- Tranh chấp gì? án hình sự — "Tàng trữ ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Duy V 18 (Mười tám ) tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Thời hạn tù tính từ ngày 05/6/2022.
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự và Nghị
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN LONG BIÊN THÀNH PHỐ HÀ NỘI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 241/2022/HSST Ngày: 03-11-2022 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN LONG BIÊN, TP.HÀ NỘI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Đặng Mai Hoa
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Thị Cúc và bà Lưu Thị Hà
- Thư ký phiên toà: Ông Nguyễn Tuấn Hiệp – Thư ký Toà án nhân dân quận Long Biên, thành phố Hà Nội.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Long Biên, thành phố Hà Nội tham gia phiên toà: Bà Trần Thị Hồng Hạnh - Kiểm sát viên.
Ngày 03 tháng 11 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Long Biên thành phố Hà Nội xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số:246 /2022/TLST-HS ngày 13 tháng 10 năm 2022 theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 248 /2022/QĐXXST – HS ngày 18 /10/2022 đối với bị cáo:
NGUYỄN DUY V; Giới tính: Nam; Tên gọi khác: Không; Sinh năm 1987, tại: Thái Bình. HKTT: Thôn Duyên Nghĩa, xã Thụy Duyên, huyện Thái Thụy, tỉnh Thái Bình. Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: 12/12. Họ tên bố: Nguyễn Tiến N; Sinh năm: 1957; Họ tên mẹ: Hoàng Thị L; Sinh năm: 1960. Gia đình bị cáo có 03 anh em, bị cáo là con thứ ba. Họ tên vợ: Vũ Thị L; Sinh năm: 1989; Bị cáo có 02 con, con lớn sinh năm 2010, con nhỏ sinh năm 2012.
Tiền án, tiền sự: Theo danh chỉ bản số 499 ngày 15/06/2022 do công an quận Long Biên lập và lý lịch địa phương cung cấp bị cáo có 01 tiền án, 01 tiền sự:
- 01 tiền sự ngày 11/6/2020 TAND huyện Thái Thụy, Thái Bình áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc. Ngày 01/10/2021 chấp hành xong. Chưa hết thời hiệu.
- Bản án số 41/2011/HSST ngày 18/3/2011 TAND thành phố Điện Biên Phủ, tỉnh Điện Biên xử phạt 24 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản (trị giá tài sản 55.100.000 đồng). Ra trại ngày 16/11/2012.
- Bị cáo bị bắt quả tang và tạm giữ ngày 05/6/2022, tạm giam từ ngày 11/6/2022 đến nay tại Trại tam giam số 2 – Công an thành phố Hà Nội. (có mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 10h05’ ngày 05/6/2022, tổ công tác Công an phường Gia Thụy làm nhiệm vụ tại trước cửa nhà số 545 Nguyễn Văn Cừ thuộc phường Gia Thụy, quận Long Biên, Hà Nội phát hiện bắt quả tang Nguyễn Duy V có hành vi tàng trữ tại túi quần phía trước bên trái 01 vỏ bao thuốc lá Thăng Long bên trong có 01 gói giấy màu trắng chứa chất bột màu trắng. Tại chỗ, V khai chất bột màu trắng trên là ma túy loại Heroine của V tàng trữ để sử dụng. Tổ công tác đã tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, tạm giữ niêm phong tang vật và đưa Nguyễn Duy V về trụ sở để làm rõ.
Tang vật thu giữ: 01 vỏ bao thuốc lá Thăng Long bên trong có 01 gói giấy màu trắng chứa chất bột màu trắng; 01 ví da màu đen, 01 căn cước công dân mang tên Nguyễn Duy V, số tiền 200.000 đồng.
Tại Bản kết luận giám định số 3742/KL-KTHS ngày 13/6/2022 của Phòng Kỹ thuật hình sự - Công an Thành phố Hà Nội kết luận: Chất bột màu trắng bên trong 01 gói giấy màu trắng là ma túy loại Heroine, khối lượng: 0,106 gam.
Tại cơ quan điều tra, Nguyễn Duy V khai nhận:
Khoảng 08h00’ ngày 06/5/2022, Nguyễn Duy V đi xe bus từ khu vực Cầu Giấy đến khu vực Từ Sơn, Bắc Ninh mục đích mua ma túy để sử dụng cho bản thân. Tại đây, V gặp một người đàn ông không quen biết hỏi “có mua không”, V hiểu có mua ma túy không. V đồng ý và mua của người đàn ông này 01 gói ma túy loại Heroine với giá 200.000 đồng. Sau khi mua ma túy, V lấy một phần ma túy ra để sử dụng, phần còn lại V cất vào vỏ bao thuốc lá Thăng Long rồi cất túi quần phía trước bên trái đang mặc để sử dụng sau. Một lúc sau, có một người đàn ông rủ V sang khu vực quận Long Biên để làm bốc vác. V đồng ý và lên ô tô của người đàn ông này. Khi đi đến trước cửa nhà số 545 Nguyễn Văn Cừ thuộc phường Gia Thụy, quận Long Biên, Hà Nội người đàn ông này bảo V xuống xe đợi để anh ta đi lấy chìa khóa. Khi V đang đứng đợi thì bị Cơ quan công an kiểm tra, bắt quả tang thu giữ tang vật như đã nêu trên.
