- Tranh chấp gì? án hình sự — "240 - 2024 Trần Ngọc T (điểm i k1 Đ 249 + K1 Đ 255) - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều củ…"
- Tòa quyết gì? Xử phạt: Bị cáo Trần Ngọc T 02 (hai) năm tù, về tội “Tổ chức sử d ng trái phép chất ma túy” và 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù, về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Tổng hợp hình ph t tù chung của 02 (hai) tội danh mà bị cáo Trần Ngọc T phải chấp hành là 03 (ba) năm 06 (sáu) t…
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố t ng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 8 THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 240/2024/HS-ST Ngày: 13 – 11 – 2024. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 8 - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Trọng Trúc.
Các Hội thẩm nhân dân:
1/ Ông Trần Viết Tuấn.
2/ Bà Đặng Thu Vân.
- Thư ký phiên tòa: Ông Trịnh Sơn Tùng – Thư ký Tòa án nhân dân Quận 8, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 8, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Ông Trần Đ1 Khuê – Kiểm sát viên.
Ngày 13 tháng 11 năm 2024, t i tr s Tòa án nhân dân Quận 8, Thành phố Hồ Ch Minh xét xử sơ thẩm công khai v án hình sự sơ thẩm th lý số 289/2024/TLST-HS ngày 04 tháng 10 năm 2024, theo Quyết định đưa v án ra xét xử số 431/2024/QĐXXST-HS, ngày 29/10/2024 đối với bị cáo:
Trần Ngọc T, sinh ngày 18 tháng 10 năm 1981, t i: Thừa Thiên Huế; nơi cư trú (nơi đăng ký thường trú: Số 6 đường XST, phường ĐB, thành phố H, tỉnh TTH; chỗ : Căn hộ D2A – 8.08 cc TE, địa chỉ: Số 547-549 đường TQB, Phường BN, Quận T, Thành phố HCM); nghề nghiệp: Kỹ sư xây dựng; trình độ văn hóa: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trần Ngọc T1 và bà Trần Thị N1; vợ: Phan Thị Cẩm G1 và có 03 (ba) con chung; chung sống như vợ chồng với Nguyễn Kim D1 (sinh năm: 2001) vào cuối năm 2022 và chưa có con chung; tiền án: Không; tiền sự: Không.
- Bị bắt t m giữ, t m giam từ ngày 27/11/2023 đến nay. (Có mặt).
* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:
1/ Chị Nguyễn Kim D1, sinh năm: 2001; nơi cư trú (nơi đăng ký thường trú: Khu vực BN, thành phố VT, tỉnh HG; chỗ : Căn hộ D2A – 8.08 cc TE, địa chỉ: Số 547-549 đường TQB, Phường BN, Quận T, Thành phố HCM). (Vắng mặt).
2/ Chị Nguyễn Thị Huỳnh N1, sinh năm: 1995; nơi cư trú: Số 29 Cao Lỗ, Phường 4, Quận 8, Thành phố Hồ Ch Minh. (Vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ v án và diễn biến t i phiên tòa, nội dung v án được tóm tắt như sau:
Khoảng 23 giờ 15 phút, ngày 26/11/2023, Công an Phường 4, Quận 8, Thành phố Hồ Chí Minh kiểm tra hành ch nh căn hộ D2A-8.08 cc TE, số 547-549 đường TQB, Phường BN, Quận T, Thành phố HCM. T i thời điểm kiểm tra, có Trần Ngọc T (người đứng tên trên hợp đồng thuê căn hộ), Nguyễn Văn P1 (tài xế của Trần Ngọc T), Nguyễn Kim D1 (b n gái, chung sống như vợ chồng với Trần Ngọc T), Nguyễn Thị Huỳnh N1 (b n của Nguyễn Kim D1) và Nguyễn Dương Minh Đ1 (b n trai của Nguyễn Thị Huỳnh N1). Qua kiểm tra thu giữ trên bàn t i phòng ngủ của T 01 gói nylon chứa tinh thể màu trắng, dưới nền phòng ngủ có 01 đĩa sứ màu trắng, bên trong có chứa chất bột màu trắng, 01 thẻ nhựa màu đỏ, 01 tờ tiền mệnh giá 10.000 đồng cuộn tròn bên ngoài có giấy trắng, trong hộc tủ c nh giường có 01 gói nylon chứa 02 viên nén màu hồng, 01 gói nylon chứa 02 viên nén màu xám và 01 mảnh v n viên nén màu xám (T khai nhận tất cả là ma túy và d ng c sử d ng ma túy tổng hợp của T). Ngoài ra, Công an còn thu giữ của T 01 loa, 01 đèn, 01 điện tho i di động; thu giữ của D1 01 điện tho i di động; thu giữ của Đ1 01 điện tho i di động; thu giữ của P1 01 điện tho i di động; thu giữ của N1 01 điện tho i di dộng. Sau đó, Công an tiến hành dẫn giải T và mời D1, N1, P1, Đ1 về tr s lập biên bản về việc bắt người ph m tội quả tang đối với Trần Ngọc T.
