vanban.org

Bản án 242/2017/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện xin ly hôn của chị Lê Thị T. Chị Lê Thị T được ly hôn anh Tôn Thất V.

Về án phí dân sự sơ thẩm: Chị Lê Thị T phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 300.000 đồng, nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm đã nộp là 300.000 đồng theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 001599 ngày 10/10/2017 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Phú Lộc, tỉnh Thừa Thiên Huế; c… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Chị Lê Thị T yêu cầu ly hôn anh Tôn Thất V"
  • Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện xin ly hôn của chị Lê Thị T. Chị Lê Thị T được ly hôn anh Tôn Thất V.
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ LỘC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TỈNH THỪA THIÊN HUẾ

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 242/2017/HNGĐ-ST
Ngày: 29-12-2017
V/v: Ly hôn

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ LỘC - TỈNH THỪA THIÊN HUẾ

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phan Sang.

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Hồ Sỹ Định.

Ông Nguyễn Đình Phú.

- Thư ký phiên tòa: Bà Đoàn Anh Nga - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Phú Lộc.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Lộc, tỉnh thừa Thiên Huế tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Lợi - Kiểm sát viên.

Ngày 29 tháng 12 năm 2017, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Phú Lộc, xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 174/2017/TLST-HNGĐ ngày 10 tháng 10 năm 2017, về việc ly hôn, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 60/2017/QĐXXST-HNGĐ ngày 06 tháng 12 năm 2017, giữa các đương sự.

- Nguyên đơn: Chị Lê Thị T, sinh năm 1994. Địa chỉ: Thôn N, xã B, huyện H, tỉnh Quảng Nam. Có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.

- Bị đơn: Anh Tôn Thất V, sinh năm 1991. Địa chỉ: Thôn Đ, xã L, huyện P, tỉnh Thừa Thiên Huế. Vắng mặt lần thứ hai.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn xin ly hôn đề ngày 28/7/2017 và các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, nguyên đơn chị Lê Thị T trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Chị Lê Thị T và anh Tôn Thất V tự nguyện thương yêu nhau được thời gian khoảng một năm thì được gia đình hai bên tổ chức lễ cưới. Hai người tự nguyện đăng ký kết hôn ngày 30/7/2013 tại Ủy ban nhân dân xã B, huyện H, tỉnh Quảng Nam. Vợ chồng chung sống với nhau được một thời gian ngắn thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân là do tính tình hai người không hợp nên thường xuyên chửi mắng, xúc phạm nhau. Đến đầu năm 2014, do vợ chồng xảy ra mâu thuẫn nên anh Tôn Thất V bỏ về quê ở xã L, huyện P, tỉnh Thừa Thiên Huế và cắt đứt liên lạc với chị T. Từ đó cho đến nay, vợ chồng sống ly thân, không quan tâm, chăm sóc nhau. Nay nhận thấy mâu thuẫn vợ chồng đã trầm trọng, tình cảm vợ chồng không còn nên chị T yêu cầu được ly hôn anh Tôn Thất V.

Về con chung: Chị Lê Thị T trình bày vợ chồng không có con chung.

Về tài sản chung, nợ chung: Chị Lê Thị T trình bày không có tài sản chung, nợ chung nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Sau khi thụ lý vụ án, Tòa án đã tống đạt thông báo về việc thụ lý vụ án cho anh Tôn Thất V nhưng trong thời hạn luật định anh V không có bản trình bày ý kiến gửi cho Tòa án. Tòa án đã nhiều lần thông báo mở phiên họp kiểm tra việc giao, nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải nhưng anh V đều vắng mặt.

Qua xác minh tại chính quyền địa phương và gia đình anh Tôn Thất V cho biết đã nhận được các văn bản tố tụng của Tòa án tống đạt cho anh V gồm: Thông báo về việc thụ lý vụ án, các thông báo về việc mở phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải. Gia đình đã giao lại tất cả các loại văn bản tố tụng trên cho anh V, anh V cũng muốn được ly hôn chị T do vợ chồng xảy ra mâu thuẫn, sống ly thân nhiều năm nhưng do bận công việc nên anh V không đến Tòa án được.

