứng tử và giấy hôn thú của ông T xác định cụ H1 và cụ H là cha mẹ và qua xác minh những ng ời gần nhà cụ H1 cũng xác định ông Bạch Văn T là con nuôi cụ H 1 và anh Bạch Văn S là con ông T nên ông T chết năm 1970 vậy anh S là thừa kế thế vị của ông T đ ợc h ởng di sản thừa kế của cụ H1 và cụ H là có căn cứ.

Các thửa đất anh S tranh chấp với bà B là tài sản chung của cụ H1 và cụ H nh ng hi cụ H chết cụ H1 định đoạt cho bà B hết là hông phù hợp nên anh S yêu cầu bà B trả lại là có căn cứ Đề nghị Hội đồng xét xử hông chấp nhận yêu cầu háng cáo của bà B giữ nguyên bản án sơ thẩm của Tòa án nh n d n thị xã C.

Luật s bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bị đơn cho rằng ông S hông có giấy tờ chứng cứ gì chứng minh ông T là con nuôi của cụ H và cụ H nên ông T hông thuộc hàng thừa kế của cụ H1 và cụ H nên anh S hông có quyền khởi kiện đòi di sản thừa kế của cụ H1 và cụ H đề nghị Hội đồng xét xử đình chỉ yêu cầu khởi kiện của anh S , hủy bản án d n sự sơ thẩm của Tòa án nh n d n thị xã C.

- Đại diện Viện kiểm sát nh n d n tỉnh T phát biểu:

+ Về tố tụng: Từ khi thụ l , Thẩm phán, Hội đồng xét xử và những ng ời tham gia tố tụng thực hiện đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng D n sự.

+ Về nội dung vụ án: Cụ H1 và cụ H chung sống hông có con chung, theo anh S 02 cụ có xin ông Bạch Văn T làm con nuôi mặc dù hông có giấy tờ con nuôi nh ng giấy chứng tử và giấy kết hôn của ông T xác định cụ H1 và cụ H là cha mẹ của ông T và qua xác minh thì ông T là con nuôi của cụ H1 và cụ H và anh S tranh chấp với bà B là con ông T nên anh S xác định anh là hàng thừa kế của cụ H1 và cụ H là có căn cứ.

Đối với các thửa đất tranh chấp là tài sản của cụ H1 và cụ H , cụ H1 tặng cho phần tài sản của mình cho bà B là hợp pháp, phần của cụ H phát sinh thừa kế Tòa án cấp sơ thẩm ch a xem xét đến phần tài sản của cụ H1 cho bà B nên đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận háng nghị của Viện tr ởng Viện kiểm sát nh n d n Thị Xã C căn cứ khoản 3 Điều 308 Bộ luật tố tụng d n sự hủy bản án sơ thẩm của Tòa án nh n d n thị xã C .

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau hi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã đ ợc thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào ết quả tranh luận tại phiên tòa, lời trình bày của các đ ơng sự, iến của Luật s , iến phát biểu của đại diện Viện kiểm sát. Hội đồng xét xử nhận định:

Xét đơn háng cáo của bị đơn là trong hạn luật định và đã nộp tạm ứng án phí là đúng với quy định tại Điều 271, 272 và 273 của Bộ luật Tố tụng d n sự nên đ ợc xem xét giải quyết theo trình tự phúc thẩm.

Về thẩm quyền giải quyết vụ án, Tòa án nh n d n thị xã C giải quyết vụ án là đúng quy định tại khoản 3 Điều 26, Điều 35 và Điều 39 của Bộ luật Tố tụng d n sự.

Về quan hệ pháp luật tranh chấp: Tòa án nh n d n thị xã C xác định quan hệ pháp luật tranh chấp “Đòi di sản thừa kế” là đúng theo yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn .

Về nội dung vụ án: Xét yêu cầu háng cáo của bị đơn và háng nghị của Viện tr ởng Viện kiểm sát nh n d n thị xã C , Hội đồng xét xử nhận thấy:

Về hàng thừa kế: Tại phiên tòa sơ thẩm bà Huỳnh Thị C (vợ ông T ) xác định ông Bạch Văn T là con ruột cụ Bạch Văn H và cụ Nguyễn Thị H . Tuy nhiên tại phiên tòa phúc thẩm đại diện ủy quyền của nguyên đơn và bà Huỳnh Thị C thừa nhận cụ Bạch Văn H (chết 11/10/2004 và cụ Nguyễn Thị H (chết ngày 20/01/ 2002 chung sống với nhau hông có con chung, 02 cụ có xin ông Bạch Văn T sinh năm 1946 (chết năm 1970 làm con nuôi. Ông Bạch Văn T chung sống với bà Huỳnh Thị C có 03 ng ời con là Bạch Thị M (chết năm 1966) và Bạch Thị M (chết năm 1969 hai ng ời này ch a có chồng con còn lại 01 ng ời con là Bạch Văn S sinh ngày 20/8/1968 (có bản trích lục bộ khai sinh lập ngày 31/7/1970 . Năm 1970 ông T đi lính chết thì bà C dẫn anh S về quê sinh sống hông còn tới lui nuôi d ỡng và chăm sóc cụ H và cụ H . Theo anh S thì sau năm 1975 anh làm lại giấy hai sinh năm 1970 và đ ợc công an xã N xác nhận Bạch Văn S sinh năm 1968 và Bạch Văn S , sinh năm 1970 là 01 ng ời việc trình bày này hông đ ợc bà B thừa nhận nh ng nguyên đơn có cung cấp đ ợc giấy chứng th hôn thú của ông T , bà C lập ngày 30/4/1970, giấy chứng tử của ông T lập ngày 21/10/1970 xác định cha mẹ ông T là con cụ Bạch Văn H và cụ Nguyễn Thị H và qua xác minh những ng ời lớn tuổi sống gần nhà cụ H và cụ H xác định anh Bạch Văn S đang tranh chấp với bà B chính là con ông Bạch Văn T . Theo qui định tại điểm a khoản 1 điều 651 Bộ luật d n sự thì ông Bạch Văn T là hàng thừa kế của cụ H1 , cụ H , ông T chết năm 1970 nh vậy anh Bạch Văn S là thừa kế thế vị theo qui định tại Điều 652 Bộ luật d n sự năm 2015 của ông T.

Về di sản thừa kế: Sinh thời cụ H1 và cụ H có tạo lập đ ợc 04 thửa đất gồm:

+ Thửa số 262, tờ bản đồ số 02, diện tích 552 m2, loại đất thổ quả (tr ớc đ y theo hồ sơ 299 là thửa số 1063 ; trên thửa đất có 01 căn nhà;

+ Thửa số 195, tờ bản đồ số 02, diện tích 4.926 m2, loại đất lúa (tr ớc

đ y theo hồ sơ 299 là thửa số 955);

+ Thửa số 159, tờ bản đồ số 02, diện tích 973 m2, loại đất nghĩa địa;

+ Thửa số 160, tờ bản đồ số 02, diện tích 285 m2, loại đất nghĩa địa.

Cả 04 thửa đất trên đều tọa lạc tại ấp Q, xã N , thị xã C, tỉnh T do cụ H1 đứng tên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ngày 30/8/1993 và đ ợc cấp đổi lại ngày 29/5/2002. Năm 2000 cụ H1 và cụ H già yếu hông có ng ời chăm sóc nên 02 cụ có êu bà Bạch Thị B là cháu ruột êu cụ H bằng bác về ở chăm sóc và canh tác các phần đất trên. Năm 2002 cụ H chết cụ H hông để lại di chúc di sản cho ai. Ngày 31/8/2004 cụ H1 lập hợp đồng chuyển quyền sử dụng đất thửa đất 955 ( nay thửa 195) tờ bản đồ số 02, diện tích 4.926 m2, loại đất lúa và thửa 1063 ( nay thửa 262) tờ bản đồ số 02, diện tích 552 m2, loại đất thổ quả trên thửa đất có 01 căn nhà cho bà Bạch Thị B , hợp đồng đ ợc UBND xã N chứng thực ngày 08/9/2004 bà B đ ợc UBND huyện C cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ngày 12/01/2005 bà B đã quản l canh tác và lập v ờn trồng c y ăn trái từ đó đến nay.

Hội đồng xét xử xét thấy các phần đất trên là tài sản chung của cụ H1 và cụ H, cụ H chết năm 2002 thì 50% tài sản của cụ H trở thành di sản thừa kế, cụ H chết hông để lại di chúc thì 50% di sản của cụ H đ ợc chia thừa kế theo pháp luật. Nh vậy hàng thừa kế của cụ H gồm có cụ H1và anh S.