Theo bản kết luận giám định số 13290/KL-KTHS ngày 27/11/2023 của Phòng kỹ thuật Hình sự Công an Thành phố Hồ Chí Minh kết luận:
- Gói 01 được niêm phong bên ngoài có các chữ ký ghi tên Trần Ngọc T, Nguyễn Kim D1, Nguyễn Dương Minh Đ1, Nguyễn Thị Huỳnh N1 và hình dấu Công an Phường 4, Quận 8, bên trong có:
+ Tinh thể màu trắng trong 01 gói nylon là ma tuý thể rắn, có khối lượng 1,1777g (một phẩy một bảy bảy bảy gam), lo i Ketamine.
+ Bột màu trắng dính trong 01 đĩa sứ màu trắng là ma tuý thể rắn, có khối lượng 0,2801g (không phẩy hai tám không một gam), lo i Ketamine.
- Gói 02 được niêm phong bên ngoài có chữ ký ghi tên Trần Ngọc T và hình dấu Công an Phường 4, Quận 8, bên trong có:
+ 02 viên nén màu hồng trong 01 gói nylon đều là ma tuý thể rắn, có tổng khối lượng 0,7907g (không phẩy bảy chín không bảy gam), lo i Methamphetamine.
+ 02 viên nén màu xám và 01 mảnh v n viên nén màu xám trong 01 gói nylon đều là ma tuý thể rắn, có tổng khối lượng 1,1458g (một phẩy một bốn năm tám gam), lo i MDMA.
T i Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Quận 8, Trần Ngọc T khai nhận: Do nghiện ma túy, Trần Ngọc T thường tìm mua ma túy tổng hợp để sử d ng. Khoảng 21 giờ, ngày 25/11/2023, T sử d ng điện tho i di động gắn sim 0912631357 gọi vào số điện tho i di động (không rõ số) của một người nam thanh niên tên Đậu (không rõ lai lịch, địa chỉ) nhờ tìm mua ma túy tổng hợp gồm: 01 gói Kay và 03 viên thuốc lắc với giá tổng cộng 3.000.000 đồng để sử d ng. Khoảng 01 giờ sau, có một người nam thanh niên (không rõ tên, lai lịch, địa chỉ) đi xe gắn máy (không rõ biển số) đến trước sảnh cc TE, số 547-549 đường TQB, Phường BN, Quận T sử d ng điện tho i di động (không rõ số) điện tho i cho T ra nhận ma túy. T một mình đi ra gặp người nam thanh niên nhận một hộp bánh bao ng y trang bên ngoài, bên trong có 01 gói nylon chứa tinh thể màu trắng là ma túy Kay và 01 gói nylon chứa 03 viên nén màu hồng là thuốc lắc quấn trong băng keo. T đưa số tiền 3.000.000 đồng cho người giao ma túy. T mang ma túy về căn hộ D2A-8.08 bỏ 02 gói nylon chứa ma túy tổng hợp vào trong hộc tủ c nh giường phòng ngủ số 3 (là phòng ngủ của T) chờ có dịp sử d ng. T đi ngủ đến khoảng 02 giờ, ngày 26/11/2023 thì nghe tiếng gọi cửa của Nguyễn Thị Huỳnh N1, T đi ra m cửa cho N1 vào ngủ nhờ trong phòng số 02. Khoảng 20 giờ, ngày 26/11/2023 khi Nguyễn Văn P1 đang trong phòng ngủ số 01, D1 đang ngủ trong phòng ngủ số 03, T rủ N1 vào phòng ngủ số 03 ngồi dưới nền nhà sử d