vanban.org

Bản án 241/2026/HSST — Hình sự

Tòa án nhân dân khu vực 3 - Hà Nội, TP. Hà Nội Tuyên án 29/04/2026 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Xử phạt: Bị cáo Phạm Hoàng L 09 (Chín) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 18 (Mười tám) tháng về tội “Trộm cắp tài sản”. Thời gian tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Giao bị cáo Phạm Hoàng L cho Ủy ban nhân dân phường V – Q, Thành phố Hà Nội để giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục bị cáo. Trong trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy địn… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Phùng Thị Q T - Tội đánh bạc - đánh bạc (điều 321 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Xử phạt: Bị cáo Phạm Hoàng L 09 (Chín) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 18 (Mười tám) tháng về tội “Trộm cắp tài sản”. Thời gian tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 173 Bộ luật Hình sự; Điều 32 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 3 – HÀ NỘI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 241/2026/HSST
Ngày 29/4/2026

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 3, THÀNH PHỐ HÀ NỘI

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Xuân Phương.

Các Hội thẩm nhân dân: - Bà Nguyễn Thị Dứa.

- Ông Nguyễn Việt Anh.

Thư ký phiên tòa: Bà Hoàng Minh Hường - Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 3, Thành phố Hà Nội.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 3, thành phố Hà Nội tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Phương Đông - Kiểm sát viên.

Ngày 29 tháng 4 năm 2026, tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 3, Thành phố Hà Nội xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 176/2026/TLST-HS ngày 01 tháng 4 năm 2026, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 248/2026/QĐXXST-HS ngày 13 tháng 4 năm 2026; đối với bị cáo:

1. Họ và tên: Phạm Hoàng L, sinh năm 2003; Giới tính: Nam; HKTT: Tổ dân phố T, xã L, tỉnh Thanh Hóa; Nơi cư trú: Số G ngách B, ngõ T, phường V - Q, Thành phố Hà Nội; Nghề nghiệp: Sinh viên; Trình độ văn hóa: 12/12; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Con ông: Phạm Hữu H, sinh năm 1981, con bà Hoàng Thị H1, sinh năm 1982; Gia đình có 02 anh em, bị cáo là con thứ nhất; Vợ, con: Chưa có; Tiền án; tiền sự: Không; theo D chỉ bản số 132 do Công an Thành phố H lập ngày 19/3/2026.

Bị tạm giữ tạm giam từ ngày 24/12/2025 đến ngày 30/12/2025, hiện đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú. Có mặt.

2. Bị hại: Anh Thái Minh S, sinh năm 2006. Vắng mặt.

Trú tại: Ký túc xá B, Đại học B, Thành phố Hà Nội.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

[1] Viện kiểm sát nhân dân khu vực 3, Thành phố Hà Nội truy tố:

Khoảng 16h30 ngày 24/12/2025, Phạm Hoàng L đi bộ lang thang đến khuôn viên Trường Đại học B - số A Đ, phường B, Hà Nội. Khoảng 17h45’ cùng ngày, L đi đến khu vực sân trường trước sảnh nhà D3 thì phát hiện 01 chiếc ba lô màu đen đặt dưới đất, không có người trông giữ. Do không có tiền chi tiêu nên L nảy sinh ý định trộm cắp tài sản bán lấy tiền tiêu xài, L tiến lại gần, dùng tay xách chiếc ba lô nói trên rồi đi về phía khu vực nhà vệ sinh tầng 1 - nhà D5. Phát hiện L trộm cắp chiếc balo trên, anh Nguyễn Mạnh C (SN 2006; Địa chỉ: Xóm T, xã G, tỉnh Ninh Bình) đã đuổi theo L đồng thời thông báo cho bảo vệ là ông Nguyễn Văn D1. Ông D1 đã thông báo cho tổ công tác Công an phường B đang làm nhiệm vụ gần đó để phối hợp. Khi vào đến nhà vệ sinh, L mở chiếc ba lô trộm cắp được ra kiểm tra thấy bên trong có 01 Laptop Lenovo LOQ 2024 màu ghi. Cùng lúc này anh Nguyễn Mạnh C, ông Nguyễn Văn D1 cùng tổ công tác Công an phường B đuổi đến bắt quả tang L. Tại chỗ, L khai nhận chiếc ba lô và L1 nêu trên L vừa trộm cắp được tại sân trường trước sảnh nhà D – Trường đại học B. Lúc này anh Thái Minh S đi đến và xác nhận chiếc ba lô và L1 nhãn hiệu Lenovo trên là của anh S bị trộm cắp. Tổ công tác đã tiến hành lập biên bản, thu giữ tang vật, đưa L và mời những người liên quan về trụ sở Công an phường B để làm rõ.

