- Tranh chấp gì? án hình sự — "Bùi Phương V - phạm tội bắt, giữ hoặc giam người trái pháp luật (điều 157 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bùi PV phạm tội “Giữ người trái pháp luật” và Chống người thi hành công vụ.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 157 Bộ luật Hình sự; Điều 292 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ VŨNG TÀU TỈNH BÀ RỊA - VŨNG TÀU | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 240/2021/HS-ST Ngày 30-9-2021 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ VŨNG TÀU, TỈNH BÀ RỊA - VŨNG TÀU
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Đinh Thị Châm
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Vũ Văn Chương
Ông Hà Văn Trường
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thu Quỳnh- Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Vũng Tàu, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Vũng Tàu, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Quốc HT – Kiểm sát viên.
Ngày 30 tháng 9 năm 2021, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Vũng Tàu, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 181/2021/TLST-HS ngày 23 tháng 6 năm 2021, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 283/2021/QĐXXST-HS ngày 15 tháng 9 năm 2021, đối với bị cáo:
Bùi PV (tên gọi khác: Tư lùn), sinh năm 1989 tại tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu; Hộ khẩu thường trú: ……. TCĐ, phường …, thành phố Vũng Tàu, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu; Chỗ ở: Không cố định; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Giới tính: Nam; Trình độ văn hoá: 08/12; Nghề nghiệp: Tự do; Cha: Bùi Thái S; Mẹ: Phan Thị S; Vợ: Nguyễn Phan Như T; Có 01 người con sinh năm 2015.
Tiền án; Tiền sự: Không.
Bị cáo đầu thú và bị tạm giam, tạm giữ ngày 28/01/2021. Có mặt tại phiên tòa.
Bị hại (Đều vắng mặt tại phiên tòa).
1. Anh Phạm C1, sinh năm 1984; Địa chỉ: 130/3 Lê Lai, Phường 4, thành phố Vũng Tàu, tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu;
2. Anh Phạm Mạnh K, sinh năm 1998; Địa chỉ: 33/1A Quang Trung, Phường 8, quận Gò Vấp, thành phố Hồ Chí Minh.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan (Đều vắng mặt tại phiên tòa):
1. Anh Phạm Thanh A, sinh năm 1971; Địa chỉ: …… Nguyễn A.N phường Nguyễn A.N, thành phố Vũng Tàu, tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu;
2. Anh Nguyễn Quốc D, sinh năm 1988; Địa chỉ: … đường P, khu A, Phường H, thành phố Vũng Tàu, tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu;
3. Anh Nguyễn Đình T, sinh năm 1989; Địa chỉ: số….. đường L, Phường T, thành phố Vũng Tàu, tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu;
4. Anh Vũ Đình C, sinh năm 1991; Địa chỉ: …..BC, Phường B, thành phố Vũng Tàu, tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu;
5. Anh Nguyễn Huy H, sinh năm 1986; Địa chỉ: ….THT, Phường B, thành phố Vũng Tàu, tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu;
6. Anh Lê Tấn T, sinh năm 1987; Địa chỉ: ….. đường M, Phường B, thành phố Vũng Tàu, tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu.
Người làm chứng (đều vắng mặt tại phiên tòa):
1. Anh Nguyễn HT, sinh năm 1980; Địa chỉ: ….. đường B, Phường B, thành phố Vũng Tàu, tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu;
2. Anh Lê Phúc T2, sinh năm 1985; Địa chỉ: ………. đường T, Phường T, thành phố Vũng Tàu, tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu;