ng ma túy tổng hợp. T mang vào phòng 01 đĩa sứ, 01 thẻ nhựa, 01 tờ tiền mệnh giá 10.000 đồng cuộn tròn để làm d ng c sử d ng ma túy đặt dưới nền nhà; T lấy 01 gói Kay từ trong hộc tủ đổ một ít ra đĩa sứ cà mịn, gói Kay còn l i T để trên bàn vi tính trong phòng ngủ số 03. T dùng thẻ nhựa kẻ đường ma túy theo nhu cầu sử d ng, rồi T dùng tờ tiền cuộn tròn hít ma túy trên đĩa sứ vào mũi. Sau đó, T tiếp t c lấy thuốc lắc từ trong hộc tủ ra sử d ng hết 01 viên, còn N1 dùng thẻ nhựa kẻ đường ma túy theo nhu cầu sử d ng của bản thân, rồi N1 dùng tờ tiền cuộn tròn h t ma túy trên đĩa sứ vào mũi, N1 không sử d ng thuốc lắc. T ngồi chơi với N1 khoảng 10 phút đến 15 phút thì T nghe điện tho i m ng xã hội zalo của vợ con T từ thành phố Huế gọi vào, nên T đi ra ngoài phòng khách nói chuyện với vợ trong khoảng 02 giờ. Khi nói chuyện xong quay về phòng, T thấy D1 ngủ dậy đang trò chuyện cùng với N1; lúc này N1 nói cho T biết D1 vừa mới hít Kay. Sau khi biết việc, T có khuyên D1 từ nay không sử d ng ma túy nữa (vì D1 đang mang thai). Sau đó, T lo cho D1 ăn uống buổi tối cho đến 23 giờ 00 phút, ngày 26/11/2023 có Dương Minh Đ1 là b n trai của N1 đến rước N1 về nhà. T để cho Đ1 vào phòng ngủ số 03 để Đ1 gặp N1. Còn T ngồi ngoài phòng khách trao đổi nói chuyện qua điện tho i với gia đình, người thân đang thành phố Huế. Vào lúc 23 giờ 15 phút, ngày 26/11/2023, T nghe tiếng gõ cửa của Công an Phường 4, Quận 8 yêu cầu kiểm tra hành chính. T m cửa cho Công an vào trong căn hộ để kiểm tra và thu giữ vật chứng như nêu trên. Qua đối chất, xác định lời khai của T phù hợp với lời khai của D1 và lời khai của N1.
Việc thu giữ tài liệu, đồ vật và xử lý vật chứng:
- 02 gói niêm phong bên trong chứa ma túy, 01 loa, 01 đèn, 01 điện tho i di động của Trần Ngọc T sử d ng vào việc ph m tội.
- 01 điện tho i di động của Nguyễn Kim D1, 01 điện tho i di động của Nguyễn Thị Huỳnh N1, 01 điện tho i di động của Nguyễn Văn P1, 01 điện tho i di dộng của Nguyễn Dương Minh Đ1: Tất cả không liên quan đến v án và Cơ quan điều tra đã lập biên bản trả l i tài sản cho chủ s hữu hợp pháp.
Đối với người nam thanh niên tên Đậu giúp Trần Ngọc T mua ma túy, qua xác minh, không xác định được nhân thân lai lịch; nên Cơ quan điều tra không có căn cứ để xử lý trong v án này.
Đối với Nguyễn Kim D1, Nguyễn Thị Huỳnh N1 có hành vi sử d ng trái phép chất ma túy, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Quận 8 bàn giao cho Công an Phường 4, Quận 8 xử lý vi ph m hành ch nh.