Đối với thửa đất 955 (nay thửa 195) tờ bản đồ số 02, diện tích 4.926 m2 loại đất lúa và thửa 1063 (nay thửa 262) tờ bản đồ số 02, diện tích 552 m2 loại đất thổ quả trên thửa đất có 01 căn nhà cụ H1 lập hợp đồng chuyển quyền sử dụng đất cho bà Bạch Thị B ngày 31/8/2004 đ ợc UBND xã N chứng thực ngày 08/9/2004 bà B tiếp tục ê hai đăng và đ ợc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ngày 12/01/2005 có tổng diện tích là 5475m2 Trong đó có 50% là di sản của cụ H 2.737,5m2 nh vậy hàng thừa kế của cụ H có 02 ng ời là cụ H1 và anh S thì mỗi ng ời đ ợc chia là 1.368,75m2. Do đó 02 thửa đất trên phần tài sản của cụ H1 và cụ H1 đ ợc h ởng từ cụ H thì cụ H1 quyền sử dụng là 4.106,25m2. Tuy nhiên cụ H1 lại định đoạt tặng cho bà B hết 02 thửa đất trên có diện tích 1.368,75m2 là di sản thừa kế của cụ H là hông phù hợp.

Xét về hợp đồng chuyển quyền sử dụng đất giữa cụ H1 và bà B (là hình thức tặng cho) lập ngày 31/8/2004 đ ợc UBND xã N chứng thực ngày 08/9/2004 bà B tiếp tục ê hai đăng và đ ợc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ngày 12/01/2005. Trong đó cụ H1 chỉ đ ợc định đoạt diện tích đất 4.106,25m2. nh ng cụ H1 lại định đoạt luôn phần di sản thừa kế của cụ H còn lại 1.368,75m2. Tuy nhiên 02 phần đất này sau hi bà B đ ợc cụ H1 tặng cho thì bà B ê hai đăng và đã đ ợc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ngày 12/01/2005 và đ ợc cấp đổi ngày 20/7/2007. Tuy việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của bà B sau ngày cụ H1 chết nh ng từ khi cụ H1 lập hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất cho bà B đến khi cụ H1 chết cụ H1 cũng hông thay đổi chí do đó đ y là quyền định đoạt của cụ H1 về tài sản của mình cho bà B là hợp pháp. Tòa án cấp sơ thẩm căn cứ vào công văn số:714/CNVPĐK ngày 23/5/2018 của Chi nhánh văn phòng đăng quyền sử dụng đất thị xã C xác nhận cho rằng bà B đăng ngày 12/01/2005 là hông phù hợp mà ngày này là bà B đ ợc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất còn ngày đăng Chi nhánh văn phòng đăng quyền sử dụng đất thị xã C cũng hông xác định đ ợc từ đó áp dụng Điều 463 Bộ Luật d n sự 1995 cho rằng hợp đồng tặng cho quyền sử dụng giữa cụ H1 và bà B là hợp đồng hông có hiêu lực hông làm phát sinh quyền và nghĩa vụ là hông có căn cứ do đó hợp đồng chuyển quyền sử dụng đất này đã phát sinh hiệu lực phần tài sản của cụ H1 do đó cụ H1 chết hông còn để lại di sản thừa kế nên anh S yêu cầu bà B trả lại hết toàn bộ 02 thửa có diện tích là 5475m2 và hủy 02 giấy chứng nhận quyền sử dụng đất do bà B đứng tên là hông có căn cứ mà cần giữ nguyên cho bà B đứng tên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.

Đối với 02 thửa đất trên trong đó có diện tích đất 1.368,75m2 là di sản thừa kế của cụ H nh bà B quản l canh tác và lên liếp lập v ờn trồng c y ăn trái từ năm 2002 (sau cụ H chết đến nay, bà B có công chăm sóc nuôi d ỡng, mồ mã thờ cúng cụ H1 và cụ H , giữ gìn, tôn tạo, bảo quản di sản làm tăng giá trị đất từ khi cụ H , cụ H1 chết theo tinh thần của Án lệ số 05/2016/AL đ ợc công bố theo Quyết định số 220/QĐ-CA ngày 06-4-2016 của Chánh án Tòa án nh n d n tối cao thì phải xem xét phần này cho bà B . Nh vậy trong diện tích đất 1.368,75m2 là di sản của cụ H thì bà B cũng đ ợc chia 01 phần là 684,38m2 do đó di sản thừa kế của cụ H còn lại diên tích là 684,38m2 anh S là ng ời thừa kế duy nhất của cụ H nên Hội đồng xét xử chấp nhận 01 phần yêu cầu của anh S buộc bà B trả lại anh S diện tích là 684,38m2. Tuy nhiên diện tích đất này bà B đang quản l lên liếp lập v ờn trồng c y ăn trái do hình thể đất hông chia bằng hiện vật đ ợc nên cần giao cho bà B quản l sử dụng buộc bà B trả lại quyền sử dụng đất bằng giá trị cho anh S.

