- Tranh chấp gì? án hình sự — "Đỗ Mạnh A - phạm tội mua bán trái phép chất ma túy (điều 251 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Đỗ Mạnh A phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự và Nghị
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN K THÀNH PHỐ HÀ NỘI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số 241/2023/HS-ST Ngày 14/12/2023 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN K, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Như Trọng.
Các Hội thẩm nhân dân:
Bà Nguyễn Thị Kim Hoa;
Ông Lương Văn Thoại.
Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Tiến Đạt – Thư ký Toà án nhân dân huyện K, thành phố Hà Nội.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện K, thành phố Hà Nội tham gia phiên tòa: Ông PA Xuân Dũng – Kiểm sát viên.
Ngày 14 tháng 12 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện K xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 244/2023/TLST-HS ngày 27 tháng 11 năm 2023 theo Quyết định đưa ra xét xử số 247/2023/QĐXXST-HS ngày 29 tháng 11 năm 2023, đối với bị cáo:
Đỗ Mạnh A, sinh năm 1982; đăng ký hộ khẩu thường trú và nơi cư trú: Thôn A1, xã A2, huyện K, thành phố Hà Nội; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; giới tính: Nam; trình độ học vấn: 12/12; nghề nghiệp: Lao động tự do; con ông Đỗ Văn A3 và con bà Dương Thị A4; gia đình có 02 anh em, bị cáo là con thứ nhất; họ tên vợ: Đỗ Thị A5, sinh năm 1987; vợ chồng bị cáo có 02 con, con lớn sinh năm 2013, con nhỏ sinh năm 2015; tiền án: Bản án số 76/2017/HS-ST ngày 21/06/2017 của Tòa án nhân dân huyện K, thành phố Hà Nội, xử phạt Đỗ Mạnh A 07 năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, chấp hành xong hình phạt tù ngày 14/10/2021, chưa được xóa án tích; tiền sự: Không; nhân thân: Ngày 25/07/2003, Đỗ Mạnh A bị Công an huyện K xử phạt vi phạm hành chính về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy, đã hết thời hiệu; Bản án số 36/HSST ngày 18/06/2004 của Tòa án nhân dân huyện K, thành phố Hà Nội, xử phạt Đỗ Mạnh A 08 tháng tù về tội “Đánh bạc” nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 16 tháng, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm, đã xóa án tích.
Bị cáo bị bắt quả tang, tạm giữ từ ngày 12/10/2023 đến ngày 18/10/2023 chuyển tạm giam. Hiện đang bị áp dụng biện pháp tạm giam tại Nhà tạm giữ, Công an huyện K, có mặt tại phiên tòa.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Anh Lê N A, sinh năm 1980; nơi cư trú: Tổ dân phố B, thị trấn B1, huyện K, thành phố Hà Nội, vắng mặt tại phiên tòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 17 giờ ngày 12/10/2023, Công an xã B2phối hợp với Đội Cảnh sát điều tra tội phạm về Ma túy - Công an huyện K làm nhiệm vụ tuần tra tại khu vực cầu A1, xã A2, huyện K, Hà Nội kiểm tra, phát hiện bắt quả tang Đỗ Mạnh A, sinh năm 1982; ĐKHKTT: Thôn A1, xã A2, huyện K, Hà Nội đang có hành vi bán ma túy cho đối tượng Lê N A, sinh năm 1980; ĐKHKTT: Tổ dân phố B, thị trấn B1, huyện K, Hà Nội. Tổ công tác đã lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, thu giữ vật chứng và đưa các đối tượng về trụ sở làm việc.
Vật chứng thu giữ của Đỗ Mạnh A: 01 gói giấy màu trắng bên trong chứa chất bột màu trắng; số tiền 1.000.000 đồng tiền ngân hàng nhà nước Việt Nam đang lưu hành và 01 xe máy nhãn hiệu Honda AIRBLADE màu đỏ đen, BKS: 29N1-289.39, số máy: JF46E4256043, số khung: RLHJF4602 DX602326, xe đã qua sử dụng.
Thu giữ của đối tượng Lê N A: 01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia màu xanh đã qua sử dụng bên trong lắp sim số 0912787680.
Ngày 13/10/2023, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện K tiến hành khám xét nơi ở của Đỗ Mạnh A tại thôn A1, xã A2, huyện K, Hà Nội nhưng không phát hiện đồ vật, tài liệu gì liên quan đến hành vi phạm tội.
Tại Kết luận giám định số 6909/KL-KTHS ngày 19/10/2023 của Phòng kỹ thuật hình sự - Công an thành phố Hà Nội, kết luận: Chất bột màu trắng bên trong 01 gói giấy màu trắng là ma túy loại Heroine, khối lượng 0,252 gam.
