vanban.org

Bản án 241/2018/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Bà Nguyễn Thị T và ông Khúc Minh T1 được ly hôn.

Về con chung: Bà T được quyền nuôi dưỡng cháu Khúc Thị Như Y sinh ngày 18/11/2014, ông T1 được quyền nuôi dưỡng cháu Khúc Thị Huỳnh N sinh ngày 12/11/2011. Ông T1, bà T không phải cấp dưỡng nuôi con chung. Bà T, ông T1 được quyền thăm nom, chăm sóc, giáo dục và nuôi dưỡng con chung. Không ai được cả… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "bà T xin ly hôn ông T1"
  • Tòa quyết gì? Bà Nguyễn Thị T và ông Khúc Minh T1 được ly hôn.
  • Căn cứ chính? Điều 238 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN A

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH AN GIANG
Bản án số: 241 / 2018 / HNGĐ - ST
Ngày: 19 / 7 / 2018
“V/v tranh chấp Ly hôn”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN A

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Quang Bảo.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Nguyễn Quốc Thanh ;

2. Bà Nguyễn Thị Kim Uyên

- Thư kY phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Vũ - Thư kY Tòa án nhân dân huyện A.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện A tham gia phiên tòa: Ông Phạm Hoàng Lưu – Kiểm sát viên

Ngày 19 tháng 7 năm 2018 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện A xét xử công khai vụ án thụ lY số: 109/2018/TLST – HNGĐ ngày 28 tháng 3 năm 2018 về việc “ Tranh chấp Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 271/2018/QĐXXST - HNGĐ ngày 19 tháng 6 năm 2018 giữa các đương sự.

1. Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị T, sinh năm 1992

Địa chỉ: Tổ 12, ấp Phú Yên, xã Phú Lộc, thị xã TC, tỉnh An Giang. ( có đơn xin xét xử vắng mặt )

2. Bị đơn:

Ông Khúc Minh T1, sinh năm 1985

Địa chỉ: Tổ 26, ấp VP, xã VL, huyện A, tỉnh An Giang. (vắng mặt )

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Trong đơn khởi kiện và quá trình tố tụng bà T trình bày: Năm 2012, bà và ông T1 tự tìm hiểu và tiến đến hôn nhân, đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã VL, huyện A, tỉnh An Giang. Sau nhiều năm chung sống, bà nhận thấy giữa hai người có nhiều khác biệt về cách sống nên phát sinh mâu thuẫn và cả hai sống ly thân từ tháng 3/2017 AL đến nay. Nay xin ly hôn.

Con chung: Có 02 con chung tên Khúc Thị Như Y sinh ngày 18/11/2014 và Khúc Thị Huỳnh N sinh ngày 12/11/2011 hiện đang sống với bà. Ly hôn bà T có nguyện vọng được nuôi dưỡng con và bà không cần ông T1 phải cấp dưỡng nuôi con chung.

Tài sản chung, nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Bị đơn là ông Khúc Minh T1 không có văn bản hoặc ý kiến trình bày đối với yêu cầu khởi kiện của bà T.

Ngày 15/6/2018, bà T thay đổi một phần yêu cầu khởi kiện về việc nuôi con chung, theo đó bà sẽ nuôi dưỡng cháu Như Y còn cháu N giao cho ông T1 nuôi dưỡng và các bên không phải thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng cho nhau.

Để xác định nguyên nhân, tình trạng mâu thuẫn trong đời sống hôn nhân của bà T, ông T1, Tòa án đã thực hiện thủ tục xác minh đối với bà Trần Thị N1, mẹ ruột ông T1 và được cho biết nguyên nhân mâu thuẫn là do bà T nghi ngờ ông T1 có quan hệ bất chính bên ngoài, nhiều lần bà T bỏ ông T1 về nhà cha mẹ đẻ mặc dù ông T1 nhiều lần khuyên can. Hiện cả hai không còn sống chung khoảng 18 tháng nay.

Tòa án đã tổ chức phiên họp công khai chứng cứ cũng như hòa giải để động viên ông bà chung sống lại Nng do ông T1 vắng mặt nên không thể tiến hành hòa giải được.

Tại phiên tòa, bà T có đơn xin vắng mặt, ông T1 vắng mặt không có lý do.

Đại diện Viện kiểm sát thực hành quyền kiểm tra, giám sát việc tuân theo pháp luật trong quá trình tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử và người tham gia tố tụng phát biểu: Quá trình giải quyết vụ án, Thẩm phán, Thư ký đã tuân theo pháp luật, không có vi phạm; tại phiên tòa Hội đồng xét xử ( ghi tắt là HĐXX ) không thuộc trường hợp phải thay đổi, Thẩm phán đã công bố các lời khai của đương sự vắng mặt; bà T có đơn xin xét xử vắng mặt riêng ông T1 vắng mặt lần thứ hai mặc dù đã triệu tập hợp lệ và cũng không có văn bản trình bày ý kiến đối với yêu cầu của bà T nên xem như từ bỏ quyền và nghĩa vụ tố tụng của mình, đề nghị HĐXX tiến hành xét xử vắng mặt ông, bà.

