- Tranh chấp gì? án hình sự — "Đào Văn H phạm tội tổ chức đánh bạc - phạm tội tổ chức đánh bạc hoặc gá bạc (điều 249 Bộ luật hình sự năm 1999)"
- Căn cứ chính? Điều 355 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 46 Bộ luật Hình sự; Điều 7 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐẮK LẮK | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 240/2018/HSPT Ngày: 26-7-2018 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨAVIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐẮK LẮK
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Phượng
Các Thẩm phán: Ông Nguyễn Tấn Đức
Ông Y Phi Kbuôr
- Thư ký phiên tòa: Bà Nông Thị Quỳnh Hoa – Thư ký Toà án nhân dân tỉnh Đắk Lắk.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đắk lắk tham gia phiên tòa: Bà Lê Thị Bích Thủy - Chức vụ: Kiểm sát viên.
Ngày 26 tháng 7 năm 2018, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Đắk Lắk xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 195/2018/HSPT ngày 18/6/2018 đối với bị cáo Đào Văn H phạm tội “Tổ chức đánh bạc” và các bị cáo Lưu Đức D, Đào Văn T, Trương Bá H1 phạm tội “Đánh bạc”. Do có kháng cáo của các bị cáo đối với bản án hình sự sơ thẩm số 17/2018/HSST ngày 04/5/2018 của Tòa án nhân dân huyện Ea Súp, tỉnh Đắk Lắk.
Các bị cáo có kháng cáo:
1. Họ và tên: Đào Văn H; Sinh năm: 1985, tại tỉnh Thái Bình; Nơi cư trú: Thôn 04, xã Y, huyện ES, tỉnh Đắk Lắk; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Làm nông; Trình độ học vấn 08/12; Con ông Đào Văn L, sinh năm 1954 và bà Lê Thị M, sinh năm 1964; Có vợ là Đào Thị T1 sinh năm 1984 và có 03 con; Con lớn nhất sinh năm 2008, con nhỏ nhất sinh năm 2016; Tiền án: Không; Tiền sự: Không;
Nhân thân: Năm 2009, bị Tòa án nhân dân huyện Ea Súp xử phạt 01 năm tù cho hưởng án treo về tội dâm ô đối với trẻ em (đã được xóa án tích). Năm 2013, bị Tòa án nhân dân tỉnh Đắk Lắk xử phạt 03 tháng tù về tội đánh bạc (Đã được xóa án tích). Bị cáo bị bắt tạm giữ tạm giam từ ngày 02 tháng 11 năm 2017 đến ngày 23 tháng 01 năm 2018 được thay đổi biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú, theo Lệnh Cấm đi khỏi nơi cư trú số 64, ngày 23/01/2018 của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Đắk Lắk.
2. Họ và tên: Lưu Đức D; Sinh năm 1975, tại tỉnh Thái Bình; Nơi cư trú: Xã Y, huyện ES, tỉnh Đắk Lắk; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Làm nông; trình độ học vấn 07/12; con ông Lưu Đức Q (đã chết) và bà Tạ Thị N sinh năm 1952; bị cáo có vợ là Lê Thị D1, sinh năm 1976 và có 03 con; con lớn nhất sinh năm 1997, con nhỏ nhất sinh năm 2011; Tiền án: Không; Tiền sự: Không;
Nhân thân: Năm 2013, bị Tòa án nhân dân huyện Ea Súp xử phạt 12 tháng cải tạo không giam giữ về tội Đánh bạc (đã được xóa án tích);
Bị cáo bị bắt tạm giữ tạm giam từ ngày 12 tháng 12 năm 2017 đến ngày 01 tháng 01 năm 2018 được thay đổi biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú, theo Lệnh Cấm đi khỏi nơi cư trú số 39, ngày 01/01/2018 của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Đắk Lắk.
3. Họ và tên: Đào Văn T; Sinh năm: 1978 tại tỉnh Thái Bình; Nơi cư trú: Xã Y, huyện ES, tỉnh ĐăkLăk; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Làm nông; Trình độ học vấn: 05/12; Con ông Đào Văn L, sinh năm 1954 và bà Lê Thị M, sinh năm 1964; Bị cáo có vợ là Lê Thị D2, sinh năm 1982 và có 03 con; Con lớn nhất sinh năm 2006, con nhỏ nhất sinh năm 2015; Tiền án: Không; Tiền sự: Không;
Nhân thân: Năm 2013, bị Tòa án nhân dân tỉnh Đắk Lắk xử phạt 05 tháng tù về tội Đánh bạc (đã được xóa án tích).
