- Tranh chấp gì? án hình sự — "Đoàn Văn C phạm tội mua bán trái phép chất ma túy. - phạm tội mua bán trái phép chất ma túy (điều 251 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của…"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Đoàn Văn C phạm tội "Mua bán trái phép chất ma tuý".
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN Đ | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| TỈNH ĐIỆN BIÊN Bản án số: 240/2018/HS-ST Ngày 07-11-2018 |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN Đ
TỈNH ĐIỆN BIÊN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Mạnh Huấn
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Lò Văn Ơn và bà Bạc Thị Kiên
- Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Yên, Thư ký Tòa án nhân dân huyện Đ, tỉnh Điện Biên.
- Đại diện VKSND huyện Đ, tỉnh Điện Biên tham gia phiên toà: Ông Hoàng Đức Thái, Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân huyện Đ, tỉnh Điện Biên.
Trong ngày 07 tháng 11 năm 2018, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Đ xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 243/2018/TLST-HS ngày 05 tháng 10 năm 2018 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 246/2018/QĐXXST-HS ngày 26 tháng 10 năm 2018 đối với bị cáo:
Đoàn Văn C, sinh năm 1986, tại Thái Bình; Tên gọi khác: Không.
Nơi ĐKHKTT: Đội 20, xã N, huyện Đ, tỉnh Điện Biên.
Chỗ ở: Đội 3, xã N1, huyện Đ, tỉnh Điện Biên.
Nghề nghiệp: Làm ruộng; Trình độ học vấn: 5/12.
Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam
Con ông: Đoàn Văn D, sinh năm 1962.
Con bà: Nguyễn Thị Đ, sinh năm 1965.
Bị cáo có vợ Lường Thị P và một con sinh năm 2017.
Tiền án, tiền sự: Không.
Nhân thân: Bị cáo không có án tích, không bị xử phạt vi phạm hành chính.
Bị cáo bị bắt tạm giữ ngày 23/7/2018, có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Khoảng 07 giờ ngày 23/7/2018, Đoàn Văn C đi đến khu vực đội 18, xã T, huyện Đ mua được một gói Heroine với giá 200.000 đồng của một người đàn ông dân tộc Thái bị cáo không rõ lai lịch. Mua được Heroine, bị cáo mang về nhà bị cáo ở đội 3, xã N1, huyện Đ chia đều vào 08 đoạn ống hút nhựa dùng để uống nước, mỗi đoạn dài khoảng 01 cm và dùng bật lửa hàn kín hai đầu ống hút lại. Chia xong, bị cáo lấy một ống hút chứa Heroine sử dụng bằng cách hít. Còn lại 07 ống hút chứa Heroine bị cáo cất dấu vào túi áo ngực bị cáo đang mặc. Khoảng 09 giờ cùng ngày, khi bị cáo đang ở nhà thì có Lộ Văn N sinh năm 1996, địa chỉ ở đội 3, xã N1 đến hỏi mua Heroine của bị cáo. Đoàn Văn C nhất trí và bán cho N một đoạn ống hút màu vàng có chứa Heroine với giá 50.000 đồng. Mua được Heroine của C, N mang ra cánh đồng thuộc đội 21, xã N1, huyện Đ sử dụng hết. Hồi 10 giờ ngày 23/7/2018, khi bị cáo C đang ở nhà thì bị Công an huyện Đ kiểm tra, phát hiện, bắt quả tang người và vật chứng. Cơ quan Công an thu giữ tại túi áo ngực bị cáo đang mặc 06 ống hút nhựa màu vàng được hàn kín hai đầu, bên trong mỗi ống hút có chứa chất bột màu trắng nghi là Heroine và thu giữ tại túi quần bên phải bị cáo đang mặc một tờ tiền mệnh giá 50.000 đồng do bị cáo bán Heroine mà có.
Cáo trạng số 188/CT-VKSĐB ngày 04/10/2018 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Đ truy tố bị cáo Đoàn Văn C về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo khoản 1 Điều 251 của Bộ luật hình sự.
Luận tội của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đ đề nghị Hội đồng xét xử:
Áp dụng khoản 1 Điều 251; Điểm s khoản 1 Điều 51của Bộ luật hình sự năm 2015. Tuyên phạt bị cáo Đoàn Văn C từ 02 năm đến 02 năm 06 tháng tù về tội Mua bán trái phép chất ma túy. Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
Áp dụng điểm b, c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật hình sự; điểm a, b khoản 2 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự về xử lý vật chứng của vụ án.