Tại cơ quan điều tra, bị cáo Đỗ Mạnh A và đối tượng Lê N A khai nhận: Bản thân Đỗ Mạnh A sử dụng ma túy Heroine từ năm 2011. Ngày 11/10/2023, A mua ma túy Heroine của một người không rõ nhân thân tại khu vực thành phố Từ Sơn, Bắc Ninh mua 01 gói ma túy loại Heroine với giá 2.000.000 đồng được gói bằng giấy màu trắng, sau khi mua được ma túy, A đã sử dụng một phần, phần còn lại A cất trong túi quần treo tại phòng ngủ để bán kiếm lời. Khoảng 16 giờ 30 phút ngày 12/10/2023, khi Đỗ Mạnh A đang ở nhà tại thôn A1, xã A2, huyện K, Hà Nội thì Lê N A sử dụng điện thoại di động 0912787680 gọi đến số thuê bao 0968808007 của A để hỏi mua 1.000.000 đồng ma túy Heroine. A đồng ý và thống nhất địa điểm giao dịch tại gần khu vực cầu A1, xã A2, huyện K, Hà Nội. Sau đó, A cầm 01 gói ma túy loại Heroine bọc bằng giấy màu trắng bên trong chứa chất bột màu trắng ở trong lòng bàn tay trái và điều khiển xe máy đến thôn A1, A2, K, Hà Nội gặp N A. Khi N A đưa 1.000.000 đồng cho A cầm và đang đếm tiền thì lực lượng Công an bắt giữ cùng vật chứng.
Đối với đối tượng bán ma túy cho bị cáo A, do không xác định được nhân thân nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện K không có căn cứ để xử lý.
Đối với Lê N A người mua ma túy của bị cáo Đỗ Mạnh A mục đích để sử dụng, qua kết quả xét nghiệm N A âm tính với chất ma túy. Do vậy Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện K không có căn cứ xử lý đối với Lê N A.
Đối với chiếc điện thoại của A dùng để liên lạc, trao đổi với N A về việc mua bán trái phép chất ma túy thì theo A khai nhận đó là chiếc điện thoại Iphone màu đen, bên trong lắp sim liên lạc số 0968808007, trên đường mang ma túy đi bán cho N A thì A đã làm rơi mất chiếc điện thoại di động này nhưng A không biết là bị rơi vào lúc nào và rơi ở chỗ nào, sau khi bị bắt giữ thì A mới biết việc bị rơi mất chiếc điện thoại.
Đối với số tiền 1.000.000 đồng thu giữ của bị cáo Đỗ Mạnh A và điện thoại di động nhãn hiệu Nokia màu xanh, đã qua sử dụng, bên trong lắp sim số 0912787680 thu giữ của Lê N A liên quan hành vi phạm tội. Hiện Cơ quan điều tra thu giữ để xử lý theo quy định của pháp luật.
Đối với 01 xe máy nhãn hiệu Honda AIRBLADE màu đỏ đen, BKS: 29N1-289.39, số máy: JF46E4256043, số khung: RLHJF4602 DX602326 thu giữ của bị cáo Đỗ Mạnh A. Quá trình điều tra xác định chủ sở hữu là Đỗ Ngọc Phương, sinh năm 1982; ĐKHKTT: Thôn A1, A2, K, Hà Nội. Ngày 11/10/2023 và 12/10/2023, anh Phương không biết A mượn xe để sử dụng đi mua bán ma túy. Ngày 20/10/2023, Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an huyện K đã ra quyết định xử lý vật chứng trả chiếc xe máy trên cho anh Phương, anh Phương đã nhận lại tài sản và không yêu cầu đề nghị gì.
Tại Cơ quan điều tra, Đỗ Mạnh A đã thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình phù hợp với lời khai của Lê N A và các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án.
Tại bản Cáo trạng số 245/CT-VKSGL ngày 24 tháng 11 năm 2023, Viện kiểm sát nhân dân huyện K truy tố bị cáo Đỗ Mạnh A về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại khoản 1 Điều 251 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Tại phiên tòa, bị cáo khai nhận hành vi phạm tội của mình như đã khai tại cơ quan điều tra và Cáo trạng đã truy tố. Bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là anh Lê N A vắng mặt tại phiên tòa.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện K tham gia phiên tòa luận tội đối với bị cáo, giữ nguyên quyết định truy tố theo Cáo trạng; sau khi phân tích tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, nhân thân bị cáo, các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự, đề nghị Hội đồng xét xử:
Áp dụng khoản 1 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52 và Điều 38 của Bộ luật Hình sự, xử phạt Đỗ Mạnh A từ 28 tháng đến 32 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 12/10/2023; không áp dụng hình phạt bổ sung bằng tiền đối với bị cáo.
Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 của Bộ luật Hình sự và Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự, tịch thu và tiêu huỷ số ma túy thu giữ của bị cáo; tịch thu, nộp ngân sách nhà nước: Số tiền 1.000.000 đồng thu giữ của bị cáo và 01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia màu xanh, đã qua sử dụng bên trong lắp sim số 0912787680 thu giữ của Lê N A là phương tiện, tiền bạc liên quan đến hành vi phạm tội.
Cơ quan điều tra Công an huyện K đã xử lý các vật chứng khác theo thẩm quyền, nay không có tranh chấp nên không xét.
Sau khi nghe đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố luận tội, bị cáo không có tranh luận gì. Trong lời nói sau cùng, bị cáo nhận thức rõ hành vi của mình là vi phạm pháp luật và đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã
được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện K và Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện K và Kiểm sát viên trong quá trình khởi tố, điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Về thủ tục tố tụng: Anh Lê N A là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa nhưng trước đó đã có lời khai đầy đủ tại Cơ quan điều tra. Xét thấy việc vắng mặt của anh N A không gây trở ngại cho việc xét xử. Theo quy định tại khoản 1 Điều 292 của Bộ luật Tố tụng hình sự, Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vụ án vắng mặt anh N A.
Về hành vi phạm tội và tội danh:
Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, lời khai của người liên quan, lời khai của người chứng kiến, biên bản bắt người phạm tội quả tang, vật chứng thu giữ, kết luận giám định và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên toà, có đủ cơ sở kết luận:
Hồi 17 giờ ngày 12/10/2023, tại khu vực cầu A1, xã A2, huyện K, Hà Nội bị cáo Đỗ Mạnh A đã có hành cất giữ trái phép 0,252 gam ma túy Heroine mục đích bán cho Lê N A với giá 1.000.000 đồng để kiếm lời thì bị cơ quan Công an phát hiện bắt giữ cùng vật chứng. Bị cáo là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật, xâm phạm chế độ độc quyền quản lý Nhà nước đối với các chất ma tuý. Hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Mua bán trái phép chất ma túy”; tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 251 của Bộ luật Hình sự.
Viện kiểm sát nhân dân huyện K truy tố bị cáo theo khoản 1 Điều 251 của Bộ luật Hình sự là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
Về hình phạt áp dụng đối với bị cáo:
Về tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội: Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp xâm phạm chế độ độc quyền quản lý Nhà nước đối với các chất ma tuý, gây mất trật tự trị an xã hội. Heroine là chất ma tuý rất độc hại, tàn phá và huỷ hoại sức khoẻ con người, là một trong những nguyên nhân chính phát sinh ra các tệ nạn xã hội và các loại tội phạm đặc biệt nghiêm trọng khác trong đời sống xã hội. Trong những năm qua, tội phạm về ma tuý trên địa bàn thành phố Hà Nội diễn biến rất phức tạp, Nhà nước, các cấp chính quyền và Đoàn thể rất quan tâm và nỗ lực tuyên truyền, giáo dục về tác hại của ma tuý, kêu gọi toàn dân tích cực tham gia phòng chống tệ nạn về ma tuý và tội phạm may tuý. Bị cáo nhận thức được đầy đủ về tác hại của ma tuý nhưng vẫn tham gia mua bán trái phép nên cần thiết phải xử lý nghiêm minh để giáo dục, cải tạo đối với bị cáo và phòng ngừa chung; góp phần đấu tranh phòng chống tệ nạn và các tội phạm về ma tuý trong đời sống xã hội.
Về nhân thân bị cáo:
Năm 2003, bị cáo bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy, đã hết thời hiệu. Năm 2004, bị cáo đã bị kết án về tội “Đánh bạc”, đã được xóa án tích. Năm 2017, bị cáo bị kết án tù về tội “Mua trái phép chất ma túy”, chưa được xóa án tích. Như vậy, thể hiện bị cáo có nhân thân xấu, đã được các cơ quan pháp luật giáo dục, cải tạo nhiều lần, khi trở về nơi cư trú không cố gắng rèn luyện bản thân, hòa nhập cộng đồng, mà lại tiếp tục phạm tội.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tại cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, có thái độ ăn năn hối cải. Như vậy, bị cáo có tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự:
Tại bản án số 76/2017/HS-ST ngày 21/06/2017 của Tòa án nhân dân huyện K, thành phố Hà Nội, xử phạt Đỗ Mạnh A 07 năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, chấp hành xong hình phạt tù ngày 14/10/2021, chưa được xóa án tích, bị cáo lại phạm tội mới với lỗi cố ý nên lần phạm tội này của bị cáo thuộc trường hợp “Tái phạm” theo quy định tại khoản 1 Điều 53 của Bộ luật Hình sự. Do vậy, bị cáo A bị áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự “Tái phạm” theo quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự.