Đối với chủ s hữu căn hộ D2A-8.08 cc TE, số 547-549 đường TQB, Phường BN, Quận T, Thành phố HCM là bà Đặng Thị Hoàng Mỹ và bà Mỹ không có liên quan đến hành vi ph m tội của Trần Ngọc T; nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Quận 8 không xử lý.
Đối với Nguyễn Văn P1, Nguyễn Dương Minh Đ1 không liên quan đến hành vi ph m tội của Trần Ngọc T; nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Quận 8 không xử lý.
Đối với hành vi chung sống với nhau như vợ chồng giữa Trần Ngọc T và Nguyễn Kim D1, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Quận 8 không xử lý trong cùng v án này.
* Bản cáo tr ng số 246/CT-VKS-Q8 ngày 30/9/2024 của Viện kiểm sát nhân dân Quận 8, Thành phố Hồ Ch Minh đã truy tố bị cáo Trần Ngọc T về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định t i điểm i Khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) và tội “Tổ chức sử d ng trái phép chất ma túy” theo quy định t i Khoản 1 Điều 255 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017);
* T i phiên tòa, Kiểm sát viên vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố đối với bị cáo Trần Ngọc T và đề nghị Hội đồng xét xử áp d ng:
- Khoản 1 Điều 255; điểm i Khoản 1 Điều 249; điểm s Khoản 1 và Khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 55 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) để xử ph t bị cáo Trần Ngọc T với mức án:
+ Từ 02 (hai) năm tù đến 03 (ba) năm tù, về tội “Tổ chức sử d ng trái phép chất ma túy”;
+ Từ 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù đến 02 (hai) năm tù, về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”;
Buộc bị cáo Trần Ngọc T phải chấp hành hình ph t tù chung của 02 (hai) tội là từ 03 (ba) năm 06 (sáu) tháng tù đến 05 (năm) năm tù.
- Miễn hình ph t bổ sung cho bị cáo Trần Ngọc T (do bị cáo không có hư ng lợi bất ch nh và có hoàn cảnh kinh tế gia đình khó khăn, khó thi hành).
- Về vật chứng: Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét và xử lý theo quy định của pháp luật.
* Bị cáo Trần Ngọc T không có ý kiến tranh luận và không tự bào chữa, bị cáo xin được giảm nhẹ hình ph t để được sớm tr về với gia đình (vì bị cáo rất ăn năn hối hận về hành vi ph m tội đã thực hiện).
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ s nội dung v án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ v án đã được tranh t ng t i phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố t ng của: Cơ quan điều tra Công an Quận 8, Thành phố Hồ Ch Minh; Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân Quận 8, Thành phố Hồ Ch Minh; Kiểm sát viên: Trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ t c theo quy định của Bộ luật Tố t ng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và t i phiên tòa, bị cáo và người tham gia tố t ng khác không có ý kiến, không có khiếu n i về hành vi và quyết định của người tiến hành tố t ng, của Cơ quan tiến hành tố t ng. Do đó, các hành vi tố t ng, các quyết định tố t ng của người tiến hành tố t ng, của Cơ quan tiến hành tố t ng đã thực hiện đều hợp pháp.
T i phiên tòa, bị cáo Trần Ngọc T đã khai nhận toàn bộ hành vi ph m tội đã thực hiện và bị lực lượng Công an kịp thời phát hiện bắt quả tang cùng vật chứng, như nội dung Cáo tr ng đã nêu.
Ngoài ra, bị cáo Trần Ngọc T còn khai nhận việc bị cáo đã lấy địa điểm nơi của mình quản lý (phòng ngủ trong căn hộ nêu trên) để tổ chức cho Nguyễn Thị Huỳnh N1 sử d ng trái phép chất ma túy và bản thân bị cáo cũng cùng sử d ng trái phép chất ma túy.
