- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "NGUYỄN ĐÌNH TOÀN THIỆN _ HUỲNH THỊ THANH MAI"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn:
- Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 19 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 2 Luật Thi hành án dân sự
| THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 241/2023/HNGĐ-ST Ngày: 15 tháng 3 năm 2023 V/v tranh chấp về ly hôn |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 12, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Mỹ Kim;
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Nguyễn Văn Tiên;
2. Bà Nguyễn Thị Thuần;
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Mỹ Hạnh là Thư ký Tòa án nhân dân Quận 12, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 12, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Bà Võ Thị Kiều – Kiểm sát viên.
Ngày 15 tháng 3 năm 2023 tại Phòng xử án trụ sở Tòa án nhân dân Quận 12, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 998/2022/TLST–HNGĐ ngày 04 tháng 10 năm 2022 về “V/v tranh chấp ly hôn”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 17/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 31 tháng 01 năm 2023 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 66/2023/QĐST-HNGĐ ngày 22 tháng 02 năm 2023, giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Ông T, sinh năm 1994;
Nơi cư trú: Khu phố O, phường H, Quận M, Thành phố Hồ Chí Minh.
(có đơn đề nghị xét xử vắng mặt).
2. Bị đơn: Bà M, sinh năm 1994;
Nơi cư trú: Tổ N, Khu phố M, phường T, Quận M, Thành phố Hồ Chí Minh.
(vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Trong đơn ly hôn, bản tự khai và biên bản thì nguyên đơn – ông T trình bày:
Ông và bà M tự nguyện chung sống với nhau, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường Tân Hưng Thuận, Quận 12, Thành phố Hồ Chí Minh vào tháng 7/2018.
Sau khi kết hôn, ông và bà M chung sống tại nhà ba mẹ ông. Trong khoảng thời gian sống chung tại nhà ba mẹ ông, thì giữa gia đình ông với bà M xảy ra mâu thuẫn. Sau đó, ông T và bà M quyết định về nhà ba mẹ vợ sinh sống. Tuy nhiên, trong khoảng thời gian sống chung tại nhà ba mẹ vợ thì giữa ông và bà M xảy ra mâu thuẫn. Bất đồng quan điểm trong cuộc sống, không tìm được tiếng nói chung, thường xuyên xảy ra cãi vã. Do sống bên gia đình vợ, nên tiếng nói của ông không được tôn trọng. Bà M thì luôn nghe lời ba mẹ bà ấy. Bên cạnh đó, giữa ông T với ba mẹ vợ cũng xảy ra mâu thuẫn. Từ đó, cuộc hôn nhân giữa ông với bà M dần dần rạn nứt, không thể cứu vãn. Tránh xảy ra xung đột, ông đã dọn về nhà ba mẹ ông sinh sống khoảng 02 (hai) năm nay. Trong khoảng thời gian này, ông T và bà M không ăn chung, ngủ chung, mạnh ai nấy sống, không quan tâm nhau, tình cảm vợ chồng dần dần phai nhạt, khả năng đoàn tụ là không thể, vì đã làm tổn thương lẫn nhau. Do đó, ông T yêu cầu ly hôn với bà M.
Trong quá trình chung sống, ông T và bà M không có con chung.
Về tài sản chung, ông không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Nợ chung, ông không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Ngoài ra, ông không có ý kiến yêu cầu nào khác.
Sau khi thụ lý vụ án, Tòa án tiến hành tống đạt văn bản tố tụng và triệu tập các đương sự để tham gia về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, nhưng bị đơn liên tục vắng mặt và Tòa án không nhận được bất kỳ văn bản nào ghi nhận ý kiến, yêu cầu của bị đơn đối với yêu cầu của nguyên đơn. Do đó, vụ án không tiến hành hòa giải được nên đưa ra xét xử công khai tại phiên tòa.
Tại phiên tòa ngày 22/02/2023 bị đơn – bà M vắng mặt tại phiên tòa lần thứ nhất không rõ lý do, nên Hội đồng xét xử quyết định hoãn phiên tòa theo quy định tại các Điều 227, 233 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
Tại phiên tòa hôm nay, nguyên đơn có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.
Bị đơn tiếp tục vắng mặt tại phiên tòa lần thứ hai, nên Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vụ án theo quy định tại các Điều 227, 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
Kiểm sát viên tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến về việc:
- Tuân theo pháp luật tố tụng: Kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án thì Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa tuân theo quy định của pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án; nguyên đơn chấp hành theo quy định của pháp luật; bị đơn không chấp hành theo quy định của pháp luật.
- Giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết vụ án:
Các đương sự tranh chấp với nhau về việc ly hôn. Đây là quan hệ pháp luật “V/v tranh chấp ly hôn”. Theo kết quả xác minh: Bà M, sinh năm 1994 đang sinh sống thực tế tại Tổ N, Khu phố M, phường T, Quận M, Thành phố Hồ Chí Minh. Bị đơn có nơi cư trú tại Quận 12, Thành phố Hồ Chí Minh.
Căn cứ vào Điều 28, 35, 36, 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết Tòa án nhân dân Quận 12, Thành phố Hồ Chí Minh.
Về yêu cầu của đương sự:
Căn cứ vào lời khai của đương sự; căn cứ vào giấy tờ, tài liệu do đương sự cung cấp và Tòa án thu thập được có đủ cơ sở xác định:
Ông T – bà M chung sống với nhau có đăng ký kết hôn vào năm 2018 (Giấy chứng nhận kết hôn do Ủy ban nhân dân phường Tân Hưng Thuận, Quận 12, Thành phố Hồ Chí Minh cấp ngày 10/7/2018; số: 84/2018). Nay, ông T yêu cầu ly hôn với bà M.