Bị cáo bị bắt tạm giữ tạm giam từ ngày 02 tháng 11 năm 2017 đến ngày 01 tháng 01 năm 2018 được thay đổi biện: Cấm đi khỏi nơi cư trú, theo Lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú số 37, ngày 01/01/2018 của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Đắk Lắk
4. Họ và tên: Trương Bá H1; Sinh năm: 1974 tại tỉnh Thanh Hóa; Nơi cư trú: Xã Y, huyện ES, tỉnh Đăk Lăk; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Làm nông; Trình độ học vấn: Không biết chữ; Con ông Trương Bá M1 (đã chết) và bà Cao Thị Đ, sinh năm 1948; Bị cáo có vợ là Ngô Ngọc T2, sinh năm 1980 và có 01 con, sinh năm 2000; Tiền án; Tiền sự: Không;
Nhân thân: Ngày 31/10/2013 bị Tòa án nhân dân tỉnh Đắk Lắk xử phạt 01 năm 03 tháng tù về tội cố ý gây thương tích theo Bản án số 401/HSPT (đã được xóa án tích);
Bị cáo bị bắt tạm giữ tạm giam từ ngày 02 tháng 11 năm 2017 đến ngày 23 tháng 01 năm 2018 được thay đổi biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú, theo Lệnh Cấm đi khỏi nơi cư trú số 38, ngày 01/01/2018 của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Đắk Lắk.
Các bị cáo có mặt tại phiên tòa.
Ngoài ra, còn có 06 bị cáo không có kháng cáo và không bị kháng cáo, kháng nghị.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng giữa tháng 10/2017, Đào Văn H nảy sinh ý định tổ chức cho các con bạc đánh bạc bằng hình thức đánh xóc đĩa được thua bằng tiền tại khu vực rẫy cao su của gia đình ông Đặng Bá L1 tại xã Y, huyện ES, tỉnh Đắk Lắk. Sau đó, H đã nói Vũ Văn X và Vũ Trọng H2 giúp cho H việc tổ chức đánh bạc (X và H2 được H giao công việc mang các dụng cụ dùng vào việc đánh bạc đến khu vực rẫy cao su để sắp xếp, tổ chức và chuẩn bị các điều kiện phục vụ cho việc đánh bạc) được X và H2 đồng ý. Vào khoảng 14 giờ ngày 02/11/2017 sau khi X và H2 chuẩn bị xong thì gọi điện báo cho H biết để H kêu gọi các con bạc đến chơi.
Đến khoảng 15 giờ ngày 02/11/2017, Lưu Đức D điều khiển xe mô tô chở Đào Văn H đến khu vực tổ chức đánh bạc. Tại đây, H chuẩn bị một số dụng cụ để đánh bạc bằng hình thức đánh xóc đĩa, đánh Senko và H thu tiền xâu của những người đến tham gia đánh bạc, mỗi người đến chơi bạc phải đóng tiền xâu cho H 100.000đ (một trăm ngàn đồng). Tiếp đó, trong thời gian khoảng từ 15 giờ 00 đến 17 giờ 00 cùng ngày, lần lượt các đối tượng Vũ Viết C, Nguyễn Hữu D3, Trương Bá H1, Đào Văn T, Nguyễn Ngọc T3, Lê Văn B và một số người khác (chưa xác định được nhân thân, lai lịch) đến tham gia đánh bạc. Trong quá trình đánh bạc Lưu Đức D là người cầm cái đánh xóc đĩa còn Đào Văn T là người cầm cái đánh senko.
Hình thức đánh xóc đĩa như sau: Có 04 con vị được cắt ra từ lá bài tây, mỗi con vị đều có một mặt đen và một mặt trắng, được để trên một cái đĩa và đậy lại bằng một cái chén. Người cầm cái sẽ xóc đĩa lên rồi đặt xuống và những người chơi sẽ tham gia đặt cược bằng cách đặt tiền cược xuống chiếu bạc vào bên chẵn (bên tay trái của người làm cái) hoặc bên lẻ (bên tay phải của người làm cái). Nếu người chơi đặt cược kết quả là chẵn và khi mở chén ra các con vị xuất hiện kết quả là chẵn thì người chơi thắng bạc và ngược lại. Tiền thắng - thua được tính theo tỉ lệ 1 – 1, kết quả là chẵn khi các con vị xuất hiện có: 04 mặt trắng, 04 mặt đen hoặc 02 mặt trắng, 02 mặt đen. Kết quả là lẻ nếu các con vị xuất hiện: 01 mặt trắng, 03 mặt đen hoặc 03 mặt trắng, 01 mặt đen.