Tổng hợp nhận định ở trên, Hội đồng xét xử nhận thấy cần phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian bằng việc áp dụng hình phạt tù có thời hạn để đảm bảo việc răn đe, giáo dục riêng đối với bị cáo và phòng ngừa chung như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện K tại phiên toà là phù hợp.
Về hình phạt bổ sung: Bị cáo có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền theo quy định tại khoản 5 Điều 251 của Bộ luật Hình sự năm 2015. Tuy nhiên, theo các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và lời khai của bị cáo tại phiên toà thể hiện: Bị cáo là người nghiện ma túy, là lao động tự do, thu nhập không ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 và Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015,
Đối với số ma túy thu giữ của bị cáo là vật nhà nước cấm tàng trữ, lưu hành nên cần tịch thu, tiêu hủy.
Đối với số tiền 1.000.000 đồng thu giữ của bị cáo và 01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia màu xanh, đã qua sử dụng bên trong lắp sim số 0912787680 thu giữ của Lê N A là phương tiện, tiền bạc liên quan đến hành vi phạm tội nên cần tịch thu, nộp ngân sách nhà nước.
Cơ quan điều tra Công an huyện K đã xử lý các vật chứng khác theo thẩm quyền, nay không có tranh chấp nên không xét.
Về án phí: Bị cáo phạm tội phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Về quyền kháng cáo: Bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Về các nội dung khác:
Đối với đối tượng bán ma túy cho Đỗ Mạnh A, do không xác định được nhân thân, Cơ quan điều tra không có căn cứ để điều tra xác minh, xử lý nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Đối với Lê N A do chưa mua được ma tuý của A, qua xét nghiệm âm tính với các chất ma túy, Cơ quan điều tra không đặt vấn đề xử lý đối với Lê N A nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Đỗ Mạnh A phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.
2. Về hình phạt:
2.1. Áp dụng khoản 1 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52 và Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017, xử phạt bị cáo Đỗ Mạnh A 27 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 12/10/2023.
2.2. Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
3. Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017; Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.
3.1. Tịch thu, tiêu huỷ: Ma túy loại Heroine, khối lượng 0,188 gam (đã trừ trích mẫu để giám định 0,064 gam) thu giữ của bị cáo Đỗ Mạnh A, đựng trong 01 gói niêm phong, bên ngoài có chữ ký của Đỗ Mạnh A, cán bộ Công an xã Yên Thường và Giám định viên, do Phòng PC09 - Công an thành phố Hà Nội hoàn lại sau giám định;
3.2. Tịch thu, nộp ngân sách nhà nước: 01 (Một) chiếc điện thoại di động Nokia màu xanh, bên trong lắp sim liên lạc, máy cũ đã qua sử dụng thu giữ của Lê N A;
(Tình trạng vật chứng như Biên bản giao nhận vật chứng giữa Cơ quan điều tra Công an huyện K và Chi cục Thi hành án dân sự huyện K ngày 06/12/2023).
3.3. Tịch thu, nộp ngân sách nhà nước số tiền 1.000.000 đồng thu giữ của Đỗ Mạnh A.
(Số tiền 1.000.000 đồng hiện Chi cục Thi hành án dân sự huyện K đang quản lý theo Biên lai thu tiền số 0003776 ngày 12/12/2023).
Cơ quan điều tra Công an huyện K đã xử lý các vật chứng khác theo thẩm quyền, nay không có tranh chấp nên không xét.
4. Về án phí: Áp dụng Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội và Danh mục án phí, lệ phí Tòa án kèm theo.
Bị cáo Đỗ Mạnh A phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
5. Về quyền kháng cáo: Áp dụng Điều 331 và Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.
Bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là anh Lê N A có quyền kháng cáo những vấn đề trực tiếp liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của mình trong hạn 15 ngày kể từ ngày được tống đạt bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
| Nơi nhận: - TAND thành phố Hà Nội; - VKSND thành phố Hà Nội; - VKSND huyện K; - Công an huyện K; - Chi cục THADS huyện K; - UBND xã A2 (thay cho Thông báo kết quả xét xử); - Những người tham gia tố tụng; - Lưu hồ sơ, Văn phòng. THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Như Trọng |