- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Vũ Thị Phương Th- TRần QUốc D"
- Tòa quyết gì? Về hôn nhân: Cho ly hôn giữa chị Vũ Thị Phương Th và anh Trần Quốc D.
- Căn cứ chính? Điều 147 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HẢI HẬU TỈNH NAM ĐỊNH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số 240/2023/HNGĐ-ST Ngày 13-9-2023 V/v: “Ly hôn, nuôi con khi ly hôn giữa chị Th và anh D”. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HẢI HẬU, TỈNH NAM ĐỊNH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Ngô Thị Hòe.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Văn Hóa
Ông Phạm Văn Lịch.
- Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Thị Hồng Thắm - Thư ký Toà án nhân dân huyện Hải Hậu, tỉnh Nam Định.
Ngày 13 tháng 9 năm 2023, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Hải Hậu, tỉnh Nam Định xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 193/2023/TLST-HNGĐ ngày 20 tháng 7 năm 2023 về việc “Ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 179/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 31 tháng 8 năm 2023 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Vũ Thị Phương Th, sinh năm 2000. Địa chỉ: Xóm 2, xã HH, huyện H, tỉnh Nam Định.
- Bị đơn: Anh Trần Quốc D, sinh năm 1991. Địa chỉ: Xóm 2, xã HH, huyện H, tỉnh Nam Định.
(Chị Th, anh D đều vắng mặt có lý do)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện xin ly hôn đề ngày 05-7-2023, bản tự khai, lời khai trong quá trình tố tụng nguyên đơn chị Vũ Thị Phương Th trình bày:
Chị Vũ Thị Phương Th và anh Trần Quốc D đăng ký kết hôn ngày 22/5/2020 tại Ủy ban nhân dân xã HH, huyện H, tỉnh Nam Định trên cơ sở tự do tìm hiểu, tự nguyện kết hôn. Sau khi kết hôn, vợ chồng chung sống tại xóm 2, xã Hải Hà. Quá trình chung sống, do tính tình, quan điểm sống không hợp nên vợ chồng thường xuyên mâu thuẫn. Trong thời gian mâu thuẫn, chị Th đã có con riêng với người đàn ông khác. Vì vậy, chị Th đã chủ động ly thân, chấm dứt quan hệ tình cảm, trách nhiệm với anh D từ tháng 6/2023 đến nay. Nay chị Th nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn, mâu thuẫn vợ chồng đã trầm trọng nên đề nghị Tòa án giải quyết cho ly hôn với anh D.
Về con: Trong thời kỳ hôn nhân với anh D, chị Th sinh 01 con tên Trần Gia Hưng, sinh ngày 14-01-2023 hiện đang do chị Th nuôi dưỡng. Tuy nhiên, cháu Hưng là con riêng của chị Th, không phải con chung giữa chị Th và anh D. Nay ly hôn, chị Th đề nghị Tòa án xác định cháu Hưng là con riêng của chị Th; đề nghị giao cháu Hưng cho chị Th nuôi dưỡng, anh D không phải cấp dưỡng cho chị Th; không yêu cầu Tòa án xác định cha cho cháu Hưng.
Về tài sản: Chị Th và anh D tự thỏa thuận phân chia, không yêu cầu Toà án giải quyết.
Tại bản tự khai ngày 23-7-2023 bị đơn anh Trần Quốc D công nhận lời khai của chị Th về thời gian kết hôn, quá trình chung sống, mâu thuẫn vợ chồng. Do chị Th có con riêng với người đàn ông khác nên vợ chồng mâu thuẫn trầm trọng dẫn đến ly thân từ tháng 6 năm 2023 đến nay. Nay chị Th xin ly hôn, xét tình cảm vợ chồng không còn nên anh D nhất trí thuận tình ly hôn với chị Th.
Về con chung: Trong thời kỳ hôn nhân, chị Th sinh cháu Trần Gia Hưng, sinh ngày 14/01/2023. Do nghi ngờ cháu Hưng không phải con nên anh D đã lấy cuống rốn của cháu Hưng và máu của anh Hưng để giám định. Kết quả phân tích ADN xác định cháu Hưng và anh D không có quan hệ huyết thống. Anh D nhất trí với yêu cầu của chị Th, đề nghị Tòa án xác định vợ chồng không có con chung, cháu Hưng là con riêng chị Th và giao chị Th nuôi dưỡng.