Hình thức đánh senko như sau: có 01 tấm bìa (gọi là bìa Senko) kích thước 40cm x 40cm trên bề mặt được chia làm bốn ô bằng nhau, trong đó, một ô có vẽ ba hình tròn được bôi đen (gọi là bà đồng đen), môt ô có vẽ ba hình tròn không bôi đen (gọi là ba đồng trắng), một ô có vẽ bốn hình tròn được bôi đen (gọi là bốn đồng đen) và một ô có vẽ bốn hình tròn không bôi đen (gọi là bốn đồng trắng). Kết quả thắng thua khi đặt cược bằng hình thức đánh senko phụ thuộc vào kết quả của việc xóc đĩa. Nếu người chơi đặt cược bốn đồng trắng trong bìa senko thì khi người cầm cái đánh xóc đĩa thực hiện việc xóc đĩa và mở chén ra xuất hiện 04 con vị đều là mặt trắng thì người đặt cược senko thắng và ngược lại. Người chơi đánh bạc có thể tham gia cả hai hình thức đánh xóc đĩa và đánh senko cùng một lúc hoặc chỉ chơi một hình thức. Có một người cầm cái trong hình thức đánh Senko và người chơi bạc đặt cược với người cầm cái này. Tỉ lệ thắng – thua như sau, nếu đặt cược vào bốn đồng trắng hoặc bốn đồng đen thì tỉ lệ là 1 ăn 9 còn nếu đặt cược vào ba đồng đen hoặc ba đồng trắng thì tỉ lệ là 1 ăn 2,5.
Các đối tượng tham gia đánh bạc đặt cược không giới hạn số tiền cược, tùy vào số tiền mang theo mà một ván bạc có người đặt vài trăm ngàn đồng, có người đặt một vài triệu đồng.
Đến khoảng 17 giờ 00 cùng ngày, khi các bị can đang tham gia đánh bạc bằng các hình thức kể trên thì bị lực lượng Công an bắt quả tang. Tại hiện trường, tạm giữ 08 đối tượng còn một số đối tượng bỏ chạy (chưa xác định được nhân thân, lai lịch), thu giữ trên chiếu bạc 7.150.000đ (bảy triệu một trăm năm mươi ngàn đồng) và thu giữ trên người các đối tượng 4.320.000đ (bốn triệu ba trăm hai mươi ngàn đồng) tiền mang theo để đánh bạc và thắng bạc. Tổng số tiền đánh bạc ngày 02/11/2017 là: 11.470.000đ (mười một triệu bốn trăm bảy mươi ngàn đồng). Trong đó:
Lưu Đức D khi đi đánh bạc mang theo 2.000.000đ (hai triệu đồng) để đánh bạc, khi tham gia đánh bạc D không rõ thắng, thua như thế nào. Khi cơ quan Công an bắt quả tang, D đã bỏ lại số tiền trên chiếu bạc để bỏ chạy.
Đào Văn T mang theo 420.000đ (bốn trăm hai mươi ngàn đồng) để đánh bạc, khi tham gia đánh bạc T đã thua 100.000đ (một trăm ngàn đồng) còn 320.000đ (ba trăm hai mươi ngàn đồng) cất trong người. Khi bị bắt quả tang thì T đã giao nộp số tiền trên người cho cơ quan Công an.
Nguyễn Ngọc T3 mang theo 550.000đ (năm trăm năm mươi ngàn đồng) để đánh bạc, T3 đóng tiền xâu 100.000đ (một trăm ngàn đồng) còn 450.000đ (bốn trăm năm mươi ngàn đồng) T3 dùng đánh bạc và thua hết.
Trương Bá H1 mang theo 650.000đ (sáu trăm năm mươi ngàn đồng) để đánh bạc, khi tham gia đánh bạc H1 cầm tiền trên tay, H1 không kiểm đếm nên cũng không rõ đã thắng thua như thế nào. Khi Công an bắt quả tang, H1 bỏ chạy và đã đánh rơi số tiền cầm trên tay.