Riêng Nguyễn Kim D1 đã tự ý sử d ng trái phép chất ma túy t i địa điểm nêu trên trong lúc bị cáo Trần Ngọc T không có mặt t i đây, nên T hoàn toàn không biết việc này (T chỉ nghe N1 nói l i với T việc D1 tự ý sử d ng ma túy sau khi T đi ra ngoài nghe điện tho i của người thân và quay tr l i phòng ngủ) và trước đó T cũng không có rủ rê D1 sử d ng ma túy.
Xét lời khai nhận của bị cáo Trần Ngọc T phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác có t i hồ sơ v án và phù hợp với nội dung Cáo tr ng truy tố của Viện kiểm sát nhân dân Quận 8, Thành phố Hồ Ch Minh.
Qua giám định, chất ma túy thu giữ đủ khối lượng để truy tố đối với hành vi ph m tội của bị cáo Trần Ngọc T theo quy định của Bộ luật hình sự.
Do đó, căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có t i hồ sơ v án và kết quả của việc thẩm tra, xét hỏi, tranh luận t i phiên tòa; Hội đồng xét xử đã có đủ cơ s đế kết luận:
Bị cáo Trần Ngọc T đã ph m vào tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định t i điểm i Khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) và tội “Tổ chức sử d ng trái phép chất ma túy” theo quy định t i Khoản 1 Điều 255 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Trong lần xét xử này, bị cáo Trần Ngọc T phải bị tổng hợp hình ph t theo quy định t i Điều 55 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) đối với từng hành vi ph m tội mà bị cáo đã thực hiện.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: T i Cơ quan điều tra cũng như t i phiên tòa, bị cáo rất thành khẩn khai báo, thật sự tỏ ra ăn năn hối cải về hành vi ph m tội đã thực hiện; gia đình của bị cáo có truyền thống cách m ng và có nhiều công sức đóng góp đối với đất nước và thực hiện nhiệm v quốc tế Cam – pu – chia (được tặng thư ng nhiều Huân chương, Huy chương, Kỷ niệm chương, …) cũng như có nhiều đóng góp đối với xã hội. Đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định t i điểm s Khoản 1 và Khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017), để Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ cho bị cáo một phần về hình ph t mà lẽ ra bị cáo phải chịu.
Về nhân thân của bị cáo: Bị cáo Trần Ngọc T có quá trình nhân thân tốt (chưa có tiền án, chưa có tiền sự); vì vậy, Hội đồng xét xử cũng cần lưu ý, cân nhắc khi quyết định hình ph t đối với bị cáo cho tương xứng và phù hợp.
Xét thấy hành vi ph m tội của bị cáo Trần Ngọc T là nguy hiểm cho xã hội, nên cần xét xử nghiêm minh, cần phải tiếp t c cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội trong một khoảng thời gian nhất định, để bị cáo nhận thức được một cách toàn diện, đầy đủ về hành vi ph m tội của mình và sửa chữa, tu dưỡng, rèn luyện, phấn đấu thành công dân sống có ích cho xã hội. Qua đó, tiếp t c phát huy tác d ng của hình ph t; cũng như nâng cao hiệu quả của công tác phòng ngừa tội ph m chung trong xã hội.
Bản Cáo tr ng truy tố của Viện Kiểm sát nhân dân Quận 8, Thành phố Hồ Ch Minh đối với bị cáo Trần Ngọc T là có cơ s pháp luật, đúng người, đúng tội; quan điểm luận tội của Kiểm sát viên đ i diện Viện kiểm sát đối với bị cáo t i phiên tòa là có cơ s pháp luật; mức án mà Kiểm sát viên đề nghị phù hợp với t nh chất, mức độ ph m tội và nhân thân của bị cáo; nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.
Ý kiến của bị cáo Trần Ngọc T về việc đề nghị Hội đồng xét xử xem xét xử ph t bị cáo mức án nhẹ, t o cơ hội cho bị cáo được sớm tr về với gia đình, hòa nhập với xã hội là có cơ s pháp luật để được Hội đồng xét xử chấp nhận, như Hội đồng xét xử đã phân tích nêu trên.
Về hình ph t bổ sung:
- Theo quy định t i Khoản 5 Điều 255 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) thì bị cáo còn có thể bị ph t tiền từ 50.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng, ph t quản chế, cấm cư trú từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản.