Áp dụng khoản 2 Điều 136/BLTTHS; Điểm a Khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của UBTVQH khóa XIV về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Toà án, buộc bị cáo phải chịu án phí HSST.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã đƣợc tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định nhƣ sau:
Về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Đ, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Đ, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Về chứng cứ phạm tội:
Tại biên bản bắt người phạm tội quả tang hồi 10 giờ 15 phút ngày 23/7/2018 bút lục 01 đến 02, người bị bắt Đoàn Văn C thừa nhận đã bị Công an huyện Đ bắt quả tang thu giữ 06 đoạn ống hút nhựa màu vàng, mỗi đoạn dài 01 cm, đường kính 0,5 cm được hơ lửa hàn kín hai đầu. Bên trong 06 đoạn ống hút đều có cục bột màu trắng nghi là Heroine; 01 tờ tiền mệnh giá 50.000 đồng. Các đoạn ống hút chứa chất bột màu trắng bị thu giữ là của bị cáo Đoàn Văn C, số tiền 50.000 đồng là tiền của bị cáo do bị cáo bán 01 đoạn ống hút nhựa chứa Heroine mà có.
Tại biên bản mở niêm phong xác định khối lượng, lấy mẫu giám định và niêm phong vật chứng hồi 16 giờ 40 phút ngày 23/7/2018 của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Đ tại bút lục số 05, 06 thì khối lượng vật chứng thu giữ của bị cáo Đoàn Văn C là 0,32 gam, trích mẫu gửi giám định 0,06 gam.
Kết luận giám định số 696/GĐ-PC54 ngày 02/8/2018 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Điện Biên tại bút lục số 35 kết luận mẫu chất bột màu trắng thu giữ của Đoàn Văn C gửi giám định là chất ma túy loại Heroine. Heroine nằm trong danh mục các chất ma túy, STT: 9, mục IA, danh mục I, Nghị định 73/2013/NĐ-CP ngày 19/7/2013 của Chính phủ. Không hoàn lại đối tượng giám định.
Các biên bản ghi lời khai, hỏi cung bị can, bản tự khai của Đoàn Văn C từ bút lục số 55 đến 75 chứng minh bị cáo Đoàn Văn C đã mua được một gói Heroine với giá 200.000 đồng của một người đàn ông dân tộc Thái bị cáo không rõ lai lịch ở khu vực đội 18, xã T, huyện Đ. Mục đích bị cáo mua Heroine là để sử dụng và bán lẻ kiếm lời. Bị cáo mang về nhà chia nhỏ Heroine ra và cho vào 08 đoạn ống hút nhựa màu vàng. Bị cáo sử dụng 01 đoạn ống hút và đã bán được một đoạn ống hút chứa Heroine cho đối tượng Lộ Văn N, 06 đoạn ống hút còn lại bị cáo cất giấu ở túi áo ngực bên trái đang mặc để sử dụng và nếu có ai hỏi mua bị cáo sẽ bán lại với giá 50.000 đồng một đoạn ống hút chứa Heroine.
Biên bản ghi lời khai của Lộ Văn N bút lục 49 đến 51, N thừa nhận ngày 23/7/2018 đã mua một đoạn ống hút chứa Heroine của Đoàn Văn C với giá 50.000 đồng. Sau khi mua được Heroine của bị cáo, N mang ra cánh đồng thuộc đội 21, xã N1, huyện Đ để sử dụng bằng hình thức hít. Lời khai của Lộ Văn N phù hợp với lời khai của bị cáo Đoàn Văn C, phù hợp với các chứng cứ khác của vụ án.
Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 191/QĐ-XPVPHC ngày 30 tháng 8 năm 2018 của Công an huyện Đ tại bút lục số 51 xử phạt hành chính bằng hình thức cảnh cáo đối với Lộ Văn N về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy.
Bản Kết luận điều tra số 187/KLĐT ngày 24/9/2018 của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Đ tại các bút lục từ 83 đến 85 kết luận chuyển toàn bộ hồ sơ vụ án và bản kết luận điều tra vụ án hình sự đến Viện kiểm sát nhân dân huyện Đ đề nghị truy tố bị can Đoàn Văn C ra công khai trước pháp luật về tội Mua bán trái phép chất ma túy quy định tại khoản 1 Điều 251 của Bộ luật hình sự.
Kết quả tranh tụng tại phiên tòa cho thấy bị cáo Đoàn Văn C có tội, bị cáo đã mua ma túy về bán cho người khác nhằm mục đích kiếm lời. Chứng cứ xác định bị cáo đã phạm vào tội "Mua bán trái phép chất ma túy" được quy định tại Điều 251 Bộ luật hình sự. Hành vi của bị cáo đã xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước đối với các chất ma túy, làm mất trật tự trị an, an toàn xã hội. Viện kiểm sát nhân dân huyện Đ truy tố bị cáo là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật. Đoàn Văn C có đầy đủ năng lực để chịu trách nhiệm hình sự về hành vi của mình.