* Vật chứng thu giữ: 01 (Một) balo màu đen, đã qua sử dụng kích thước: chiều dài 25cm, chiều rộng 15cm, chiều cao 40cm bên trong có chứa: 01 (Một) laptop nhãn hiệu Lenovo LOQ 2024, 15IAX9, C1, 12gb, 512gb, RTX 3050 6gb, màn hình 15.6inch FHD 144Hz, màu ghi đã qua sử dụng.

Cơ quan điều tra đã Yêu cầu định giá tài sản đối với chiếc Laptop nhãn hiệu Lenovo và 01 chiếc ba lô màu đen L trộm cắp. Tại Bản Kết luận định giá tài sản số 05 /KL-HHĐGTS, ngày 08/3/2026, của Hội đồng định giá tài sản trong Tố tụng hình sự phường B, thành phố Hà Nội kết luận: 01 (Một) chiếc balo màu đen, cũ, đã qua sử dụng, không có nhãn mác, xuất xứ, có kích thước: chiều dài 25cm, chiều rộng 15cm, chiều cao 40cm trị giá 100.000 đồng (một trăm nghìn đồng). Tại Bản kết luận định giá tài sản số 01/KL-HHĐGTS ngày 09/01/2026 của Hội đồng định giá tài sản trong Tố tụng hình sự phường B, thành phố Hà Nội kết luận: 01 (Một) laptop nhãn hiệu Lenovo LOQ 2024, 15IAX9, C1, 12gb, 512gb, RTX 3050 6gb, màn hình 15.6inch FHD 144Hz, màu ghi; máy đã qua sử dụng. Có giá: 13.333.000đ (Mười ba triệu ba trăm ba mươi ba nghìn đồng). Tổng giá trị tài sản mà L trộm cắp là 13.433.000 đồng.

Tại Cơ quan điều tra, Phạm Hoàng L khai nhận hành vi của mình đã nêu trên. Lời khai bị can phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án.

Tại Cơ quan điều tra, anh Thái Minh S trình bày ngày 24/12/2025 bị mất chiếc balo bên trong có một chiếc laptop Lenovo Log 2024, phù hợp với nội dung vụ án như trên.

Tiến hành kiểm tra đối với chiếc Laptop Long trộm cắp, tại màn hình khóa đề tên tài khoản: Thái Minh S 017206007547. Anh S nhập mật khẩu và mở khóa màn hình đối với chiếc Laptop trên.

* Về trách nhiệm dân sự: Cơ quan điều tra đã Quyết định xử lý vật chứng bằng hình thức trao trả lại chiếc laptop cùng ba lô nêu trên cho anh Thái Minh S. Sau khi nhận lại tài sản, anh S không có yêu cầu, đề nghị gì khác về dân sự.

Tại bản cáo trạng số 48A/CT-VKS-HM, ngày 30/3/2026 của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 3, Thành phố Hà Nội truy tố bị cáo Phạm Hoàng L về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2025.