Xét thấy bị cáo Trần Ngọc T ph m tội không nhằm m c đ ch hư ng lợi, không có tài sản; nên Hội đồng xét xử không ph t bổ sung (miễn) đối với bị cáo.
- Theo quy định t i Khoản 5 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) thì bị cáo còn có thể bị ph t tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức v , cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản.
Xét thấy bị cáo Trần Ngọc T tàng trữ trái phép chất ma túy chỉ để sử d ng mà không nhằm m c đ ch hư ng lợi bất ch nh, có hoàn cảnh gia đình khó khăn và khó thi hành; nên Hội đồng xét xử không ph t bổ sung (miễn) đối với bị cáo.
Về vật chứng liên quan:
- 01 gói niêm phong bên ngoài ghi ký hiệu Gói 1: 2582/23 – Q8 chữ ký ghi tên Trần Ngọc T, Nguyễn Kim D1, Nguyễn Dương Minh Đ1, Nguyễn Thị Huỳnh N1, hình dấu Công an Phường 4, Quận 8 và chữ ký giám định viên: Qua giám định bên trong chứa chất ma túy độc h i, cấm tàng trữ, cấm lưu hành và hiện không còn giá trị sử d ng; nên tịch thu tiêu hủy.
- 01 gói niêm phong bên ngoài ghi ký hiệu Gói 2: 2582/23 – Q8 chữ ký ghi tên Trần Ngọc T, hình dấu Công an Phường 4, Quận 8 và chữ ký giám định viên: Qua giám định bên trong chứa chất ma túy độc h i, cấm tàng trữ, cấm lưu hành và hiện không còn giá trị sử d ng; nên tịch thu tiêu hủy.
- 01 thẻ nhựa màu đỏ (là của bị cáo Trần Ngọc T) và đã sử d ng vào việc ph m tội, hiện không có giá trị sử d ng; nên cần tịch thu tiêu hủy.
- 01 loa, 01 đèn, 01 điện tho i di động hiệu Iphone, gắn sim số 0912631357, số tiền 10.000 đồng tiền NHNN Việt Nam (tất cả là của bị cáo Trần Ngọc T) và đã sử d ng vào việc ph m tội, hiện có giá trị sử d ng; nên cần tịch thu nộp ngân sách nhà nước.
- Các vật chứng khác bị t m giữ, do không có liên quan đến v án; nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Quận 8 đã trả l i cho chủ s hữu hợp pháp là phù hợp theo quy định của pháp luật.
Đối với người nam thanh niên tên Đậu giúp bị cáo Trần Ngọc T mua ma túy, qua xác minh không xác định được nhân thân lai lịch; nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Quận 8 không có căn cứ để xử lý trong cùng v án này và hiện nay Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Quận 8 vẫn đang tiếp t c điều tra làm rõ để xử lý sau, là phù hợp theo quy định của pháp luật.
Đối với Nguyễn Kim D1, Nguyễn Thị Huỳnh N1 không có liên quan đến v án; nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Quận 8 không xử lý hình sự là phù hợp theo quy định của pháp luật. Tuy nhiên, Nguyễn Kim D1, Nguyễn Thị Huỳnh N1 có hành vi sử d ng trái phép chất ma túy; nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Quận 8 bàn giao cho Công an Phường 4, Quận 8 xử lý vi ph m hành ch nh là phù hợp theo quy định của pháp luật
Đối với Nguyễn Văn P1, Nguyễn Dương Minh Đ1 không có liên quan đến đến v án; nên Cơ quan điều tra Công an Quận 8 không xử lý là phù hợp theo quy định của pháp luật.
Đối với bà Đặng Thị Hoàng Mỹ (là chủ s hữu căn hộ D2A-8.08 cc TE, số 547-549 đường TQB, Phường BN, Quận T, Thành phố HCM) không có liên quan đến v án; nên Cơ quan điều tra Công an Quận 8 không xử lý là phù hợp theo quy định của pháp luật.