Theo biên bản định giá tài sản ngày 29/3/2017 của Hội đồng định giá thị xã C thì giá trị chuyển quyền sử dụng đất thửa 195 diện tích 4967,9m2 giá 135.000 đồng/m2 thành tiền là 670.666.500 đồng, thửa 262 diện tích 507,1m2 trong có 252m2 đất trị giá 120.000 đồng/m2 thành tiền là 30.240.000 đồng, đất c y l u năm diện tích 255,1m2 trị giá 55.000 đồng/m2 thành tiền 14.030.500 đồng, tổng cộng là 714.937.000 đồng chia bình qu n thì mỗi m2 trị giá 13.058,21 đồng diện tích đất 684,38m2 trị giá là 89.367.777 đồng. Buộc bà B có nghĩa vụ trả cho anh S số tiền là 89.367.777 đồng.

Đối với thửa đất 159 diện tích 973m2 đo thực tế 892,7m2 do cụ H1 đứng tên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ngày 20/7/2007 và thửa 160 diện tích 285m2 cụ H1 đứng tên sổ địa chính, mục đích sử dụng 02 thửa này là đất nghĩa địa hiện đã chôn cất khoảng 60 ngôi mộ của dòng họ B khi cụ H1 còn sống thì cụ H1 quản l . Theo bà B đến khi cụ H1 gần chết có di chúc miệng giao cho bà quản l chăm sóc mồ mã thờ cúng ông bà, bà đã quản l và chăm sóc mồ mã dòng họ B từ năm 2004 đến nay. Qua xác minh của những ng ời lớn tuổi gần nhà cụ H1 trình bày trùng hớp với lời trình bà của bà B. Anh S mặc dù là hàng thừa kế thế vị của ông T nh ng từ năm 1970 đến nay anh hoàn toàn hông có tới lui chăm sóc ể cả khi cụ H1 và cụ H chết anh hông đến dự đám tang nên hông thể nào giao phần đất nghĩa địa này cho anh quản l . Hơn nữa sau khi tòa án cấp sơ thẩm xét xử giao phần đất này cho anh S những ng ời có th n nh n chôn cất trên phần đất này cũng hông đồng có bản trình bày

iến. Mặc hác mục đích sử dụng 02 thửa đất này là đất nghĩa địa dùng để chôn cất ng ời chết do đó hông phải là di sản thừa kế của cụ H1 nên anh S yêu cầu bà B trả lại 02 thửa đất này là hông có căn cứ nên Hội đồng xét xử hông chấp nhận mà cần giao cho bà Bích tiếp tục quản l .

Từ những ph n tích nêu trên Hội đồng xét xử chấp nhận 01 phần yêu cầu háng cáo của bà B, hông chấp nhận háng nghị của Viện tr ởng Viện kiểm sát nh n d n thị xã C, sửa bản án d n sự sơ thẩm của Tòa án nh n d n thị xã C.

Ý iến và đề nghị của luật s bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn là có căn cứ nên đ ợc chấp nhận một phần.

Ý iến và đề nghị của luật s bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị đơn là hông có căn cứ nên hông đ ợc chấp nhận .

Xét iến của đại diện Viện kiểm sát nh n d n tỉnh T hông phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên hông chấp nhận.

Về án phí : Do háng cáo của bà B chấp nhận 01 phần nên bà B hông chịu án phí phúc thẩm. Án phí d n sự sơ thẩm các đ ơng sự phải chịu theo qui định.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

- Áp dụng Điều 166, 168, 203 của Luật đất đai; Điều 357, 615, 623, 649, 650, 651 Bộ luật d n sự;

- Áp dụng Điều 227, 228 khoản 2 Điều 308 của Bộ luật tố tụng d n sự;

- Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban th ờng vụ Quốc Hội 14.

* Xử: Chấp nhận 01 phần yêu cầu háng cáo của bà Bạch Thị B.

- Không chấp nhận háng nghị số: 773/QĐKNPT-VKS-DS ngày 06/12/2018 của Viện kiểm sát nh n d n thị xã C, tỉnh T.