Nguyễn Hữu D3 mang theo 210.000đ (hai trăm mười ngàn đồng) để đánh bạc, khi bị bắt quả tang do không kiểm đếm nên không biết số tiền đã thắng thua như thế nào và đã đánh rơi tiền khi bỏ chạy.
Vũ Viết C mang theo 1.000.000đ (một triệu đồng) để đánh bạc và thắng bạc được thêm 3.000.000đ (ba triệu đồng). Tổng cộng C có 4.000.000đ (bốn triệu đồng) C cất tiền trên người. Khi bị bắt quả tang, C đã giao nộp T3 bộ số tiền trên người cho Cơ quan Công an.
Lê Văn B mang theo 800.000đ (tám trăm ngàn đồng) để đánh bạc, trong quá trình đánh đến khi bị bắt quả tang, B đã thua hết số tiền mang theo.
Vũ Văn X và Vũ Trọng H2 làm nhiệm vụ giúp Đào Văn H tổ chức đánh bạc và cảnh giới cho các đối tượng đánh bạc, X và H3 không tham gia vào việc đánh bạc và được Đào Văn H trả công cho mỗi người 200.000đ (hai trăm ngàn đồng).
Đào Văn H tổ chức cho các bị can khác đánh bạc và thu tiền xâu, ngày 02/11/2017, H đã thu được 450.000đ (bốn trăm năm mươi ngàn đồng) từ một số người chơi bạc. Khi bị bắt quả tang, H đã vứt số tiền thu được tại chiếu bạc.
Tang vật thu giữ tại chiếu bạc ngày 02 tháng 11 năm 2017 gồm:
+ Số tiền 7.150.000đ tại chiếu bạc; 4.000.000đ trên người của Vũ Viết C; 320.000đ trên người của Đào Văn T.
+ 01 bạt Ni lông màu xanh có viền trắng ở giữa, kích thước (1,5x3,5) m; 01 đĩa sứ màu trắng, đường kính 17cm có hoa văn hình hoa hồng ở giữa và xung quanh; 01 chén nhựa màu trắng có viền hoa văn màu tím và xanh; 04 con vị hình tròn đường kính 1,5cm được cắt từ lá bài tây.
+ 01 bàn Sen Kô kích thước (40x40) cm được làm từ bìa ni long màu xanh, có kẻ đường kẻ màu trắng chia làm 04 ô vuông bằng nhau, có vẽ chấm tròn toàn màu trắng và màu đỏ.
+ 01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia, model RM – 1035 màu đen đã qua sử dụng của Đào Văn H cùng sim điện thoại; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia, model 1600 màu đen xám đã qua sử dụng cùng sim của Lê Văn B; 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO R1001 màu đen cùng sim của Vũ Văn X.
+ Tạm giữ gần khu vực đánh bạc 10 xe mô tô và xe máy các loại gồm:
Xe máy nhãn hiệu Dealim màu xanh, biển số AB – 952.58; xe mô tô nhãn hiệu Wave màu xanh, biển số 47M7 – 3824; xe mô tô nhãn hiệu Wave màu đỏ biển số 17M6-4337; xe mô tô nhãn hiệu Sinno Hongdai biển số 62K6-1993; xe mô tô nhãn hiệu Sirius màu đen biển số 47P1-122.98; xe mô tô nhãn hiệu Sirius màu trắng biển số 52H5-5777; xe mô tô nhãn hiệu Dream màu đen biển số 52N4-6686; xe mô tô nhãn hiệu Sirius màu đen-xanh biển số 47L1-2053; xe mô tô nhãn hiệu Wave màu đỏ biển số 47N2-0228.
Trong quá trình điều tra Đào Văn H tự nguyện giao nộp số tiền 5.000.000đ; Vũ Văn X, Vũ Trọng H2 mỗi người giao nộp 200.000đ.
Tại bản án số 17/2018/HSST ngày 04/5/2018 của Tòa án nhân dân huyện Ea Súp, tỉnh Đắk Lắk đã quyết định:
Tuyên bố: Các bị cáo Đào Văn H, Vũ Văn X, Vũ Trọng H2 phạm tội “Tổ chức đánh bạc”; các bị cáo Lưu Đức D, Đào Văn T, Nguyễn Ngọc T3, Trương Bá H1, Nguyễn Hữu D3, Vũ Viết C và Lê Văn B phạm tội “Đánh bạc” .
