vanban.org

Bản án 241/2025/HSST — Hình sự

Tòa án nhân dân khu vực 1 - Hà Nội, TP. Hà Nội Tuyên án 19/12/2025 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Khắc P phạm tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản”.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Khắc P 12 (Mười hai) tháng tù. Tổng hợp hình phạt tù tại Bản án số 02/2022/HSST ngày 17/01/2022 của Tòa án nhân dân tỉnh Phú Thọ xử phạt bị cáo 15 năm tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” và tội “Sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức”, buộc bị cáo Nguyễn Khắc P phải chấp … Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Khắc P - phạm tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản (điều 175 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Nguyễn Khắc P phạm tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 175 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 1 – HÀ NỘI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 241/2025/HSST
Ngày 19 tháng 12 năm 2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 1 - HÀ NỘI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trương Thị Thu Hương - Thẩm phán.

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Thị Thiên Thuận

Ông Nguyễn Văn Kình

Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Linh Chi - Thư ký Tòa án.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 1 – Hà Nội tham gia phiên tòa:

Bà Nguyễn Kim Ngân - Kiểm sát viên.

Ngày 19 tháng 12 năm 2025, tại Trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 1 - Hà Nội xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 233/2025/TLST-HS ngày 25 tháng 11 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 452/2025/QĐXXST-HS ngày 28 tháng 11 năm 2025, đối với bị cáo:

Họ và tên: Nguyễn Khắc P; Giới tính: Nam; Sinh năm: 1983; ĐKHKTT: Khu 1, xã V, tỉnh Phú Thọ; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Không; Trình độ học vấn: 12/12; Họ tên cha: Nguyễn Khắc Đ – sinh năm: 1957; Họ tên mẹ: Nguyễn Thị T – sinh năm: 1960; Gia đình có 03 anh em, bị cáo là con thứ nhất; Họ và tên vợ: Phùng Thị Phương T – sinh năm: 1988; Có 02 con: Con lớn sinh năm 2010, con nhỏ sinh năm 2012.

Tiền án, tiền sự: Bản án số 02/2022/HSST ngày 17/01/2022 của Tòa án nhân dân tỉnh Phú Thọ xử phạt Nguyễn Khắc P 15 năm tù về tội Lừa đảo chiếm đoạt tài sản và tội Sử dụng con dấu hoặc tại liệu giả của cơ quan, tổ chức. Thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giam ngày 16/3/2021.

Hiện nay bị cáo đang chấp hành án phạt tù tại Trại giam T, Bộ Công an, tỉnh Phú Thọ. Tại thời điểm P thực hiện hành vi phạm tội đối với bà Ngô Thị H, bản án trên chưa được xét xử do đó lần phạm tội này không phải trường hợp tái phạm.

Hiện Cơ quan điều tra đã trích xuất bị cáo Nguyễn Khắc P về Trại tạm giam số 1 Công an thành phố Hà Nội phục vụ điều tra, truy tố, xét xử. (Bị cáo có mặt tại phiên tòa).

* Bị hại: Bà Ngô Thị H. Sinh năm 1983. HKTT: Số 4 phố B, phường H, thành phố Hà Nội. Nơi ở: Số 202 phố P, phường B1, thành phố Hà Nội. (Có đơn xin vắng mặt)

* Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan: Ông Nguyễn Khắc Đ. Sinh năm 1957. Nơi cư trú: Khu 1, xã V, tỉnh Phú Thọ. (Có đơn xin vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Nguyễn Khắc P (sinh năm: 1983; nơi cư trú: Khu 1, xã V, tỉnh Phú Thọ) là đối tượng không có công ăn việc làm ổn định, gây ra nhiều vụ án lừa đảo chiếm đoạt tài sản tại địa bàn tỉnh Phú Thọ (cũ) và tỉnh Yên Bái (cũ) vào cuối năm 2019. Ngày 26/9/2020, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện H (cũ), tỉnh Phú Thọ đã khởi tố vụ án hình sự “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” và “Sử dụng tài liệu giả của cơ quan tổ chức” xảy ra vào tháng 9/2019 tại huyện H (cũ), tỉnh Phú Thọ để điều tra, trong đó P là đối tượng chính trong vụ án; ngày 30/9/2020 Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Yên Bái (cũ), tỉnh Yên Bái đã ra Quyết định khởi tố vụ án hình sự, khởi tố bị can và lệnh bắt bị can để tạm giam đối với P về hành vi “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” xảy ra vào tháng 9/2019 tại thành phố Yên Bái (cũ), tỉnh Yên Bái để điều tra. Tuy nhiên, P đã bỏ trốn khỏi địa phương.

