- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Chị Hồ Thị Khoe yêu cầu ly hôn Nguyễn Văn Quắn"
- Tòa quyết gì? Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện in ly hôn của chị Hồ Thị K. Cho ly hôn giữa chị Hồ Thị Kvà anh Nguyễn Văn Q
- Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH TỈNH AN GIANG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 242/2018/HNGĐ-ST Ngày: 15-8- 2018 V/v tranh chấp ly hôn |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨAVIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH,TỈNH AN GIANG
-Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phạm Thị Mỹ Dung
Các Hội thẩm nhân dân:
1/ Ông Trần Minh Triển
2/ Ông Nguyễn Nhựt Thảo
-Thư ký phiên toà: Bà Phạm Thị Cẩm Xuyến là Thư ký Tòa án nhân dân huyện Châu Thành.
-Đ i di n i n ki m s t nh n d n huy n h u Thành tham ia phiên tòa: Bà Lê Thị Tố Anh- Kiểm sát viên
Ngày 15 tháng 8 năm 2018 tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Châu Thành t ử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 109/2018/TLST- HNGĐ ngày 16 tháng 4 năm 2018 về tranh chấp ly hôn, tranh chấp nuôi con theo Quyết định đưa vụ án ra t ử số: 163/2018/QĐXXST-HNGĐ ngày 13 tháng 7 năm 2018 giữa các đương sự:
1.Nguyên đơn: Chị Hồ Thị K , sinh năm: 1976 (Có mặt)
Nơi cư trú: Tổ 5, ấp H, TT A, huyện C, tỉnh An Giang
Tạm trú: Số 9/17, khóm B, phường B, Thị ã T, tỉnh Bình Dương
2.Bị đơn: Anh Nguyễn Văn Q , sinh năm: 1971 (Vắng mặt)
Nơi cư trú: Tổ 5, ấp H, TT A, huyện C, tỉnh An Giang.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Tại đơn khởi kiện ly hôn, bản tự khai cùng ngày 05/4/2018 và trong quá trình t ử, nguyên đơn chị Hồ Thị K trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Chị Hồ Thị K và anh Nguyễn Văn Q kết hôn với nhau vào năm 1992, hôn nhân do mai mối, có tổ chức cưới, có đăng ký kết hôn tại UBND thị trấn A. Sau khi kết hôn chị và anh Q về chung sống với cha mẹ chồng, đến năm 1995 chị về cha mẹ chị chung sống, cất nhà ra riêng vợ chồng chung sống hạnh phúc được khoảng 15 năm thì phát sinh mâu thuẩn. Nguyên nhân mâu thuẩn là do bất đồng trong cuộc sống, anh Q sinh ra ăn nhậu thường uyên, không chí thú làm ăn, không quan tâm gia đình vợ con, mỗi khi có rượu vào thường hay mắng chưởi nhục mạ chị vô cớ, thậm chí úc phạm người lớn, chị và anh Q ly thân nhau từ tháng 01 năm 2012 cho đến nay. Nay chị nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên chị yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh Nguyễn Văn Q .
Về con chung: Chị Hồ Thị K e và anh Nguyễn Văn Q có 04 người con chung tên Nguyễn Hoài P, sinh năm: 1994; Nguyễn Hoài B, sinh năm: 1997; Nguyễn Thị Tuyết N, sinh năm: 2000; Nguyễn Nhật T, sinh năm: 2001. Hiện cháu P, cháu B, cháu Nđã trưởng thành. Còn cháu T đang sống với chị K, sau khi ly hôn chị yêu cầu nuôi hai cháu T, không yêu cầu anh Q cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản và nợ chung: Chị Hồ Thị K trình bày không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Bị đơn Nguyễn Văn Q: Sau khi thụ lý vụ án, Tòa án đã tiến hành tống đạt và niêm yết hợp lệ thông báo thụ lý, các thông báo về phiên họp kiểm tra về việc giao nộp tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải nhưng anh Nguyễn Văn Q v n vắng m t các buổi phiên họp giao nộp chứng cứ và hòa giải không có lý do và cũng không có văn bản trình bày ý kiến về yêu cầu in ly hôn của chị Khoe. Tòa án cũng tiến hành ác minh lấy lời khai của anh Q nhưng anh Q vắng m t tại nhà nên không lấy lời khai được.
Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành phát biểu quan điểm cho rằng. Về tố tụng: Thẩm phán, Hội đồng t ử, thư ký phiên tòa và những người tham gia tố tụng trong quá trình thụ lý, giải quyết vụ án đã thực hiện đầy đủ trình tự thủ tục tố tụng được pháp luật quy định tại Bộ Luật Tố tụng Dân sự năm 2015 và các văn bản pháp luật có liên quan. Về nội dung vụ án: Căn cứ vào các chứng cứ thu thập được có trong hồ sơ vụ án, kết quả việc hỏi tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát phát biểu ý kiến đề nghị. Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị K, cho chị K ly hôn với anh Q. Về con chung: cháu P, cháu B, cháu N đã trưởng thành. Còn cháu T giao chị K nuôi dưỡng. Về tài sản: và nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được xem xét tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng. Tòa án nhân dân huyện Châu Thành nhận định:
Về thủ tục tố tụng: Anh Nguyễn Văn Q là bị đơn trong vụ án đã được Tòa án nhân dân huyện Châu Thành tống đạt quyết định đưa vụ án ra t ử, quyết định hoãn phiên toà hợp lệ đến lần thứ hai nhưng anh Q v n vắng m t không lý do. Căn cứ vào Điều 227, Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015. Hội đồng t ử v n tiến hành t ử vắng m t anh Nguyễn Văn Q theo quy định pháp luật.