Trong quá trình chung sống ông T – bà M không có con chung.
Về tài sản chung, ông T không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Nghĩa vụ chung về tài sản, ông T không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Theo kết quả xác minh: Mâu thuẫn giữa ông T – bà M do họ không gửi đơn hòa giải, nên địa phương không rõ. Đề nghị Tòa án xem xét, giải quyết theo quy định của pháp luật.
Hội đồng xét xử xét thấy:
Theo quy định tại các Điều 19, 51, 56 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014: “Vợ chồng có nghĩa vụ thương yêu, chung thủy, tôn trọng, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau; cùng nhau chia sẻ, thực hiện các công việc trong gia đình; vợ, chồng hoặc cả hai người có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn; khi vợ hoặc chồng yêu cầu ly hôn mà hòa giải tại Tòa án không thành thì Tòa án giải quyết cho ly hôn nếu có căn cứ về việc vợ, chồng có hành vi bạo lực gia đình hoặc vi phạm nghiêm trọng quyền, nghĩa vụ của vợ, chồng làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được”.
Căn cứ vào tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh tụng tại phiên tòa có cơ sở kết luận: Quan hệ tình cảm vợ chồng giữa nguyên đơn và bị đơn không còn thương yêu, quan tâm, chăm sóc lẫn nhau, người nào chỉ biết bổn phận người đó, muốn sống ra sao thì sống, không cùng nhau chia sẻ thực hiện các công việc trong gia đình. Xét thấy, hôn nhân của vợ chồng nguyên đơn và bị đơn lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Ngoài ra, bị đơn liên tục vắng mặt tại phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải tại Tòa án. Hội đồng xét xử xét thấy, bị đơn không quan tâm đến quan hệ hôn nhân giữa vợ chồng nguyên đơn và bị đơn, nên Hội đồng xét xử xét thấy có đủ cơ sở và căn cứ pháp lý chấp nhận yêu cầu ly hôn của nguyên đơn.
Nguyên đơn – bị đơn không có con chung, nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Nguyên đơn không yêu cầu giải quyết về tài sản chung, nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Nguyên đơn không yêu cầu giải quyết nghĩa vụ chung về tài sản, nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Về án phí:
Theo Điều 47 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Nguyên đơn yêu cầu ly hôn với bị đơn, nên nguyên đơn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm đối với vụ án về tranh chấp hôn nhân và gia đình không có giá ngạch là 300.000 (ba trăm nghìn) đồng. Nguyên đơn được khấu trừ toàn bộ vào tiền tạm ứng án phí đã nộp theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số: AA/2021/0023935 ngày 04/10/2022 của Chi cục Thi hành án dân sự Quận 12, Thành phố Hồ Chí Minh. Nguyên đơn đã nộp đủ án phí dân sự sơ thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào các Điều 28, 35, 36, 39, 147, 227, 228, 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
Căn cứ vào các Điều 19, 51, 56 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;
Căn cứ Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Căn cứ vào các Điều 2, 6, 7, 7a, 7b, 9, 30 của Luật Thi hành án dân sự (được sửa đổi, bổ sung năm 2014).
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn:
1.1 Về quan hệ hôn nhân: Ông T được ly hôn với bà M.
Kể từ ngày Bản án có hiệu lực pháp luật Giấy chứng nhận kết hôn do Ủy ban nhân dân phường Tân Hưng Thuận, Quận 12, Thành phố Hồ Chí Minh cấp ngày 10/7/2018; số: 84/2018 không còn giá trị.
1.2 Về con chung: Ông T – bà M không có con chung.
1.3 Về tài sản chung: Ông T không yêu cầu Tòa án giải quyết.
1.4 Nghĩa vụ chung về tài sản: Ông T không yêu cầu Tòa án giải quyết.
2. Về án phí:
Ông T phải chịu án phí dân sự sơ thẩm đối với vụ án về tranh chấp hôn nhân và gia đình không có giá ngạch là 300.000 (ba trăm nghìn) đồng. Ông T đã nộp 300.000 (ba trăm nghìn) đồng tiền tạm ứng án phí theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số: AA/2021/0023935 ngày 04/10/2022 của Chi cục Thi hành án dân sự Quận 12, Thành phố Hồ Chí Minh. Ông T được khấu trừ toàn bộ vào tiền tạm ứng án phí đã nộp theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số: AA/2021/0023935 ngày 04/10/2022 của Chi cục Thi hành án dân sự Quận 12, Thành phố Hồ Chí Minh. Ông T đã nộp đủ án phí dân sự sơ thẩm.
3. Quyền kháng cáo:
Đương sự vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày niêm yết bản án.
4. Quyền yêu cầu thi hành án, nghĩa vụ thi hành án, thời hiệu thi hành án: Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự; người được thi hành án, người phải thi hành án có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b, 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự (được sửa đổi, bổ sung năm 2014).
| Nơi nhận: - TAND TP.HCM; - VKSND Quận 12, Tp. HCM; - Chi cục THADS Quận 12, Tp. HCM; - UBND phường Tân Hưng Thuận, Quận 12, Tp. HCM; - Các đương sự; - Lưu hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lê Thị Mỹ Kim |