Trong thời gian bỏ trốn, P đã sử dụng ảnh chân dung của mình thay vào ảnh trong Giấy chứng minh thư nhân dân số 132071469 mang tên Nguyễn Văn Đ, sinh ngày: 05/02/1991, nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: xã L, huyện H, tỉnh Phú Thọ (cũ) do Công an tỉnh Phú Thọ cấp ngày 10/10/2011 mà P đã nhặt được của anh Nguyễn Văn Đ (sinh năm: 1991; nơi cư trú: Khu 2, xã V, tỉnh Phú Thọ) trước đó vào khoảng tháng 8/2020 với mục đích đi xin việc làm. Khoảng tháng 9/2020, P mang Giấy chứng minh thư nhân dân đã thay ảnh trên đến xin việc làm tại cửa hàng kinh doanh bìa cac-tông của bà Ngô Thị H (sinh năm: 1983; nơi cư trú: số 4 phố B, phường H, thành phố Hà Nội). Bà H đồng ý thuê P làm việc và thỏa thuận hợp đồng miệng với P về mức lương là 6.000.000đ/tháng, bao ăn, ở. Công việc của P là bốc xếp bìa cac-tông lên xe tải tại cơ sở 363 phố H, phường N, thành phố Hà Nội và cơ sở số 4 phố H1, phường B1, thành phố Hà Nội. Bà H thuê phòng trọ tại số 202 phố P, phường B1, thành phố Hà Nội cho P ăn ở. Trong thời gian làm việc tại đây, P dùng tên giả là Nguyễn Văn Đ.

Ngày 28/10/2020, bà H giao việc cho P đến địa chỉ số 10 ngõ 28 phố N, phường H2, thành phố Hà Nội để bốc hàng lên xe ô tô tải. Bà H đã giao cho PPhúc xe máy Honda Wave BKS: 29Y9-6187 để đi bốc hàng đồng thời đưa cho P số tiền 10.000.000 đồng (mười triệu đồng) và dặn trả cho bà Nguyễn Nữ Phi Nga N (sinh năm: 1963; nơi cư trú: số 10 ngõ 28 phố S, phường H2 , thành phố Hà Nội) sau khi bốc, nhập hàng xong. Sau khi nhận tài sản trên từ bà H, P nhận được thông tin Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Yên Bái (cũ), tỉnh Yên Bái đang truy tìm nhằm thực hiện lệnh bắt bị can để tạm giam đối với P. Do vậy P đã không đến số 10 ngõ 28 phố S. phường H2, thành phố Hà Nội để bốc hàng mà về nhà trọ tại số 202 P, phường B1, thành phố Hà Nội để lấy đồ đạc cá nhân để bỏ trốn đồng thời chiếm đoạt luôn những tài sản trên của bà h. Đối với số tiền 10.000.000 đồng (mười triệu đồng) P đã chi tiêu cá nhân hết. Khoảng tháng 11/2020, P bị mất trộm chiếc xe máy Honda Wave BKS: 29Y9-6187 tại khu vực thị trấn T1, Hà Nội. Do đây là tài sản lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt được của bà H nên P đã không trình báo sự việc mất xe máy đến cơ quan Công an.

Sau khi bị P chiếm đoạt tài sản, bà H liên lạc cho P không được. Do lúc này vẫn nghĩ P tên là Nguyễn Văn Đ nên bà H đã có đơn gửi cơ quan Công an tố giác Nguyễn Văn Đ có hành vi lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản của mình. Đến tháng 7/2025, CQCSĐT – Công an thành phố Hà Nội đã phát hiện người mang tên Nguyễn Văn Đ mà bà H tố giác chính là Nguyễn Khắc P, lúc này đang chấp hành án tại Trại giam T, Bộ Công an, tỉnh Phú Thọ.

Tại Cơ quan điều tra, bị can Nguyễn Khắc P đã thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội của mình như đã nêu trên.