Về nội dung:
Về quan hệ hôn nhân: Chị Hồ Thị K và anh Nguyễn Văn Q kết hôn với nhau vào năm 1992, hôn nhân do mai mối, có tổ chức cưới, có đăng ký kết hôn tại UBND thị trấn A. Do đó, hôn nhân của anh chị là hợp pháp được pháp luật công nhận và bảo vệ.
Theo chị K trình bày sau khi cưới vợ chồng chung sống hạnh phúc đến năm 15 năm thì phát sinh mâu thuẩn. Nguyên nhân mâu thuẩn là do bất đồng trong cuộc sống, anh Q sinh ra ăn nhậu thường uyên, không chí thú làm ăn, không quan tâm gia đình vợ con, mỗi khi có rượu vào thường hay mắng chưởi nhục mạ chị vô cớ, thậm chi úc phạm người lớn, chị và anh Q ly thân nhau từ tháng 01 năm 2012 cho đến nay. X t thấy với thời gian dài chung sống, khi phát sinh mâu thuẩn nhưng cả hai không tìm ra biện pháp hàn gắn tình cảm vợ chồng d n đến vợ chồng ngày càng thêm mâu thuẩn. Trong thời gian ly thân hai bên không tạo điều kiện để hàn gắn tình cảm vợ chồng. Trong thời gian giải quyết vụ án, m c dù Tòa án đã tống đạt giấy mời nhưng anh Q cũng không đến và cũng không có văn bản gửi cho Tòa án để có ý kiến về việc in ly hôn của chị K . Hiện tại chị K ác định không còn tình cảm với anh Q tại tòa chị v n cương quyết in ly hôn. Do đó, hôn nhân của chị K và anh Q không thể k o dài, mục đích hôn nhân không đạt được, nghĩ nên chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị K là hoàn toàn phù hợp với quy định tại điều 56 của luật hôn nhân gia đình năm 2014.
Về con chung: Chị Hồ Thị K và anh Nguyễn Văn Q có 04 người con chung tên Nguyễn Hoài P, sinh năm: 1994; Nguyễn Hoài B, sinh năm: 1997; Nguyễn Thị Tuyết N, sinh năm: 2000; Nguyễn Nhật T, sinh năm: 2001. Hiện cháu P, cháu B, cháu N đã trưởng thành nên không đ t ra em t. Còn cháu T đang sống với chị K, sau khi ly hôn chị yêu cầu nuôi cháu T, không yêu cầu anh Q cấp dưỡng nuôi con. X t thấy cháu T từ nhỏ đến nay đều sống chung với chị K, cuộc sống hiện tại tương đối ổn định. Ngoài ra tại biên bản lấy lời khai cháu T đề ngày 28/5/2018 thì Cháu T cũng có nguyện vọng muốn ở với chị K. Do đó để không làm ảnh hưởng đến cuộc sống của các cháu, nghĩ nên để chị K được tiếp tục nuôi cháu T là phù hợp. Anh Q không phải cấp dưỡng nuôi con theo như yêu cầu của chị K là hoàn toàn phù hợp.
Về tài sản và nợ chung: Chị Hồ Thị K trình bày không có, nên Hội đồng t ử không đ t ra em t.
Về án phí: Do yêu cầu của Chị Hồ Thị K được chấp nhận nên phải chịu án phí theo quy định pháp luật
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Áp dụng các điều 9, 53, 56, 58 Luật Hôn nhân gia đình 2014, các điều 28, 35, 147, 227, 228, 266, 273 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; Điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
1. Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện in ly hôn của chị Hồ Thị K. Cho ly hôn giữa chị Hồ Thị Kvà anh Nguyễn Văn Q
2. Về nuôi con chung: Chị Hồ Thị K được tiếp tục nuôi dưỡng con chung là cháu Nguyễn Nhật T , sinh năm: 2001. Anh Nguyễn Văn Q không phải cấp dưỡng nuôi con chung. Chị Hồ Thị K phải tạo điều kiện thuận lợi cho anh Q được quyền tới lui thăm nom, chăm sóc con chung không ai được cản trở khi anh thực hiện quyền này.
3. Về tài sản và nợ chung: Chị Hồ Thị K trình bày không có, nên Hội đồng t ử không đ t ra em t
4.Về án phí dân sự sơ thẩm: Chị Hồ Thị K phải chịu 300.000đ án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm, được khấu trừ vào tiền tạm ứng án phí đã nộp tại biên lai thu số 0003432 ngày 16/4/2018 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Châu Thành.
5. Về kháng cáo: Chị Hồ Thị K được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (ngày 15/8/2018). Anh Nguyễn Văn Q được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được tống đạt ho c niêm yết bản án.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo qui định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án ho c bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6,7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - Những người tham gia tố tụng (để thi hành); - TAND tỉnh; -VKSND huyện Châu Thành; -Chi cục THA.DS huyện; -Cơ quan đăng ký kết hôn; -Lưu hồ sơ. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phạm Thị Mỹ Dung |