Đối với hành vi của Trần Ngọc T và Nguyễn Kim D1 chung sống với nhau như vợ chồng trong thời gian vẫn đang tồn t i mối quan hệ hôn nhân giữa Trần Ngọc T và chị Phan Thị Cẩm G1: Do hành vi này độc lập, không có liên quan đến v án này; nên Hội đồng xét xử xét thấy không cần thiết trả hồ sơ để điều tra bổ sung mà cần kiến nghị Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Quận 8 xem xét, xử lý theo đúng quy định của pháp luật.
Về án ph hình sự sơ thẩm: Bị cáo Trần Ngọc T phải chịu theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ vào Khoản 1 Điều 255; điểm s Khoản 1 và Khoản 2 Điều 51; Điều 38;
Điều 50 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017);
- Căn cứ vào điểm i Khoản 1 Điều 249; điểm s Khoản 1 và Khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 50 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017);
- Căn cứ vào Điều 55 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017);
Xử phạt: Bị cáo Trần Ngọc T 02 (hai) năm tù, về tội “Tổ chức sử d ng trái phép chất ma túy” và 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù, về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Tổng hợp hình ph t tù chung của 02 (hai) tội danh mà bị cáo Trần Ngọc T phải chấp hành là 03 (ba) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời h n tù t nh từ ngày 27/11/2023.
- Về hình ph t bổ sung: Không ph t bổ sung (miễn) đối với bị cáo Trần Ngọc T về tội “Tổ chức sử d ng trái phép chất ma túy” và tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- Về vật chứng: Căn cứ vào Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) và Điều 106 Bộ luật Tố t ng hình sự năm 2015;
+ Tịch thu và tiêu hủy: 01 (một) gói niêm phong bên ngoài ghi ký hiệu Gói 1: 2582/23 – Q8 chữ ký ghi tên Trần Ngọc T, Nguyễn Kim D1, Nguyễn Dương Minh Đ1, Nguyễn Thị Huỳnh N1, hình dấu Công an Phường 4, Quận 8 và chữ ký giám định viên; 01 (một) gói niêm phong bên ngoài ghi ký hiệu Gói 2: 2582/23 – Q8 chữ ký ghi tên Trần Ngọc T, hình dấu Công an Phường 4, Quận 8 và chữ ký giám định viên; 01 (một) thẻ nhựa màu đỏ.
+ Tịch thu nộp vào ngân sách nhà nước 01 (một) loa, 01 (một) đèn, 01 (một) điện tho i di động hiệu Iphone, gắn sim số 0912631357 và số tiền 10.000 đồng (mười nghìn đồng) tiền NHNN Việt Nam.
(Theo Biên bản giao, nhận tang tài vật lập ngày 13/11/2024, t i kho Chi c c Thi hành án dân sự Quận 8, TP.HCM).
- Về án ph hình sự sơ thẩm: Căn cứ vào Điều 135, Điều 136 Bộ luật Tố t ng hình sự năm 2015 vaø Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường v Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử d ng án ph và lệ ph Tòa án;
Buộc bị cáo Trần Ngọc T phải chịu số tiền là 200.000đđồng (hai trăm nghìn đồng).
Thi hành t i Chi c c Thi hành án dân sự có thẩm quyền.
- Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo Bản án trong thời h n 15 (mười lăm) ngày, kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi, nghĩa v liên quan đến v án vắng mặt t i phiên tòa, có quyền kháng cáo phần Bản án có liên quan đến quyền lợi, nghĩa v của mình, trong thời h n 15 (mười lăm) ngày, kể từ ngày Bản án được tống đ t hoặc niêm yết hợp lệ.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
| Nơi nhận: - TAND TP.HCM; - VKSND TP.HCM; - PV 06 CA TP.HCM; - S Tư pháp TP.HCM; - VKSND Q.8; - Chi c c THADS Q.8; - CQĐT CAQ.8; - CQTHAHS CAQ.8; NTG CAQ.8; - Tr i t m giam Ch Hòa (T30) CA TP.HCM; - Bị cáo; - Người tham gia tố t ng khác; - UBND nơi bị cáo cư trú; - Lưu: VT, hồ sơ v án. | THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Trọng Trúc |