Kết luận định giá tài sản số 745/KL-HĐĐGTS ngày 14/8/2025 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thành phố Hà Nội xác định giá trị xe máy Honda Wave BKS: 29Y9-6187 màu đen đã qua sử dụng, đăng ký lần đầu ngày 07/12/2007 tại thời điểm ngày 28/10/2020 là 8.100.000 đồng (tám triệu một trăm nghìn đồng). (BL: 99 – 100)

Cơ quan điều tra đã tiến hành làm việc với anh Nguyễn Văn Đ, anh Đ cho biết: Ngày 10/10/2011, anh Đ được Công an tỉnh Phú Thọ cấp Giấy chứng minh thư nhân dân số 132071469. Khoảng tháng 8/2020, do sơ suất anh Đ đánh rơi Giấy chứng minh thư trên và đã trình báo Công an huyện H (cũ), tỉnh Phú Thọ để đề nghị cấp lại. Ngày 09/09/2020, anh Đ được Công an tỉnh Phú Thọ cấp lại Giấy chứng minh nhân dân mới. Sau khi được Cơ quan điều tra mời làm việc cho xem bản phô tô ảnh Chứng minh thư cũ đã bị mất anh Đ nhận ra ảnh trong chứng minh thư này là của đối tượng Nguyễn Khắc P (bởi anh Đ cùng quê và biết P trước đó). (BL: 68 – 69)

Đối với xe máy Honda Wave BKS: 29Y9-6187: Cơ quan điều tra đã làm việc với anh Lê Đức T (sinh năm: 1980; nơi cư trú: 39C tổ 7G phố S1, phường Đ1 thành phố Hà Nội) là người đứng tên trên Đ ký xe máy Honda Wave BKS: 29Y9-6187. Tiến hành tra cứu dữ liệu đăng ký xe máy của phòng Cảnh sát giao thông - Công an thành phố Hà Nội và tra cứu xe máy vật chứng tại phòng Cảnh sát hình sự - Công an thành phố Hà Nội xác định: Xe máy Honda Wave BKS: 29Y9-6187 thuộc sở hữu của bà Ngô Thị H. Trước đó, anh Lê Đức T là chủ sở hữu và đăng ký lần đầu ngày 07/12/2007. Năm 2018, bà H mua lại xe máy trên của anh Lê Đức T. Tuy nhiên, bà H vẫn chưa sang tên Đăng ký xe máy mà vẫn đứng tên anh T. Do bị thất lạc bản gốc Giấy đăng ký xe máy Honda Wave BKS: 29Y9-6187 nên bà H không cung cấp được cho cơ quan điều tra để tiến hành giám định. Xe máy Honda Wave BKS: 29Y9-6187 không có trong cơ sở dữ liệu xe máy vật chứng. Cơ quan điều tra đã ra quyết định truy tìm đối với xe máy Honda Wave BKS: 29Y9-6187 đến nay chưa có kết quả. Do vậy, cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Hà Nội ra quyết định tách hành vi và tài liệu liên quan trong vụ án hình sự trên đối với xe máy Honda Wave BKS: 29Y9-6187 đến khi tìm được sẽ xử lý theo quy định của pháp luật. (BL: 106)

Về trách nhiệm dân sự: Ông Nguyễn Khắc Đ (sinh năm: 1957; nơi cư trú: Khu 1, xã V, tỉnh Phú Thọ) là bố đẻ của bị cáo Nguyễn Khắc P đã khắc phục cho bà Ngô Thị H số tiền 18.00.000 đồng (Mười tám triệu đồng). Bà H đã nhận đủ số tiền khắc phục, không yêu cầu gì thêm, không có ý kiến thắc mắc, đề nghị gì liên quan đến tài sản bị P chiếm đoạt đồng thời có đơn đề nghị cơ quan thi hành pháp luật miễn giảm trách nhiệm hình sự đối với bị cáo P. (BL: 66 – 67)

Tại bản cáo trạng số 46/CT-VKSKV1 ngày 19/11/2025 của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 1 – Hà Nội truy tố Nguyễn Khắc P phạm tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản” theo điểm a khoản 1 Điều 175 của Bộ Luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

Tại phiên tòa: Bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội đúng như cáo trạng truy tố. Bị cáo cũng có tác động đến gia đình để đi bồi thường thay cho bị cáo. Số tiền 18 triệu đồng bồi thường cho bà H là tiền của bị cáo gửi gia đình từ trước.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 1 – Hà Nội giữ nguyên quan điểm trong cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 175; điểm b, s khoản 1 Điều 51, Điều 38, Điều 56 Bộ Luật Hình sự năm 2015, xử phạt bị cáo với mức án từ 12 tháng đến 18 tháng tù. Tổng hợp hình phạt chung cả 2 bản án, buộc bị cáo phải chấp hành mức án từ 16 năm tù đến 16 năm 06 tháng tù.