3. Anh Bùi Phương L, sinh năm 1985; Địa chỉ:……. đường T, Phường T, thành phố Vũng Tàu, tỉnh Bà Rịu-Vũng Tàu.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng tháng 11 năm 2018, anh Phạm Thanh A cho bà Huỳnh Thị H (là mẹ ruột của Nguyễn HT) vay số tiền 10.000.000đ (Mười triệu đồng). Sau đó, anh A nhiều lần đòi nhưng bà Hường chưa có tiền trả, anh A đã gặp ông Nguyễn Văn M(là chồng bà H, cha ruột của HT) yêu cầu trả nợ thay bà H. Do đòi nhiều lần nên hai bên xảy ra cãi nhau và anh A có lời lẽ hù dọa ông M. Đến khoảng 21 giờ 30 phút ngày 21/4/2019, HT cùng Lê Phúc T2 (tên gọi khác Trắng), Bùi Phương L (tên gọi khác Lgà), Bùi PV (Tư lùn), Bùi Ngọc Phi Sơn và tên Minh (hiện chưa xác định được lai lịch, địa chỉ) đang ngồi nhậu cùng nhau tại nhà của HT ở số … đường B, phường B, thành phố Vũng Tàu thì HT biết được sự việc cha ruột mình bị anh A đòi nợ và dọa đánh. Do bực tức việc ông M bị đe dọa, HT nói cho mọi người trong bàn nhậu biết và gọi điện thoại nói anh A đến nhà HT ở địa chỉ trên để HT trả nợ thay ông Mùi nhưng thực chất là gọi anh A đến để đánh dằn mặt. anh A nhờ anh Nguyễn Quốc Dương (Dương chùa) nhưng anh Dương lại nhờ anh Phạm Minh Khôi đến gặp HT để lấy tiền dùm anh A. Khi đến nơi, anh K dựng xe mô tô bên ngoài cổng nhà HT và đi vào trong thì bị HT, T, Sơn, V dùng tay chân đánh, bắt anh K quỳ xuống đất và tra hỏi anh K có phải là người đã đánh ông M không thì anh K nói không phải mà chỉ là người đến lấy tiền dùm anh D. HT bắt anh K phải gọi điện thoại nói người cho mượn tiền đến để giải quyết. Sau khi anh K gọi điện thoại thì tiếp tục bị nhóm của HT dùng tay, chân đánh. Trong suốt thời gian chờ anh D đến (khoảng 30 phút), anh K bị nhóm của HT giữ lại trong khuôn viên sân nhà HT, bắt anh K phải quỳ gối. Khoảng 10 phút sau khi anh K điện thoại theo yêu cầu của HT thì anh Phạm C1 (do anh D nhờ) đến địa chỉ trên, dựng xe mô tô bên ngoài cổng đi vào trong nhà HT thì HT đóng cửa cổng lại rồi dùng tay, chân đánh anh C1, dùng kéo cắt cây uy hiếp anh C1; Sơn và V (Tư lùn) dùng tay chân đánh anh C1. Trong quá trình HT và đồng bọn giữ anh C1 và anh K trong nhà thì L là người đứng phía bên ngoài cổng canh cửa không để cho anh C1 và anh K trốn chạy. Khoảng 05 phút sau khi anh C1 đến, lực lượng Công an Phường 4, thành phố Vũng Tàu trực tiếp là anh Vũ Đình C và 01 anh bảo vệ dân phố nhận được tin báo đến giải quyết. Khi đến nơi, anh C gọi cửa thì HT mở cửa cho anh C vào bên trong, khi vào trong anh C hỏi sự việc như thế nào thì HT nói đó là những người cho vay nhưng anh C1 nói anh không phải là người cho vay và không liên quan thì tiếp tục bị HT dùng tay chân đánh vào người. Khoảng 03 phút sau thì anh Nguyễn Hoàng T –Công an Phường 4, thành phố Vũng Tàu cùng một số Bảo vệ dân phố chạy đến tăng cường và yêu cầu HT mở cửa ra làm việc. Cùng lúc này, anh A điều khiển xe mô tô đến nhà HT. Thấy anh A đến, HT, V (Tư lùn), Sơn xông vào dùng tay, chân đánh anh A. Anh T yêu cầu dừng lại thì bị V (Tư lùn) dùng tay đấm vào mặt làm anh T bị chấn thương sưng tấy góc hàm bên trái buộc anh T phải bắn 02 phát súng chỉ thiên để trấn áp giải tán và đưa người bị hại đi cấp cứu. Trong quá trình nhóm của HT giữ, đánh anh K và anh C1 thì HT có đưa điện thoại di động cho T2 để quay phim lại việc này. T2 quay phim sau đó đưa điện thoại lại cho HT. Đêm ngày 21/4/2019, HT đăng 01 đoạn clip thể hiện việc đánh anh C lên mạng Facebook của HT. Đến sáng ngày 22/4/2019, HT gỡ bỏ và xóa clip trên máy điện thoại di động. Sau khi xảy ra vụ án, HT, V, Sơn, Minh đã bỏ trốn còn L, T2 bị bắt giữ. Ngày 30/10/2019, Nguyễn HT bị bắt theo Quyết định truy nã.
Tại Bản án số 16/2020/HSST ngày 17/01/2020 của Tòa án nhân dân thành phố Vũng Tàu xử phạt: Nguyễn HT 02 năm 06 tháng tù; Bùi Phương L và Lê Phúc T2 mỗi bị cáo 01 năm tù về tội “Giữ người trái pháp luật”.
Ngày 28/01/2021, Bùi PV đến Cơ quan Công an đầu thú.