[2] Tại phiên tòa:

Bị cáo Phạm Hoàng L thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội và thừa nhận Viện kiểm sát nhân dân khu vực 3, Thành phố Hà Nội truy tố bị cáo về tội “Trộm cắp tài sản” là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật. Bị cáo xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt để sớm được trở về gia đình và hòa nhập xã hội.

Kiểm sát viên nắm quyền công tố tại phiên tòa, giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo như bản cáo trạng. Sau khi phân tích, đánh giá tính chất, mức độ của hành vi phạm tội; nhân thân của bị cáo, Kiểm sát viên đề nghị Hồi đồng xét xử:

Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm đ khoản 1 Điều 32; Điều 38; Điều 65 Bộ luật hình sự; Xử phạt: Bị cáo Phạm Hoàng L từ 9 - 12 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 18 – 24 tháng về tội trộm cắp tài sản, thời gian tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Về hình phạt bổ sung: Bị cáo là sinh viên nên M phạt tiền cho bị cáo.

Về trách nhiệm trách nhiệm dân sự: Bị hại đã nhận lại tài sản và không yêu cầu gì nên không xét.

[3] Phần tranh luận tại phiên tòa: Bị cáo thừa nhận Kiểm sát viên luận tội đối với hành vi phạm tội của mình là đúng người đúng tội, đúng pháp luật, nên không có tranh luận với Kiểm sát viên.

[4] Lời nói sau cùng của bị cáo: Bị cáo rất hối hận về hành vi phạm tội của mình, xin Hội đồng xét xử cho bị cáo được hưởng án treo cải tạo ngoài xã hội, hưởng sự khoan hồng của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an Thành phố H, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân khu vực 3, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo, bị hại không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan điều tra, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

. Xét về hành vi vi phạm bị truy tố:

Tại phiên tòa bị cáo Phạm Hoàng L đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội phù hợp với nội dung cáo trạng đã nêu. Xét lời khai của bị cáo là thống nhất với lời khai tại cơ quan điều tra, phù hợp lời khai của bị hại; người làm chứng; vật chứng thu được của vụ án, kết luận định giá tài sản cùng các tài liệu chứng cứ khác có tại hồ sơ vụ án. Đủ cơ sở kết luận:

Khoảng 17h45’ ngày 24/12/2025, tại khu vực sân trường trước sảnh nhà D3 trường Đại học B - số 1 Đ, phường B, Hà Nội, Phạm Hoàng L có hành vi trộm cắp tài sản là 01 chiếc ba lô màu đen, bên trong có 01 chiếc Laptop Lenovo LOQ 2024 (15IAX9, C1, 12gb, 512gb, RTX 3050 6gb, màn hình 15.6inch FHD 144Hz) màu ghi, tổng trị giá 13.433.000 đồng của anh Thái Minh S. Sau đó bị cáo L mang tài sản trộm cắp được đi đến khu vực nhà vệ sinh tầng 1 nhà D5 trường Đại học B thì bị người dân cùng tổ công tác Công an phường B bắt quả tang cùng vật chứng.

Hành vi nêu trên của bị cáo Phạm Hoàng L đã đủ yếu tố cấu thành “Tội trộm cắp tài sản”, quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự năm 2015, được sửa đổi bổ sung năm 2025.

Bị cáo Phạm Hoàng L là người trưởng thành, có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, do đó cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 3, thành phố Hà Nội truy tố bị cáo về tội danh và điều luật đã viện dẫn trên là đúng người đúng tội, đúng pháp luật.

. Xét về tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội; nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo.