Tại phiên tòa ngày 21/12/2017, mặc dù Tòa án đã tống đạt hợp lệ Quyết định đưa vụ án ra xét xử, giấy triệu tập đến phiên tòa nhưng anh V vắng mặt lần thứ nhất, Hội đồng xét xử hoãn phiên tòa, ấn định ngày mở lại phiên tòa 29/12/2017 và tống đạt quyết định hoãn phiên tòa, giấy triệu tập cho anh V nhưng anh V tiếp tục vắng mặt tại phiên tòa lần thứ hai.

Phát biểu của Kiểm sát viên tại phiên tòa: Quá trình thụ lý, giải quyết, xét xử vụ án, Thẩm phán và Hội đồng xét xử đã chấp hành đầy đủ các quy định của pháp luật. Nguyên đơn đã chấp hành đầy đủ các quyền và nghĩa vụ theo quy định. Bị đơn không thực hiện đúng các quyền và nghĩa vụ tố tụng, cố tình cản trở, vắng mặt tại các phiên họp, phiên hòa giải, phiên tòa làm ảnh hưởng đến tiến độ giải quyết vụ án. Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147, Điều 227, 228 Bộ luật tố tụng dân sự. Áp dụng khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56 của Luật hôn nhân và gia đình; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Lê Thị T về việc xin ly hôn anh Tôn Thất V. Chị T trình bày vợ chồng không có con chung, tài sản chung, nợ chung, không yêu cầu giải quyết nên không xem xét.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được xem xét, thẩm tra tại phiên toà, nhận định:

Về thủ tục tố tụng: Theo quy định tại Điều 175, Điều 177 của Bộ luật tố tụng dân sự, việc Tòa án tiến hành tống đạt văn bản tố tụng: Thông báo về việc thụ lý vụ án, các thông báo mở phiên họp kiểm tra việc giao nộp tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải, quyết định đưa vụ án ra xét xử, quyết định hoãn phiên tòa, giấy triệu tập anh Tôn Thất V là hợp lệ nhưng anh V cố tình cản trở tố tụng, vắng mặt tại các phiên họp, phiên hòa giải; vắng mặt tại phiên tòa lần thứ hai. Chị Lê Thị T vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện và có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Do đó Hội đồng xét xử căn cứ vào yêu cầu khởi kiện, tài liệu, chứng cứ do nguyên đơn cung cấp để tiến hành giải quyết vụ án theo quy định tại Điều 227, Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự.

Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, Hội đồng xét xử thấy rằng.

Về quan hệ hôn nhân: Chị Lê Thị T và anh Tôn Thất V kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn ngày 30/7/2013 tại Ủy ban nhân dân xã B, huyện H, tỉnh Quảng Nam. Do đó, quan hệ hôn nhân giữa chị T và anh V là quan hệ hôn nhân hợp pháp. Sau khi kết hôn, vợ chồng chung sống với nhau được vài tháng thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là do tính tình không hợp nên hai người thường xuyên cải vã, xúc phạm nhau. Từ đầu năm 2014 cho đến nay, vợ chồng sống ly thân, không liên lạc, quan tâm, chăm sóc cho nhau. Tòa án đã nhiều lần thông báo về việc mở phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải nhưng anh V đều vắng mặt, chứng tỏ mâu thuẫn vợ chồng giữa chị T, anh V đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được nên cần áp dụng khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56 của Luật hôn nhân và gia đình chấp nhận yêu cầu khởi kiện xin ly hôn của chị T.

Về con chung: Chị Lê Thị T trình bày vợ chồng không có con chung nên không xem xét.

Về tài sản chung, nợ chung: Chị Lê Thị T trình bày vợ chồng không có tài sản chung, nợ chung, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không xem xét.

Về án phí dân sự sơ thẩm: Chị Lê Thị T phải chịu án phí dân sự sơ thẩm ly hôn theo quy định tại Điều 147 của Bộ luật tố tụng dân sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147, Điều 227, 228 của Bộ luật tố tụng dân sự.

Áp dụng khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56 của Luật hôn nhân và gia đình;

Áp dụng Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

1. Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện xin ly hôn của chị Lê Thị T. Chị Lê Thị T được ly hôn anh Tôn Thất V.

2. Về án phí dân sự sơ thẩm: Chị Lê Thị T phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 300.000 đồng, nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm đã nộp là 300.000 đồng theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 001599 ngày 10/10/2017 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Phú Lộc, tỉnh Thừa Thiên Huế; chị T đã nộp đủ án phí dân sự sơ thẩm.

Nguyên đơn, bị đơn có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết công khai theo quy định của pháp luật.

Cỡ chữ