Tại Cơ quan CSĐT Công an thành phố Vũng Tàu, Bùi PV chỉ thừa nhận cùng đồng bọn giữ anh K, C để hỏi người nhờ đến lấy tiền, không thừa nhận hành vi chống người thi hành công vụ.
Tuy nhiên, căn cứ vào các lời khai của Nguyễn HT, Lê Phúc T2, Bùi Phương L và của những người bị hại là anh Phạm C1, Phạm Mạnh K, Phạm Thanh A; lời khai của các cảnh sát khu vực Vũ Đình C, Nguyễn Hoàng T; các anh bảo vệ dân phố là anh Nguyễn Huy H và Lê Tấn T cùng chứng cứ khác đó là đoạn video do nhóm của HT quay ghi lại cùng quá trình thực nghiệm điều tra, đối chất Bản cáo trạng số 193/CT-VKSTPVT ngày 22 tháng 6 năm 2021, Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Vũng Tàu đã truy tố bị cáo Bùi PV về tội “Giữ người trái pháp luật” và tội “Chống người thi hành công vụ” theo quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 157 và khoản 1 Điều 330 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa:
Bị cáo Bùi PV đã khai nhận về toàn bộ hành vi của mình như nội dung bản cáo trạng đã nêu đối với hành vi “Giữ người trái pháp luật”.
Đối với hành vi “Chống người thi hành công vụ” bị cáo cho rằng không cố ý đánh anh Nguyễn Đình Tú. Khi bị cáo đấm anh A, do anh A né trốn sau lưng anh Tú nên bị cáo mới đấm trượt vào mặt anh Tú. Bị cáo cho rằng không biết anh Tú là cảnh sát hình sự vì lúc đó anh Tú mặc đồ áo thun (thường phục) nên khi thấy anh Tú bị cáo tưởng anh Tú là người cùng nhóm của anh A và bị cáo mới không nghe theo lệnh của anh Tú. Sau khi bị cáo đánh anh Tú, thấy anh Tú rút súng bắn chỉ thiên thì bị cáo mới biết anh Tú là công an.
Đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố tại phiên tòa vẫn giữ nguyên quan điểm đã truy tố đối với bị cáo về tội “Giữ người trái pháp luật” và tội “Chống người thi hành công vụ”, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm đ khoản 2 Điều 157, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, khoản 2 Điều 54 và Điều 38 Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo từ 12 đến 15 tháng tù về tội “Giữ người trái pháp luật”; áp dụng khoản 1 Điều 330, điểm s khoản 1 Điều 51 và Điều 38 Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo từ 06 đến 09 tháng tù về tội “Chống người thi hành công vụ”.
Về xử lý vật chứng và trách nhiệm dân sự đã được giải quyết tại Bản án hình sự số 16/2020/HSST ngày 17/01/2020 của Tòa án nhân dân thành phố Vũng Tàu.
Lời nói sau cùng của bị cáo: Bị cáo hối hận về hành vi phạm tội của mình và mong Hội đồng xét xử xem xét, giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Tại phiên tòa, người bị hại; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan; người làm chứng vắng mặt nhưng đã có lời khai rõ ràng tại cơ quan điều tra, bị cáo và đại diện Viện kiểm sát thành phố Vũng Tàu tham gia phiên tòa không yêu cầu hoãn phiên tòa, việc họ vắng mặt không làm ảnh hưởng đến việc giải quyết vụ án, Hội đồng xét xử căn cứ các điều 292, 293 Bộ luật Tố tụng hình sự quyết định xét xử vắng mặt họ.
Về hành vi phạm tội của bị cáo: Đối chiếu lời khai nhận của bị cáo với lời khai của bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, người làm chứng và các chứng cứ, tài liệu đã thu thập có trong hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở để xác định:
2.1. Vể tội giữ người trái pháp luật: Khoảng 21 giờ 30 ngày 21 tháng 4 năm 2019, Bùi PV cùng Nguyễn HT, Lê Phúc T2, Bùi Phương L; Bùi Ngọc Phi Sơn và đối tượng tên Minh đã có hành vi đánh, uy hiếp, ép anh Phạm Mạnh K quỳ ở sân mục đích giữ anh K lại để gọi anh Phạm Thanh A đến để HT giải quyết mâu thuẫn. Thời gian từ khi anh K đến và bị giữ trong nhà HT khoảng hơn 40 phút.
Khi anh Phạm C1 được anh D, bạn anh A nhờ đến nhà HT thì HT đóng cửa cổng lại rồi dùng tay, chân đánh anh C1, dùng kéo cắt cây uy hiếp anh C1; Sơn và V dùng tay chân đánh anh C1. Trong quá trình HT và đồng bọn giữ anh C1 và anh K trong nhà thì L là người đứng phía bên ngoài cổng canh cửa không để cho anh C1 và anh K trốn chạy. Thời gian từ khi anh C1 đến và bị giữ trong nhà HT khoảng gần 10 phút.