Về trách nhiệm dân sự: Không

Nói lời sau cùng, bị cáo xin được giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra- Công an thành phố Hà Nội, Viện kiểm sát nhân dân khu vực 1 – Hà Nội, của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Về hành vi của bị cáo: Nguyễn Khắc P được bà Ngô Thị H nhận vào làm việc và bố trí cho P ăn ở tại địa chỉ 202 phố P, phường B1, Hà Nội. Ngày 28/10/2020, bà H giao cho P 10.000.000 đồng và xe máy Honda Wave BKS: 29Y9-6187 (trị giá 8.100.000 đồng) để đi bốc dỡ hàng và thanh toán. Sau đó, P không thực hiện nhiệm vụ và bỏ trốn, chiếm đoạt 02 tài sản nêu trên của bà H. Tổng giá trị tài sản P chiếm đoạt của bà H là 18.100.000 đồng.

Hành vi của bị cáo đã phạm vào tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản”. được quy định tại điểm a khoản 1 Điều 175 Bộ luật hình sự năm 2015. Cáo trạng truy tố bị cáo về tội danh và điều luật như trên là có căn cứ, đúng pháp luật.

Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm quyền sở hữu tài sản của công dân được pháp luật bảo vệ, gây mất trật tự trị an trên địa bàn thành phố. Bị cáo nhận thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật nhưng vẫn cố tình thực hiện. Do đó cần phải có biện pháp xử lý nghiêm khắc để giáo dục cải tạo bị cáo thành người có ích cho xã hội, đồng thời đảm bảo tính phòng ngừa chung.

Tình tiết tăng nặng, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Tình tiết tăng nặng: Không

Tình tiết giảm nhẹ: Bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; Bị cáo đã tự nguyện bồi thường cho bị hại, đây là những là tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại điểm b, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

Về nhân thân: Tại thời điểm Nguyễn Khắc P thực hiện hành vi phạm tội đối với bà Ngô Thị H, bản án số 02/2022/HSST ngày 17/01/2022 của Tòa án nhân dân tỉnh Phú Thọ xử phạt Nguyễn Khắc P 15 năm tù về tội Lừa đảo chiếm đoạt tài sản và tội Sử dụng con dấu hoặc tài liệu giả của cơ quan, tổ chức chưa được xét xử do đó lần phạm tội này không phải trường hợp tái phạm. Tuy nhiên, cũng phản ánh bị cáo có nhân thân xấu.

Về trách nhiệm dân sự:

- Bà H đã nhận 18 triệu đồng do bị cáo bồi thường. Đối với số tiền 100.000 đồng, bà H không yêu cầu bị cáo phải trả lại và cũng không có yêu cầu Tòa án giải quyết.

- Ông Nguyễn Khắc Đ chỉ đi là người đi nộp thay cho bị cáo, số tiền 18 triệu đồng bồi thường là tiền của bị cáo nên ông không liên quan. Vì vậy, ông không yêu cầu Tòa án giải quyết vấn đề gì.

Về hình phạt bổ sung: Không

Bị cáo phải nộp án phí theo qui định của pháp luật.

Bị cáo, bị hại, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

1. Tuyên bố bị cáo Nguyễn Khắc P phạm tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản”.

2. Áp dụng điểm a khoản 1 điều 175 ; điểm b, s khoản 1 Điều 51; Điều 56; Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Khắc P 12 (Mười hai) tháng tù. Tổng hợp hình phạt tù tại Bản án số 02/2022/HSST ngày 17/01/2022 của Tòa án nhân dân tỉnh Phú Thọ xử phạt bị cáo 15 năm tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” và tội “Sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức”, buộc bị cáo Nguyễn Khắc P phải chấp hành hình phạt tù của cả hai bản án là 16 năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 16/3/2021.

3. Về trách nhiệm dân sự: Không

4. Về án phí: Áp dụng Nghị quyết số 326/2016/UBNTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội qui định về mức thu, miễn giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Bị cáo Nguyễn Khắc P phải nộp 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

Án xử công khai. Bị cáo có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên toà có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết.

Cỡ chữ