Về tài sản: Anh D và chị Th tự thỏa thuận phân chia, không yêu cầu Toà án giải quyết.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà; căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:
Về thủ tục tố tụng: Quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn, bị đơn đều xin xét xử vắng mặt. Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt chị Th, anh D là phù hợp với quy định tại khoản 2 Điều 227; khoản 1, khoản 3 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về quan hệ hôn nhân: Quan hệ vợ chồng giữa chị Vũ Thị Phương Th và anh Trần Quốc D là quan hệ hôn nhân hợp pháp vì được xây dựng trên cơ sở tự nguyện và được Ủy ban nhân dân xã HH, huyện H, tỉnh Nam Định đăng ký kết hôn ngày 22-5-2020.
Xét yêu cầu xin ly hôn của chị Th và anh D thì thấy: Trong suốt quá trình chung sống, do tính tình không hợp nên chị Th và anh D thường xuyên mâu thuẫn, cãi chửi nhau. Trong thời gian vợ chồng mâu thuẫn, chị Th có con riêng với người khác nên mâu thuẫn trở nên trầm trọng, không thể khắc phục. Chị Th và anh D ly thân, chấm dứt quan hệ tình cảm, trách nhiệm từ tháng 6 năm 2023 đến nay. Trên cơ sở xem xét đơn đề nghị của chị Th có xác nhận của chính quyền địa phương về tình trạng mâu thuẫn; căn cứ lời khai của chị Th, anh D, Hội đồng xét xử xác định: Mâu thuẫn vợ chồng giữa chị Th và anh D đã trầm trọng, tình cảm vợ chồng không còn, cuộc sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Vì vậy, cần chấp nhận yêu cầu của chị Th và anh D, cho chị Th được ly hôn anh D là phù hợp quy định tại khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình.
Về con chung: Chị Vũ Thị Phương Th và anh Trần Quốc D đều xác định vợ chồng không có con chung, con do chị Th sinh ra trong thời kỳ hôn nhân là con riêng chị Th. Căn cứ lời khai thừa nhận của các đương sự, kết quả phân tích ADN ngày 22 tháng 6 năm 2023 của Công ty TNHHH Đầu tư và công nghệ Genplus có đủ cơ sở xác định cháu Trần Gia Hưng do chị Th sinh trong thời kỳ hôn nhân là con riêng chị Th; không phải con đẻ anh D. Quá trình giải quyết vụ án, chị Th không yêu cầu xác định cha cho cháu Hưng. Vì vậy, xác định cháu Trần Gia Hưng, sinh ngày 14-01-2023 là con riêng của chị Th, giao chị Th nuôi dưỡng; anh D không phải là cha đẻ cháu Hưng nên giữa anh D và cháu Hưng không có quan hệ cha con, không phát sinh quyền, nghĩa vụ với nhau theo quy định pháp luật.
Về tài sản: Chị Th, anh D tự thỏa thuận phân chia, không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không đề cập giải quyết.
Về án phí dân sự sơ thẩm: Chị Vũ Thị Phương Th phải nộp án phí sơ thẩm theo quy định pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 56 và các Điều 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và gia đình; khoản 1 Điều 227, khoản 1 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự.
1. Về hôn nhân: Cho ly hôn giữa chị Vũ Thị Phương Th và anh Trần Quốc D.
2. Về con: Xác định cháu Trần Gia Hưng, sinh ngày 14/01/2023 là con riêng của chị Vũ Thị Phương Th; giao chị Th nuôi dưỡng cháu Hưng. Anh Trần Quốc D không phải cha đẻ cháu Hưng.
3. Về án phí dân sự sơ thẩm: Căn cứ Điều 147, điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Chị Vũ Thị Phương Th phải nộp 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) án phí ly hôn nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) tại biên lai số 0002714 ngày 20-7-2023 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Hải Hậu. Chị Vũ Thị Phương Th đã nộp đủ án phí dân sự sơ thẩm.
4. Quyền kháng cáo: Chị Vũ Thị Phương Th, anh Trần Quốc D được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Nam Định; - VKSND tỉnh+huyện; - Chi cục THADS huyện; - UBND xã Hải Hà; - Các đương sự; - Lưu hồ sơ + VP. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Ngô Thị Hòe |