Trong quá trình nhóm của HT giữ, đánh anh K và anh C1 thì HT có đưa điện thoại di động cho T2 để quay phim lại việc này. T2 quay phim sau đó đưa điện thoại lại cho HT. Đêm ngày 21/4/2019, HT đăng 01 đoạn clip thể hiện việc đánh anh C1 lên mạng Facebook của HT. Đến sáng ngày 22/4/2019, HT gỡ bỏ và xóa clip trên máy điện thoại di động.
Tại Bản án số 16/2020/HSST ngày 17/01/2020 của Tòa án nhân dân thành phố Vũng Tàu xử phạt: Nguyễn HT mức án 02 năm 06 tháng tù; Bùi Phương L và Lê Phúc T2 01 năm tù về tội “Giữ người trái pháp luật”.
Bị cáo Bùi PV là người trưởng thành, nhận thức rõ việc cùng HT, Thọ, Lâm, Sơn, Minh dùng vũ lực giữ anh K, anh Dương tại nhà của HT là vi phạm pháp luật nhưng vẫn cố ý thực hiện.
Hành vi của bị cáo V cùng với đồng bọn thực hiện nêu trên đủ yếu tố cấu thành tội “Giữ người trái pháp luật”, có tình tiết định khung “đối với 2 người trở lên” theo quy định tại điểm đ khoản 2, Điều 157 Bộ luật Hình sự. Do đó, cáo trạng số 193/CT-VKSTPVT ngày 22 tháng 6 năm 2021, Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Vũng Tàu đã truy tố đối với bị cáo về tội “Giữ người trái pháp luật” là hoàn toàn đúng người, đúng tội, đúng quy định của pháp luật.
Đối với đối tượng Bùi Ngọc Phi Sơn và Minh (chưa xác định được lai lịch), đề nghị Cơ quan điều tra tiếp tục điều tra, xác minh để truy bắt và xử lý theo quy định của pháp luật.
2.2. Về tội “Chống người thi hành công vụ”: Bị cáo V không thừa nhận việc biết anh T là cảnh sát khu vực nên không chống người thi hành công vụ.
Qua các tài liệu, chứng cứ trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy:
Khoảng 22 giờ ngày 21 tháng 4 năm 2019, tại địa chỉ …….trong quá trình các anh cảnh sát khu vực Vũ Đình C, Nguyễn Hoàng T; các anh bảo vệ dân phố là anh Nguyễn Huy H và Lê Tấn T đến hiện trường để thực hiện nhiệm vụ thì Bùi PV dùng tay đấm vào mặt làm anh T bị chấn thương sưng tấy góc hàm bên trái buộc anh T phải bắn 02 phát súng chỉ thiên để trấn áp giải tán và đưa người bị hại đi cấp cứu.
Tại “Biên bản hỏi cung bị can” lúc 8 giờ10 phút ngày 25 tháng 11 năm 2019 (Bút lục 201 của vụ án “Giữ người trái pháp luật” đã xử theo Bản án hình sự sơ thẩm số Bản án số 16/2020/HSST ngày 17/01/2020 của Tòa án nhân dân thành phố Vũng Tàu) Bùi Phương L là anh ruột của bị cáo V đã khai “khi nhóm công an thứ hai đến thì người mặc áo thun có giới thiệu mình là công an Phường 4 và yêu cầu HT mở cửa. Những người trong sân lúc đó cũng nghe nên HT đã mở cửa ra”. Lời khai của Bùi Phương L phù hợp với lời khai của Nguyễn HT, Lê Phúc T2, Bùi Phương L và của những người bị hại là anh Phạm C1, Phạm Mạnh K, Phạm Thanh A; lời khai của các anh Vũ Đình C, Nguyễn Hoàng T; Nguyễn Huy Hoàng và Lê Tấn Tài cùng chứng cứ khác đó là đoạn video do nhóm của HT quay ghi lại cùng quá trình thực nghiệm điều tra. Do đó, có đủ căn cứ khẳng định Bùi PV biết anh T là công an khu vực, là người đang thi hành công vụ và đã có hành vi đấm vào mặt anh T.
Khoản 1 Điều 330 Bộ luật Hình sự quy định: “Người nào dùng vũ lực, đe dọa dùng vũ lực hoặc dùng thủ đoạn khác cản trở người thi hành công vụ thực hiện công vụ của họ hoặc ép buộc họ thực hiện hành vi trái pháp luật, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm”.