Xét hành vi của bị cáo Phạm Hoàng L là rất nguy hiểm cho xã hội. Xác định hành vi phạm tội của bị cáo là tội phạm ít nghiêm trọng, tài sản bị cáo chiếm đoạt là không lớn, có tổng giá trị là 13.433.000 đồng. Bị cáo đã lợi dụng sự sơ hở của chủ sở hữu tài sản để lén lút chiếm đoạt tài sản, mục đích để bán lấy tiền ăn tiêu thỏa mãn nhu cầu cá nhân. Hành vi của bị cáo đã xâm phạm trực tiếp đến quyền sở hữu về tài sản của cá nhân, cơ quan, tổ chức được pháp luật bảo vệ, gây mất trật tự trị an xã hội. Do vậy, cần phải xử lý nghiêm bị cáo bằng pháp luật hình sự, tương xứng đối với hành vi phạm tội của bị cáo, như vậy mới có tác dụng giáo dục riêng đối với bị cáo và phòng ngừa chung cho xã hội.

Về nhân thân: Bị cáo không có tiền án, tiền sự;

Về tình tiết tăng nặng TNHS: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng TNHS.

Về tình tiết giảm nhẹ TNHS: Trong quá trình điều tra, cũng như tại phiên tòa hôm nay bị cáo đều nhận tội và thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; gia đình bị cáo có nhiều huân huy chương kháng chiến chống Mỹ; bị hại cũng có đơn xin giảm nhẹ hình phạt; thời điểm phạm tội bị cáo là sinh viên, nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm i, s khoản 1 khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự;

Xét bị cáo là người có nhân thân tốt; có nhiều tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự; Bản thân bị cáo có nơi cư trú rõ ràng. Do vậy không cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội, áp dụng Điều 65 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo hình phạt tù nhưng cho hưởng án treo và ấn định thời gian thử thách. Giao bị cáo cho chính quyền địa phương nơi cư trú và gia đình bị cáo giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách của án treo.

Đối với tội phạm về xâm phạm quyền sở hữu, ngoài hình phạt chính bị cáo còn có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung bằng tiền, tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản. Hội đồng xét xử, xét bị cáo không có công việc và thu nhập ổn định, không có tài sản riêng lớn, bị cáo là sinh viên nên không có khả năng thi hành hình phạt bổ sung, do vậy không áp dụng hình phạt bổ sung bằng tiền đối với bị cáo theo quy định tại khoản 5 điều 173 Bộ luật hình sự năm 2015, được sửa đổi bổ sung năm 2025.

Biện pháp tư pháp và các vấn đề khác: Không xét.

- Về trách nhiệm dân sự: Bị hại anh Thái Minh S đã nhận lại tài sản và không yêu cầu gì nên không xét.

Án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Về quyền kháng cáo: Bị cáo; bị hại có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào:

Khoản 1 Điều 173; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm đ khoản 1 Điều 32; Điều 38; Điều 65 Bộ luật hình sự năm 2015, được sửa đổi bổ sung năm 2025.

Điều 89, 135, 136, 331, 333, 336, 337 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015;

Điều 23, Điều 24 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

1. Xử phạt: Bị cáo Phạm Hoàng L 09 (Chín) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 18 (Mười tám) tháng về tội “Trộm cắp tài sản”. Thời gian tính từ ngày tuyên án sơ thẩm. (đã bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 24/12/2025 đến ngày 30/12/2025).

Giao bị cáo Phạm Hoàng L cho Ủy ban nhân dân phường V – Q, Thành phố Hà Nội để giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục bị cáo. Trong trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định của pháp luật về thi hành án hình sự.

“Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc người đó phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo. Trường hợp thực hiện hành vi phạm tội mới thì Tòa án buộc người đó phải chấp hành hình phạt của bản án trước và tổng hợp với hình phạt của bản án mới theo quy định tại Điều 56 của Bộ luật hình sự”.

Miễn hình phạt bổ sung bằng tiền đối với bị cáo.

2. Về trách nhiệm dân sự: Bị hại anh Thái Minh S đã nhận lại tài sản và không yêu cầu gì, nên HĐXX không xét.

3. Biện pháp tư pháp: Không xét.

4. Về án phí HSST: Bị cáo Phạm Hoàng L phải nộp 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm;

5. Về quyền kháng cáo: Bị cáo có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Bị hại vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Cỡ chữ