Về nội dung vụ án: Hôn nhân giữa bà T, ông T1 có đăng ký kết hôn nên là hôn nhân hợp pháp, do mâu thuẫn trong đời sống vợ chồng nên bà T có đơn xin ly hôn và căn cứ vào các chứng cứ do Tòa án thu thập được về tình trạng hôn nhân của ông bà thì mâu thuẫn là trầm trọng, do vậy đề nghị HĐXX chấp nhận yêu cầu của bà T. Về con chung đề nghị HĐXX giao cháu Như Y cho bà T nuôi dưỡng, giao cháu N cho ông T1 nuôi dưỡng, về nghĩa vụ cấp dưỡng và phân chia tài sản chung, nợ chung do bà T không yêu cầu nên không xem xét.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và sau khi nghe đương sự trình bày tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Về thủ tục tố tụng:

Về thẩm quyền giải quyết vụ án: Bà T có đơn yêu cầu Tòa án nhân dân huyện A giải quyết về việc hôn nhân, nuôi con chung với ông T1, ông T1 có nơi cư trú trên địa bàn huyện A. Căn cứ quy định tại Khoản 1 Điều 28, điểm a Khoản 1 Điều 35 và điểm a Khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự thì vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện A.

Về việc vắng mặt của đương sự tại phiên tòa: Bà T có đơn xin xét xử vắng mặt, ông T1 vắng mặt không có lý do mặc dù đã triệu tập hợp lệ. Căn cứ Điều 238 Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt ông, bà.

Về nội dung vụ án:

Về hôn nhân: Căn cứ vào các chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và lời trình bày của các đương sự trong quá trình tố tụng thể hiện: Năm 2012, bà T và ông T1 tổ chức đám cưới, có thực hiện thủ tục đăng ký kết hôn tại cơ quan Nhà nước có thẩm quyền nên hôn nhân của ông bà phát sinh giá trị pháp lý theo quy định tại khoản 1 Điều 9 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014. Căn cứ các chứng cứ trong hồ sơ vụ án thể hiện trong thời gian chung sống giữa bà T, ông T1 thường xảy ra mâu thuẫn do bất đồng quan điểm sống, hiện cả hai đã không còn chung sống với nhau. Ông T1 không có văn bản trình bày ý kiến đối với yêu cầu của bà T, không tham gia các phiên hòa giải nên xem như ông đã từ bỏ quyền, nghĩa vụ tố tụng của mình. Hội đồng xét xử nhận thấy mâu thuẫn trong đời sống vợ chồng của ông, bà là trầm trọng, đời sống hôn nhân không thể kéo dài nên cần cho ông, bà ly hôn.

Về nuôi dưỡng con chung và nghĩa vụ cấp dưỡng:

Bà T khai ông bà có 02 con chung là Khúc Thị Huỳnh N sinh ngày 12/11/2011 và Khúc Thị Như Y sinh ngày 18/11/2014 hiện đang sống với bà. Ly hôn bà T có nguyện vọng được nuôi dưỡng cháu Như Y, giao cháu Huỳnh N cho ông T1 nuôi dưỡng và bà không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con chung cho nhau.

Xét thấy: Việc thỏa thuận nuôi con xuất phát từ sự tự nguyện và hiện các cháu đang sống với cha, mẹ của mình ổn định, để đảm bảo cho sự phát triển ổn định của các cháu, căn cứ khoản 2 Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, tiếp tục giao cháu Như Y cho bà T nuôi dưỡng, giao cháu Huỳnh N cho ông T1 nuôi dưỡng. Ông T1, bà T được quyền thăm nom, chăm sóc, giáo dục và nuôi dưỡng con chung lẫn nhau, không ai được cản trở việc thăm con chung. Vì sự phát triển của con, theo yêu cầu của một hoặc cả hai bên hoặc của cơ quan, tổ chức khác Tòa án có thể thay đổi người trực tiếp nuôi con, thay đổi mức cấp dưỡng hoặc hạn chế quyền của cha, mẹ đối với con chưa thành niên.

Về nghĩa vụ cấp dưỡng: Do bà T không yêu cầu nên không xem xét.

Về tài sản chung, nợ chung: Bà T không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không xem xét. Trường hợp sau này ông, bà có yêu cầu chia tài sản chung thì có quyền khởi kiện trong một vụ án khác.

Về án phí: Căn cứ Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự và điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 thì bà T phải chịu án phí dân sự sơ thẩm về hôn nhân và gia đình. Ông T1 không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, khoản 1 Điều 238, Điều 273 và Điều 280 của Bộ luật tố tụng dân sự; khoản 1 Điều 9, Điều 58, Điều 81 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014; điểm a Khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc hội khóa 14 hướng dẫn về án phí, lệ phí Tòa án.

Xử:

Bà Nguyễn Thị T và ông Khúc Minh T1 được ly hôn.

Về con chung: Bà T được quyền nuôi dưỡng cháu Khúc Thị Như Y sinh ngày 18/11/2014, ông T1 được quyền nuôi dưỡng cháu Khúc Thị Huỳnh N sinh ngày 12/11/2011. Ông T1, bà T không phải cấp dưỡng nuôi con chung.

Bà T, ông T1 được quyền thăm nom, chăm sóc, giáo dục và nuôi dưỡng con chung. Không ai được cản trở việc thăm con của ông, bà.

Vì sự phát triển của con, theo yêu cầu của một hoặc cả hai bên hoặc của cơ quan, tổ chức khác Tòa án có thể thay đổi người trực tiếp nuôi con, thay đổi mức cấp dưỡng hoặc hạn chế quyền của cha, mẹ đối với con chưa thành niên.

Tài sản chung, nợ chung: Không xem xét giải quyết.

Án phí: Bà T phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm về hôn nhân và gia đình, tuy nhiên được khấu trừ vào 300.000 đồng tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số 0002883 ngày 27/3/2018 của Chi cục T1 hành án dân sự huyện A.

Đương sự vắng mặt tại phiên tòa hoặc vắng mặt khi tuyên án được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ khi nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết tại nơi cư trú.

Trong trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự./.

Cỡ chữ