Lời khai của bị can Nguyễn Duy V phù hợp với lời khai người làm chứng và các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án.
Bản cáo trạng số: 236/CT-VKS ngày 11/10/2022 của Viện kiểm sát nhân dân quận Long Biên đã truy tố Nguyễn Duy V về tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c Khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự 2015.
Tại phiên tòa: Bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình phù hợp với nội dung bản cáo trạng của Viện kiểm sát đã truy tố.
Đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố luận tội và tranh luận: Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và lời khai của người làm chứng phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra thấy rằng: Hành vi của bị cáo Nguyễn Duy V đã đủ yếu tố cấu thành tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Hành vi của bị cáo vi phạm vào điểm c Khoản 1 Điều 249 của BLHS 2015.
Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm c Khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38; Điều 47 của BLHS 2015 và Điều 106 của BLTTHS.
Về hình phạt: Đề nghị xử phạt bị cáo V mức án từ 18 đến 24 tháng tù. Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
Về xử lý vật chứng:
- Đề nghị tịch thu tiêu hủy 0,106 gam Heroin, 01 vỏ bao thuốc lá Thăng Long
- Đề nghị cho trả lại 01 ví da màu đen bao gồm 01 căn cước công dân mang tên Nguyễn Duy V và số tiền 200.000 đồng thu giữ của bị cáo vì đây là tài sản của bị cáo không liên quan đến hành vi phạm tội nhưng cho tạm giữ 200.000 đồng để đảm bảo thi hành án.
Nói lời sau cùng, bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, HĐXX nhận thấy như sau:
- Về tố tụng:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra-Công an quận Long Biên, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân quận Long Biên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa hôm nay, bị cáo đã khai báo thành khẩn và không có khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đều hợp pháp.
- Về tội danh:
Xét lời khai nhận của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra, biên bản bắt người phạm tội quả tang, biên bản tạm giữ đồ vật-tài liệu, bản kết luận giám định, lời khai người làm chứng cùng các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án cũng như nội dụng bản cáo trạng của Viện kiểm sát đã truy tố. Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Khoảng 10h05’ ngày 05/6/2022 tại khu vực đường Nguyễn Văn Cừ thuộc phường Gia Thụy, quận Long Biên, Hà Nội, Nguyễn Duy V đã có hành vi tàng trữ trái phép 0,106 gam ma túy loại Heroine với mục đích sử dụng cho bản thân nhưng chưa kịp sử dụng thì bị cơ quan công an phát hiện bắt quả tang cùng tang vật.
Hành vi của bị cáo Nguyễn Duy V đã cấu thành tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm c Khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự 2015. Do đó, Viện kiểm sát nhân dân quận Long Biên truy tố bị cáo về tội danh và điều luật áp dụng là có căn cứ và phù hợp với quy định của pháp luật.
Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội. Bị cáo đã cố ý xâm phạm đến sự độc quyền quản lý của nhà nước về chất ma túy được Bộ luật hình sự bảo vệ. Vì vậy, cần phải nghiêm trị đối với bị cáo. Trong khi Đảng và Nhà nước ta đang kiên quyết đấu tranh để loại trừ tệ nạn ma túy, mại dâm ra khỏi đời sống xã hội thì hành vi phạm tội của bị cáo xét về tính chất, mức độ và nhân thân bị cáo xấu thấy cần phải xử phạt bị cáo một mức án tù trong khung hình phạt nhằm cách ly bị cáo ra ngoài xã hội một thời gian mới có tác dụng cải tạo, giáo dục bị cáo và phòng ngừa tội phạm.
- Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo:
- [4] Về tình tiết tăng nặng TNHS: Nhân thân của bị cáo có 01 tiền án và 01 tiền sự: 01 tiền sự ngày 11/6/2020 TAND huyện Thái Thụy, Thái Bình áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc. Ngày 01/10/2021 chấp hành xong. Chưa hết thời hiệu. Đối với tiền án: Theo bản án số 41/2011/HSST ngày 18/3/2011 TAND thành phố Điện Biên Phủ, tỉnh Điện Biên xử phạt bị cáo 24 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản (trị giá tài sản 55.100.000 đồng). Bị cáo ra trại ngày 16/11/2012 và đã nộp án phí HSST và DSST 695.000 đồng vào ngày 10/5/2011. Theo biên bản xác minh tại Chi cục thi hành án dân sự TP Điện Biên Phủ đối với phần bồi thường dân sự cho người bị hại người bị hại chưa có đơn yêu cầu bồi thường nên không có căn cứ thụ lý. Tại phiên tòa bị cáo cũng thừa nhận chưa thanh toán bồi thường cho người bị hại theo bản án trên. HĐXX xét thấy theo quy định của luật thi hành án thì có nhiều phương thức thi hành để người phải thi hành án có quyền lựa chọn như: tự nguyện thi hành, thỏa thuận thi hành hoặc nhờ thân nhân nộp thay. Căn cứ vào Điều 70 BLHS quy định về điều kiện đương nhiên được xóa án tích trong đó có điều kiện: người bị kết án đã chấp hành xong hình phạt bổ sung, các quyết định khác của bản án. Trong trường hợp này, bị cáo V chưa thi hành xong phần dân sự của bản án như vậy là chưa chấp hành xong bản án. Vì vậy, bị cáo không đương nhiên được xóa án tích theo quy định tại điều 70 BLHS. Nên lần phạm tội này của bị cáo là tái phạm, đây là tính tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm h khoản 1 điều 52 BLHS.
Về tình tiết giảm nhẹ TNHS: Tại cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa hôm nay, bị cáo thành khẩn nhận tội, ăn năn hối cải là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự 2015.
Về hình phạt bổ sung: Xét bị cáo không có nghề nghiệp, thu nhập ổn định, không có khả năng thi hành phạt bổ sung bằng tiền nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo là có căn cứ.
Về xử lý vật chứng:
- Cho tịch thu tiêu hủy 0,106 gam Heroin
- Cho tịch thu tiêu hủy 01 bao thuốc lá Thăng Long
- Cho trả lại 01 ví da màu đen bao gồm 01 căn cước công dân mang tên Nguyễn Duy V và số tiền 200.000 đồng thu giữ của bị cáo nhưng cho tạm giữ lại để đảm bảo thi hành án
Đại diện VKSND quận Long Biên đề nghị về hình phạt chính, hình phạt bổ sung, giảm nhẹ TNHS là có căn cứ và phù hợp với nhận định của HĐXX. Đối với nhận định của VKS về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự không phù hợp với nhận định của HĐXX. Về đề nghị xử lý vật chứng của VKSND quận Long Biên phù hợp với nhận định của HĐXX.
Về vấn đề khác:
Đối với đối tượng bán ma túy cho V tại khu vực Từ Sơn, Bắc Ninh do V khai không biết tên tuổi, địa chỉ cụ thể nên Cơ quan điều tra không có căn cứ xác minh làm rõ.
Về án phí:
Bị cáo phải chịu án phí HSST theo quy định của pháp luật.
Về quyền kháng cáo:
Bị cáo được quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h, khoản 1 điều 52, Điều 38 của Bộ luật Hình sự 2015:
Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Duy V 18 (Mười tám ) tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Thời hạn tù tính từ ngày 05/6/2022.
2. Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 của Bộ luật Hình sự 2015 và khoản 1 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự:
- Cho tịch thu tiêu hủy 0,106 gam Heroin, 01 bao thuốc lá Thăng Long
(Hiện đang lưu giữ tại Kho vật chứng Công an quận Long Biên theo Phiếu nhập vật chứng ngày 28/9/2022)
- Cho trả lại bị cáo 01 ví da màu đen, 01 căn cước công dân mang tên Nguyễn Duy V và số tiền 200.000 đồng thu giữ của bị cáo nhưng cho tạm giữ lại để đảm bảo thi hành án
(Hiện đang lưu giữ tại Kho vật chứng và tài khoản của Chi cục thi hành án dân sự quận Long Biên theo Biên bản giao nhận vật chứng ngày 11/10/2022 và Giấy nộp tiền vào tài khoản ngày 11/10/2022)
3. Về án phí: Căn cứ khoản 1 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng Hình sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án:
Bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí HSST.
4. Quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331, 333 bộ luật Tố tụng Hình sự.
Án xử công khai sơ thẩm.
Bị cáo có quyền làm đơn kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày Tòa tuyên án.
| Nơi nhận: - TAND Thành phố Hà Nội; - VKSND quận Long Biên; - Chi cục THADS quận Long Biên; - Sở Tư pháp Thành phố Hà Nội; - Thi hành án hình sự; - Bị cáo; - Người tham gia tố tụng khác; - Lưu HS, VP. | T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà Đặng Mai Hoa |