Về tính chất mức độ phạm tội: Khối lượng ma túy bị thu giữ của Đoàn Văn C là 0,32 gam Heroine. Khối lượng ma túy bị cáo mua bán ở trong khoảng từ 0,1 gam đến dưới 5 gam cấu thành tội phạm quy định tại khoản 1 của Điều 251 Bộ luật hình sự. Tính chất mức độ phạm tội của bị cáo là nghiêm trọng và ở khung hình phạt từ 02 đến 07 năm tù.
Về nhân thân của bị cáo: Bị cáo sinh ra và lớn lên tại xã C, huyện H, tỉnh Thái Bình, tuổi đời của bị cáo còn rất trẻ nhưng bị cáo đã sớm nghiện ma túy từ năm 2015 đến nay. Đây là nguyên nhân chính để bị cáo phạm tội và phải nhận một bản án không đáng có trong đời.
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo chưa bị Tòa án xét xử do vậy lần phạm tội này bị cáo không có tình tiết tăng nặng nào.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra cũng như tại phiên toà bị cáo thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội của mình là cơ sở để chấp nhận đề nghị của Kiểm sát viên áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự.
Hội đồng xét xử áp dụng tình tiết để giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo nhưng vẫn phải nghiêm khắc cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian để bị cáo cố gắng cải tạo thành người có ích cho gia đình và xã hội.
Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 251Bộ luật hình sự bị cáo còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản. Xét điều kiện hoàn cảnh bị cáo khó khăn, con còn nhỏ, bản thân nghiện ma túy và không giữ chức vụ gì trong xã hội. Bị cáo không có khả năng thi hành hình phạt bổ sung, nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung đối với Đoàn Văn C.
Các vấn đề khác: Đối với nguồn gốc số ma túy bị thu giữ, bị cáo khai nhận mua của một người đàn ông dân tộc Thái bị cáo không rõ lai lịch. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Đ không có cơ sở để làm rõ đối tượng. Hội đồng xét xử không xem xét.
Đối tượng Lộ Văn N, sinh năm 1996, địa chỉ ở đội 3, xã N1, huyện Đ đã mua ma túy của Đoàn Văn C để sử dụng và đã sử dụng hết. Hành vi của N không cấu thành tội phạm và đã bị Công an huyện Đ xử phạt vi phạm hành chính về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy. Hội đồng xét xử không xem xét.
Về vật chứng của vụ án: Vật chứng là 0,32 gam Heroine, trích mẫu giám định 0,06 gam không hoàn lại đối tượng. Vật chứng này tịch thu tiêu hủy theo điểm c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật hình sự năm 2015; điểm a khoản 2 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015.
Vật chứng là số tiền 50.000 đồng tiền Ngân hàng Nhà nước Việt Nam. Vật chứng này chứng minh được là tiền do bị cáo bán ma túy cho Lộ Văn N mà có do vậy tịch thu của bị cáo để sung ngân sách Nhà nước theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 47 của Bộ luật hình sự; điểm b khoản 2 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự.
Về án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo phải chịu theo quy định tại khoản 2 Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016 ngày 30/12/2016 của UBTVQH về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Toà án.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 251; Điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự.
1. Tuyên bố: Bị cáo Đoàn Văn C phạm tội "Mua bán trái phép chất ma tuý".
- Xử phạt bị cáo Đoàn Văn C 02 (Hai) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị bắt tạm giữ, ngày 23/7/2018.
- Áp dụng điểm b, c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật hình sự năm 2015; điểm a, b khoản 2 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015:
+ Tịch thu tiêu hủy 0,32 gam Heroine, trích mẫu giám định 0,06 gam không hoàn lại đối tượng giám định. Vật chứng được đựng trong phong bì niêm phong có đặc điểm như biên bản giao nhận vật chứng hồi 15 giờ 00 phút ngày 08/10/2018 giữa Công an huyện Đ và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đ.
+ Tịch thu của bị cáo Đoàn Văn C số tiền 50.000 đồng sung quỹ Nhà nước. Tiền được đựng trong phong bì niêm phong có đặc điểm như biên bản giao nhận vật chứng hồi 15 giờ 00 phút ngày 08/10/2018 giữa Công an huyện Đ và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đ.
2. Án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự; Điểm a Khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016 ngày 30/12/2016 của UBTVQH về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Toà án. Buộc bị cáo Đoàn Văn C phải chịu 200.000 đồng án phí HSST.
Án xử công khai sơ thẩm có mặt bị cáo. Báo cho bị cáo biết được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, ngày 07/11/2018.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh; - VKSND tỉnh; - Sở Tư pháp tỉnh Điện Biên; - Bộ phận HSNV Công an huyện Đ; - VKSND huyện Đ; - Công an huyện Đ; - Cơ quan CSĐT Công an huyện Đ; - Nhà tạm giữ Công an huyện Đ; - Chi cục THADS huyện Đ; - Bị cáo; - Lưu. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ Nguyễn Mạnh Huấn |