- Áp dụng khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự 1999; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự 2015.
Xử phạt: Bị cáo Đào Văn H 01 (Một) năm 03 (Ba) tháng tù, thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt thi hành án, được khấu trừ thời gian đã tạm giữ tạm giam từ ngày 02/11/2017 đến ngày 23/01/2018.
- Áp dụng khoản 1 Điều 248 Bộ luật hình sự 1999; Điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự 2015.
Xử phạt: Bị cáo Lưu Đức D 06 (Sáu) tháng tù, thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt thi hành án, được khấu trừ thời gian đã tạm giữ tạm giam từ ngày 12/12/2017 đến ngày 01/01/2018.
- Áp dụng khoản 1 Điều 248 Bộ luật hình sự 1999; Điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự 2015.
Xử phạt: Bị cáo Đào Văn T 06 (Sáu) tháng tù, thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt thi hành án, được khấu trừ thời gian đã tạm giữ tạm giam từ ngày 02/11/2017 đến ngày 01/01/2018.
- Áp dụng khoản 1 Điều 248 Bộ luật hình sự 1999; Điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự 2015.
Xử phạt: Bị cáo Trương Bá H1 04 (Bốn) tháng tù, thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt thi hành án, được khấu trừ thời gian đã tạm giữ tạm giam từ ngày 02/11/2017 đến ngày 01/01/2018.
Ngoài ra, Tòa án cấp sơ thẩm còn quyết định về hình phạt đối với 06 bị cáo khác, về xử lý vật chứng, án phí và quyền kháng cáo theo quy định pháp luật.
Ngày 07/5/2018, các bị cáo Đào Văn H, Lưu Đức D, Đào Văn T kháng cáo với nội dung: Xin giảm nhẹ hình phạt và xin hưởng án treo.
Ngày 18/5/2018, bị cáo Trương Bá H1 kháng cáo với nội dung: Xin giảm nhẹ hình phạt.
Tại phiên toà phúc thẩm, các bị cáo đã khai nhận hành vi phạm tội của mình đúng như nội dung bản cáo trạng cũng như lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, tại phiên tòa sơ thẩm.
Quá trình tranh luận tại phiên toà phúc thẩm, đại diện Viện kiểm sát đã đánh giá tính chất mức độ nguy hiểm cho xã hội đối với hành vi phạm tội của các bị cáo Đào Văn H, Lưu Đức D, Đào Văn T, Trương Bá H1 và cho rằng Tòa án cấp sơ thẩm xét xử bị cáo Đào Văn H về tội “Tổ chức đánh bạc” theo quy định tại khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 1999, xét xử các bị cáo Lưu Đức D, Đào Văn T, Trương Bá H1 về tội “Đánh bạc” theo quy định tại khoản 1 Điều 248 Bộ luật hình sự năm 1999 là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật. Xét mức hình phạt 01 năm 03 tháng tù đối với bị cáo Đào Văn H, 06 tháng tù đối với bị cáo Lưu Đức D, 06 tháng tù đối với bị cáo Đào Văn T; 04 tháng tù đối với bị cáo Trương Bá H1 là thỏa đáng, tương xứng với tính chất mức độ hành vi phạm tội của bị cáo gây ra. Sau khi xét xử sơ thẩm và tại phiên tòa phúc thẩm các bị cáo Lưu Đức D và Trương Bá H1 không cung cấp thêm tình tiết giảm nhẹ mới. Các bị cáo Đào Văn H và Đào Văn T đã cung cấp tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự mới là gia đình có công với nước, các bị cáo có hoàn cảnh gia đình khó khăn được chính quyền địa phương xác nhận. Tuy nhiên mức hình phạt áp dụng với các bị cáo là thỏa đáng, nên không chấp nhận đơn kháng cáo của các bị cáo. Do vậy, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm a khoản 1 Điều 355; Điều 356 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015, không chấp nhận kháng cáo của các bị cáo Đào Văn H, Lưu Đức D, Đào Văn T, Trương Bá H1; giữ nguyên bản án hình sự sơ thẩm số 17/2018/HSST ngày 04/5/2018 của Tòa án nhân dân huyện Ea Súp, tỉnh Đắk Lắk.
Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Căn cứ vào các chứng cứ, tài liệu đã được thẩm tra tại phiên toà phúc thẩm; Căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, trên cơ sở xem xét đầy đủ T3 diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên và của các bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Lời khai của các bị cáo Đào Văn H, Lưu Đức D, Đào Văn T, Trương Bá H1 tại phiên tòa phúc thẩm là phù hợp với lời khai của các bị cáo tại cơ quan điều tra, tại phiên tòa sơ thẩm, phù hợp với các tài liệu, chứng cứ đã thu thập có trong hồ sơ vụ án nên đã có đủ cơ sở để kết luận: Vào khoảng 15 giờ ngày 02 tháng 11 năm 2017 tại rẫy cao su thuộc xã Y, huyện ES, tỉnh Đắk Lắk, bị cáo Đào Văn H, Vũ Văn X, Vũ Trọng H2 đã có hành vi tổ chức đánh bạc ăn tiền bằng hình thức xóc đĩa và Sen Ko để cho các bị cáo Lưu Đức D, Đào Văn T, Nguyễn Ngọc T3, Trương Bá H1, Nguyễn Hữu D3, Vũ Viết C và Lê Văn B thực hiện hành vi đánh bạc dưới hình thức xóc đĩa và Sen Ko, thắng thua bằng tiền thì bị Công an tỉnh Đắk Lắk bắt quả tang. Tiền thu giữ tại chiếu bạc là 7.150.000đ; ngoài ra còn thu giữ trên người của của Vũ Viết C 4.000.000đ; thu giữ trên người của Đào Văn T 320.000đ là tiền thắng bạc; Đào Văn H giao nộp 5.000.000đ, Vũ Văn X, Vũ Trọng H2 giao nộp mỗi người 200.000đ là số tiền thu lợi bất chính từ việc tổ chức sòng bạc. Như vậy, Tòa án cấp sơ thẩm đã xét xử bị cáo Đào Văn H về tội “Tổ chức đánh bạc” theo khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 1999 và các bị cáo Lưu Đức D, Đào Văn T, Trương Bá H1 về tội “Đánh bạc” theo khoản 1 Điều 248 Bộ luật hình sự năm 1999 là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
[2] Xét mức hình phạt 01 năm 03 tháng tù đối với bị cáo Đào Văn H, 06 tháng tù đối với bị cáo Lưu Đức D, 06 tháng tù đối với bị cáo Đào Văn T là thỏa đáng, tương xứng với tính chất mức độ hành vi phạm tội của các bị cáo gây ra. Khi quyết định hình phạt cấp sơ thẩm đã áp dụng đầy đủ các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự mà các bị cáo được hưởng. Xét thấy bị cáo T tham gia đánh bạc với số tiền thấp nhất so với đồng bọn. Tại phiên tòa phúc thẩm các bị cáo Đào Văn H và Đào Văn T đã cung cấp thêm tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự mới là đơn xác nhận hoàn cảnh khó khăn, bị cáo H con còn nhỏ, vợ thường xuyên đau ốm, bị cáo T con còn nhỏ, vợ bị bệnh tim thường xuyên phải điều trị, được chính quyền địa phương xác nhận, ngoài ra các bị cáo còn cung cấp đơn xác nhận bố đẻ của bị cáo T và bị cáo H là ông Đào Văn L, là người có công với nước. Đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại khoản 2 Điều 46 Bộ luật hình sự năm 1999, mà Hội đồng xét xử cần áp dụng đối với các bị cáo H và T. Vì vậy cần chấp nhận một phần đơn kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của các bị cáo Đào Văn H, Đào Văn T - Sửa bản án hình sự sơ thẩm số 17/2018/HSST ngày 04/5/2018 của Tòa án nhân dân huyện Ea Súp, tỉnh Đắk Lắk, về hình phạt đối với các bị cáo H, T.
Xét thấy mức hình phạt cấp sơ thẩm đã áp dụng đối với bị cáo Trương Bá H1 là có phần nghiêm khắc, bởi lẽ bị cáo H tham gia đánh bạc với số tiền thấp hơn đồng bọn, bị cáo giữ vai trò thứ yếu trong vụ án. Bị cáo có nhân thân tốt chưa có tiền án, tiền sự, trong quá trình giải quyết vụ án bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Vì vậy cần xem xét áp dụng đối với bị cáo mức hình phạt tương xứng, cần chấp nhận đơn kháng cáo của bị cáo Trương Bá H1 - Sửa bản án hình sự sơ thẩm số 17/2018/HSST ngày 04/5/2018 của Tòa án nhân dân huyện Ea Súp, tỉnh Đắk Lắk, về hình phạt đối với bị cáo H1.