- Sữa một phần bản án d n sự sơ thẩm số: 99/2018/DS-ST ngày 21 tháng 11 năm 2018 của Tòa án nh n d n thị xã C, tỉnh T.

1/Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của anh Bạch Văn S.

-Công nhận di sản của cụ Nguyễn Thị H còn lại diện tích 1.368,75m2 nằm trong thửa 195 tờ bản đồ số 02 diện tích 4967,9m2, thửa 262 tờ bản đồ số 02 diện tích 507,1m2 tọa lạc tại ấp Q, xã N, thị xã C, tỉnh T do bà Bạch Thị B đứng tên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cấp ngày 20/7/2007.

Trong đó:

Bà Bạch Thị B đ ợc chia 01 phần công nuôi d ỡng thờ cúng cụ H1 và cụ H và quản l di sản với diện tích là 684,38m2

Buộc bà Bạch Thị B trả lại cho anh Bạch Văn S diện tích đất 684,38m2 phần di sản của cụ H bằng giá trị là 89.367.777 đồng.

Thời gian giao nhận tiền hi án có hiệu lực pháp luật.

Bà Bạch Thị B đ ợc tiếp tục quản l sử dụng các thửa đất gồm:

+ Thửa số 262, tờ bản đồ số 02, diện tích 552 m2, loại đất thổ quả (tr ớc đ y theo hồ sơ 299 là thửa số 1063 ; trên thửa đất có 01 căn nhà;

+ Thửa số 195, tờ bản đồ số 02, diện tích 4.926 m2, loại đất lúa (tr ớc

đ y theo hồ sơ 299 là thửa số 955);

Thửa đất 262 và 195 tọa lạc tại ấp Q, xã N, thị xã C, tỉnh T do bà Bạch Thị B đứng tên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cấp ngày 20/7/2007.

Đối với các thửa đất số 159, tờ bản đồ số 02, diện tích 973 m2, loại đất nghĩa địa và thửa số 160, tờ bản đồ số 02, diện tích 285 m2, loại đất nghĩa địa.

Thửa 159 tọa lạc tại ấp Q, xã N, thị xã C, tỉnh T do cụ Bạch Văn H1 đứng tên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cấp ngày 20/7/2007, thửa 160 tọa lạc tại ấp Q, xã N, thị xã C, tỉnh T do cụ Bạch Văn H đứng tên sổ địa chính giao cho bà B tiếp tục quản l làm đất mồ mã cho dòng tộc.

2/ Không chấp nhận yêu cầu của anh Bạch Văn S yêu cầu hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất có số vào sổ “H”02622 ngày 20/7/2007 do Ủy ban nh n d n huyện C, tỉnh T cấp cho bà Bạch Thị Bvà hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất có số vào sổ “H” 02623 ngày 20/7/2007 do Ủy ban nh n d n huyện C, tỉnh T cấp cho bà Bạch Thị B.

Kể từ ngày anh Bạch Văn S có đơn yêu cầu thi hành án nếu bà Bạch Thị B chậm thi hành số tiền trên thì hàng tháng còn phải trả lãi theo qui định tại khoản 2 Điều 357 bộ luật d n sự đối với số tiền chậm trả t ơng ứng với số tiền chậm thi hành án.

Về án phí: Bà Bạch Thị B hông phải chịu án phí d n sự phúc thẩm, bà B phải chịu án phí DS-ST là 4.468.000 đồng bà đã nộp tạm ứng án phí phúc thẩm 300.000 đồng theo biên lai thu số 0001894 ngày 22/11/2018 đ ợc trừ vào án phí bà B còn phải nộp tiếp là 4.168.000 đồng.

Anh Bạch Văn S phải chịu 4.468.000 đồng anh đã nộp tạm ứng án phí d n sự sơ thẩm 200.000 đồng theo biên lai thu số: 02356 ngày 06/4/2016 của Chi cục thi hành án d n sự thị xã C đ ợc cấn trừ anh S còn phải nộp tiếp 4.268.000 đồng.

Tr ờng hợp bản án, quyết định đ ợc thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án d n sự thì ng ời đ ợc thi hành án d n sự, ng ời phải thi hành án d n sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị c ỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án d n sự; thời hiệu thi hành án đ ợc thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật thi hành án d n sự.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Án tuyên vào lúc 08 giờ, ngày 04/9/2019 có mặt các bên đ ơng sự.

Cỡ chữ