Như vậy, hành vi dùng vũ lực đấm vào mặt anh T, ngăn cản anh T thực hiện công vụ của bị cáo V đủ yếu tố cấu thành tội “Chống người thi hành công vụ”. Do đó, Bản cáo trạng số 193/CT-VKSTPVT ngày 22 tháng 6 năm 2021, Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Vũng Tàu đã truy tố đối với bị cáo về tội “Chống người thi hành công vụ” là hoàn toàn đúng người, đúng tội, đúng quy định của pháp luật.
Về tính chất, mức độ nghiêm trọng của hành vi của các bị cáo:
Đối với tội “Giữ người trái pháp luật”: Xét tính chất, mức độ do hành vi phạm tội mà các bị cáo đã gây ra là nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm phạm trực tiếp đến quyền tự do thân thể của người khác, là một trong các quyền con người, quyền công dân được ghi nhận tại Hiến pháp năm 2013. Hành vi của bị cáo gây ảnh hưởng xấu đến an ninh trật tự tại địa phương và xã hội. Vì vậy, cần phải xử lý nghiêm, áp dụng mức hình phạt tương xứng với tính chất, mức độ nguy hiểm đối với hành vi phạm tội của bị cáo nhằm giáo dục riêng, răn đe và phòng ngừa chung về tội phạm xã hội.
Đối với tội “Chống người thi hành công vụ”: Tuy bị cáo không cố ý đấm anh T khi anh T đã đứng ra ngăn cản bị cáo đánh anh A nhưng bị cáo vẫn cố tình đấm anh A và đấm trượt qua mặt anh T thể hiện sự coi thường pháp luật, xâm phạm đến việc thực hiện nhiệm vụ của những người đang thi hành công vụ nhằm bảo vệ lợi ích chung cho xã hội và thông qua đó xâm phạm đến hoạt động của Nhà nước về quản lý hành chính trong lĩnh vực thi hành nhiệm vụ công. Do đó cần phải có mức hình phạt tương xứng với tính chất, mức độ nguy hiểm đối với hành vi phạm tội của bị cáo nhằm giáo dục riêng, răn đe và phòng ngừa chung về tội phạm xã hội.
Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không có.
Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Đối với tội “Giữ người trái pháp luật”: Trong quá trình tố tụng, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, bị cáo đầu thú là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự để xem xét hình phạt đối các bị cáo để bị cáo thấy được sự khoan hồng của pháp luật, làm người có ích cho gia đình và xã hội.
Đối với tội “Chống người thi hành công vụ”: Không có tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự.
. Về tính chất đồng phạm và hình phạt đối với tội “Giữ người trái pháp luật”:
Bị cáo tham gia với vai trò giúp sức; có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự thuộc khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự nên đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Vũng Tàu về việc áp dụng Điều 54 Bộ luật Hình sự, quyết định mức hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hình phạt cho bị cáo là có căn cứ, được chấp nhận.
. Về trách nhiệm dân sự và xử lý vật chứng: Đã được giải quyết theo Bản án số 16/2020/HSST ngày 17/01/2020 của Tòa án nhân dân thành phố Vũng Tàu.
Về án phí: Bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
1. Tuyên bố: Bùi PV phạm tội “Giữ người trái pháp luật” và Chống người thi hành công vụ.
1.1. Áp dụng điểm đ khoản 2 Điều 157; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, khoản 2 Điều 54 và Điều 38 Bộ luật Hình sự:
Xử phạt Bùi PV 12 (Mười hai) tháng tù về tội “Giữ người trái pháp luật”.
1.2. Áp dụng khoản 1 Điều 330 và Điều 38 Bộ luật Hình sự:
Xử phạt Bùi PV 06 (Sáu) tháng tù về tội “Chống người thi hành công vụ”.
Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 55 Bộ luật hình sự, tổng hợp hình phạt chung bị cáo phải chịu là 18 (Mười tám). Thời hạn tù được tính từ ngày 28 tháng 01 năm 2021.
2. Về án phí: Bị cáo Bùi PV phải nộp 200.000đ (Hai trăm ngàn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
3. Về quyền kháng cáo: Bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày Tòa tuyên án; các bị hại; người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt, thời hạn 15 ngày được tính từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu; - VKSND tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu; - Công an tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu (PV27); - Sở Tư pháp tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu; - VKSND Tp.Vũng Tàu; - Công An Tp.Vũng Tàu; - Chi cục THADS Tp.Vũng Tàu; - Bị cáo, bị hại; - Lưu hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN–CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đinh Thị Châm |