Tại phiên tòa phúc thẩm bị cáo Lưu Đức D không cung cấp thêm tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự mới, bị cáo là người tham gia đánh bạc với số tiền cao nhất so với đồng bọn. Vì vậy không có căn cứ chấp nhận đơn kháng cáo của bị cáo D – Giữ nguyên bản án hình sự sơ thẩm số 17/2018/HSST ngày 04/5/2018 của Tòa án nhân dân huyện Ea Súp, tỉnh Đắk Lắk, về hình phạt đối với các bị cáo Lưu Đức D.
[3] Hành vi phạm tội của các bị cáo thực hiện trước 00 giờ 00 phút ngày 01/01/2018, nhưng được xét xử sau ngày Bộ luật hình sự năm 2015 có hiệu lực thi hành. Vì vậy Tòa án cấp sơ thẩm đã áp dụng Bộ luật hình sự năm 1999 để xét xử theo hướng có lợi cho các bị cáo là phù hợp với quy định của pháp luật. Tuy nhiên cấp sơ thẩm không áp dụng khoản 1; khoản 3 Điều 7 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 và Điều 2 Nghị quyết 41/2017/QH14 ngày 20-6-2017 của Quốc hội về việc thi hành Bộ luật hình sự năm 2015 là thiếu sót.
Mặt khác, Tòa án cấp sơ thẩm áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho các bị cáo Đào Văn H, Lưu Đức D, Đào Văn T theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự 2015; áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo Trương Bá H1 theo quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự 2015 là không chính xác. Bởi lẽ, theo quy định tại khoản 3 Điều 7 Bộ luật hình sự năm 2015 và Điều 2 Nghị quyết 41/2017/QH14 ngày 20-6-2017 của Quốc hội, thì những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự có lợi hơn cho bị cáo mới áp dụng quy định của Bộ luật hình sự 2015. Vì vậy, cần áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định của Bộ luật hình sự năm 1999 đối với các bị cáo.
[4] Tại bản Kết luận Điều tra và tại bản cáo trạng đã nhận định: “Đối với hành vi tham gia tổ chức đánh bạc của các bị cáo Đào Văn H, Vũ Văn X, Vũ Trọng H2 và hành vi đánh bạc của các bị cáo Vũ Viết C, Nguyễn Hữu D3, Trương Bá H1, Đào Văn T, Nguyễn Ngọc T3, Lưu Đức D vào một số ngày trước đó, các bị cáo đều không nhớ tham gia cùng với ai, thắng thua thế nào do đó Cơ quan Điều tra đã tách hành vi để tiếp tục củng cố, xử lý sau”. Tại bản án hình sự sơ thẩm của Tòa án nhân dân huyện Ea Súp nhận định: “Đối với hành vi đánh bạc trước đó của các bị cáo, do không làm rõ được thời gian, địa diểm đánh bạc và số tiền cụ thể nên không có căn cứ để xử lý là chưa phù hợp.
Vì vậy, kiến nghị Cơ quan điều tra tiếp tục điều tra, xử lý về hành vi tổ chức đánh bạc của các bị cáo Đào Văn H, Vũ Văn X, Vũ Trọng H2 và hành vi đánh bạc của các bị cáo Vũ Viết C, Nguyễn Hữu D3, Trương Bá H1, Đào Văn T, Nguyễn Ngọc T3, Lưu Đức D vào một số ngày trước đó (trước ngày 02/11/2017)
[5] Về án phí: Do kháng cáo được chấp nhận nên các bị cáo Đào Văn H, Đào Văn T, Trương Bá H không phải chịu án phí Hình sự phúc thẩm. Do kháng cáo không được chấp nhận nên bị cáo Lưu Đức D phải chịu 200.000 đồng án phí Hình sự phúc thẩm.
[6] Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật, kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
[1] Căn cứ vào điểm a, b khoản 1 Điều 355; Điều 356; Điều 357 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015, được sửa đổi bổ sung năm 2017.
- Chấp nhận một phần kháng cáo của các bị cáo Đào Văn H, Đào Văn T, chấp nhận kháng cáo của bị cáo Trương Bá H1 – Sửa bản án hình sự sơ thẩm số 17/2018/HSST ngày 04/5/2018 của Tòa án nhân dân huyện Ea Súp, tỉnh Đắk Lắk, về hình phạt đối với các bị cáo Đào Văn H, Đào Văn T, Trương Bá H1.
- Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Lưu Đức D - Giữ nguyên bản án hình sự sơ thẩm số 17/2018/HSST ngày 04/5/2018 của Tòa án nhân dân huyện Ea Súp, tỉnh Đắk Lắk, về hình phạt đối với Lưu Đức D.
[2] Áp dụng khoản 1 Điều 249; điểm p khoản 1 khoản 2 Điều 46 Bộ luật hình sự 1999; khoản 1, khoản 3 Điều 7 Bộ luật hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017; Điều 2 Nghị quyết số 41/2017/QH14 ngày 20-6-2017 của Quốc hội về việc thi hành Bộ luật hình sự năm 2015.
Xử phạt: Bị cáo Đào Văn H 01 (một) năm tù về tội “Tổ chức đánh bạc”, thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt thi hành án, được khấu trừ thời gian bị cáo đã bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 02/11/2017 đến ngày 23/01/2018.
- Áp dụng khoản 1 Điều 248; điểm p khoản 1 khoản 2 Điều 46 Bộ luật hình sự 1999; khoản 1, khoản 3 Điều 7 Bộ luật hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017; Điều 2 Nghị quyết số 41/2017/QH14 ngày 20-6-2017 của Quốc hội về việc thi hành Bộ luật hình sự năm 2015.
Xử phạt: Bị cáo Đào Văn T 04 (bốn) tháng tù về tội “Đánh bạc”, thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt thi hành án, được khấu trừ thời gian bị cáo đã bị đã tạm giữ, tạm giam từ ngày 02/11/2017 đến ngày 01/01/2018.
- Áp dụng khoản 1 Điều 248; điểm p khoản 1, khoản 2 Điều 46 Bộ luật hình sự 1999; khoản 1, khoản 3 Điều 7 Bộ luật hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017; Điều 2 Nghị quyết số 41/2017/QH14 ngày 20-6-2017 của Quốc hội về việc thi hành Bộ luật hình sự năm 2015.
Xử phạt: Bị cáo Trương Bá H1 03 (ba) tháng tù về tội “Đánh bạc”, thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt thi hành án, được khấu trừ thời gian đã tạm giữ tạm giam từ ngày 02/11/2017 đến ngày 01/01/2018.
- Áp dụng khoản 1 Điều 248; điểm p khoản 1 Điều 46 Bộ luật hình sự 1999; khoản 1, khoản 3 Điều 7 Bộ luật hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017; Điều 2 Nghị quyết số 41/2017/QH14 ngày 20-6-2017 của Quốc hội về việc thi hành Bộ luật hình sự năm 2015.
Xử phạt: Bị cáo Lưu Đức D 06 (sáu) tháng tù về tội “Đánh bạc”, thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt thi hành án, được khấu trừ thời gian bị cáo đã bị đã tạm giữ, tạm giam từ ngày 12/12/2017 đến ngày 01/01/2018.
[3] Kiến nghị Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Ea Sup, tỉnh Đăk Lăk tiếp tục điều tra, xử lý về hành vi tổ chức đánh bạc của các bị cáo Đào Văn H, Vũ Văn X, Vũ Trọng H2 và hành vi đánh bạc của các bị cáo Vũ Viết C, Nguyễn Hữu D3, Trương Bá H1, Đào Văn T, Nguyễn Ngọc T3, Lưu Đức D trong thời gian trước ngày bị bắt (ngày 02/11/2017)
[4] Về án phí:
Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015; khoản 2 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 21/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Toà án;
Các bị cáo Đào Văn H, Đào Văn T, Trương Bá H1 không phải chịu án phí Hình sự phúc thẩm. Bị cáo Lưu Đức D phải chịu 200.000đồng án phí Hình sự phúc thẩm.
[5] Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật, kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
[6] Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - TAND Tối cao; - TAND cấp cao tại Đà Nẵng; - VKSND tỉnh Đắk Lắk; - TAND huyện Ea Súp; - Công an huyện Ea Súp; - VKSND huyện Ea Súp; - Sở Tư Pháp; - THA hình sự huyện ES; - THA DS huyện ES; - Bị cáo; - Những người tham gia tố tụng khác - Lưu hồ sơ. - Cổng thông tin điện tử Tòa án. | TM/HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Trần Thị Phượng |