vanban.org

Bản án 24 — Tranh chấp về thừa kế tài sản

TAND tỉnh Phú Thọ Tuyên án 30/09/2021 Dân sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

* Công nhận sự thỏa thuận của các đương sự như sau:

* Xác định di sản của cụ LQT và cụ PTP để lại: Gồm 02 diện tích đất: Thửa số 47, tờ bản đồ số 06, diện tích đo thực tế là 3.438,2 m2 ( trong đó có 300m² đất ở, 3.138,2 m² đất vườn ) và thửa số 06, tờ bản đồ 06, diện tích đo thực tế 4.133,4 m² đất RST tại khu 16, xã TK, huyện LT, tỉnh PT. * Xác định … Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp về thừa kế tài sản — án dân sự — "Tranh chấp chia di sản thừa kế"
  • Tòa quyết gì? * Công nhận sự thỏa thuận của các đương sự như sau:
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 37 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 623 Bộ luật Dân sự
Toµ ¸n nh©n d©n
tØnh phó thä

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

B¶n ¸n sè: 24 /2021/DS - ST
Ngµy 30 - 9- 2021
“ V/v Tranh chấp
chia di sản thừa kế”

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH PHÚ THỌ

- Thành phần hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Trường Sơn

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Nguyễn Xuân Đào;

Bà Nguyễn Thị Phẩm.

- Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa: Ông Nguyễn Việt Dũng – Thư ký Toà án nhân dân tỉnh PT.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh PT tham gia phiên tòa: ông Nguyễn Quỳnh Nam – Kiểm sát viên.

Ngày 30/9/2021 tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh PT tiến hành xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 56/2020/TLST-DS ngày 02 tháng 12 năm 2020 về việc “Tranh chấp chia di sản thừa kế ” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 19/2021/Q§XXDS - ST ngµy 24 th¸ng 5 n¨m 2021 gi÷a c¸c ®ư¬ng sù:

1 - Nguyên đơn: Ông Lương Quang H, sinh năm 1969 (có mặt).

Địa chỉ: khu 16, xã TK, huyện LT, tỉnh PT.

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn: Luật sư Chu Văn Quyền - Công ty luật hợp danh Hùng Vương PT, địa chỉ: SN 164 phố ML, phường TC, thành phố VT, tỉnh PT ( có mặt ).

2 - Bị đơn: Chị Phạm Thị ĐL, sinh năm 1990 (có mặt).

Địa chỉ: Khu 1, xã HC, thành phố VT, tỉnh PT.

3 - Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:

3.1. Ủy ban nhân dân huyện LT, tỉnh PT.

Người đại diện hợp pháp: ông Nguyễn Đức Hùng - Phó trưởng phòng tài nguyên và môi trường huyện LT, tỉnh PT theo Giấy ủy quyền ngày 30/12/2020 (xin vắng mặt).

3.2. Ủy ban nhân dân xã TK, huyện LT, tỉnh PT.

Người đại diện theo pháp luật: Ông T - Chủ tịch UBND xã TK, huyện LT (có mặt).

3.3. Bà NTT, sinh năm 1968 (có mặt).

Địa chỉ: khu 16, xã TK, huyện LT, tỉnh PT.

3.4. Bà LTT, sinh năm 1953 (vắng mặt);

Địa chỉ: Thôn LS, xã ĐT, huyện TD, tỉnh VP.

3.5. Bà LTH, sinh năm 1962 (vắng mặt);

Địa chỉ: Khu 7, xã AĐ, huyện PN, tỉnh PT.

6. Cháu LCT, sinh năm 2006;

Người giám hộ của cháu Tâm : Chị Phạm Thị ĐL, sinh năm 1990, địa chỉ: Khu 1, xã HC, thành phố VT, tỉnh PT (có mặt).

TÓM TẮT NỘI DUNG VỤ ÁN

1. Nguyên đơn ông Lương Quang H trình bày: Vợ chồng cụ LQT, sinh năm 1930 ( chết năm 2002 ) và cụ PTP, sinh năm 1933 ( chết năm 2018) có 06 người con gồm: Lương Quang Đỏ (đã chết khi còn nhỏ 03 tuổi ); LTT, sinh năm 1953; LTH, sinh năm 1962; LTH, sinh năm 1966 ( chết năm 2015); Lương Quang H, sinh năm 1969; Lương Quang Hợp, sinh năm 1974 (chết năm 1995 không có vợ con). Cụ Thích và cụ Phúc có tài sản chung là quyền sử dụng đất tại thửa đất số 47, tờ bản đồ số 06, diện tích 7515m² gồm 300m² đất ở, 3335m² đất vườn và 2363m² đất nông nghiệp, 1517m² đất đồi màu, địa chỉ thửa đất: khu 19 ( nay là khu 16), xã TK, huyện LT, tỉnh PT đã được UBND huyện LT cấp giấy CNQSD đất số H00132 ngày 12/6/2001 cho cụ PTP. Cụ Thích chết không để lại di chúc. Cụ Phúc để lại cho ông Giấy ủy quyền trông nom quản lý những tài sản trên và có trách nhiệm hương khói mồ mả. Bà Hòa (Huyền) ở với bố mẹ trên thửa đất này từ năm 1990 đến năm 1991 thì ra ở riêng nhưng vẫn trên thửa đất này. Ngày 13/11/2003 bà Hòa đã làm Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất để làm thủ tục chuyển nhượng quyền sử dụng đất từ cụ Phúc sang tên bà Hòa tại thửa đất số 47, tờ bản đồ số 06, diện tích 3.635m². Ngày 27/6/2004, UBND huyện LT đã cấp giấy CNQSD đất thửa đất trên cho bà Hòa. Ông và mọi người trong gia đình không biết. Năm 2004 cụ Thích và cụ Phúc mua đất 50 năm liền với thửa đất này cho bà Hòa, bà Hòa xây nhà và ở đó cho đến khi chết. Hiện nay con trai của bà Hòa là LCT, cháu Tâm là em cùng mẹ khác cha với chị Lương đang ở trên thửa đất này. Năm 2006 cụ Phúc có làm đơn lên xã và huyện huyện LT để giải quyết và bà Hòa đã nhận và hứa sẽ trả lại thửa đất và rút hồ sơ về. Nhưng đến năm 2015 bà Hòa chết, năm 2018 cụ Phúc chết và đã ủy quyền cho ông là đòi lại diện tích đất để chia cho các con. Hiện tại trên đất có một số cây tray, cây nhãn, cây xoan và có khoảng 400 cây bạch đàn khoảng một năm tuổi do ông trồng. Nay ông đề nghị Tòa án nhân dân tỉnh PT:

- Chia di sản thửa kế đối với tài sản bố mẹ để lại cụ thể: chia đều thửa đất trên làm 05 phần: một phần cho ông H, một phần cho bà Hằng, một phần cho bà Hạnh, một phần cho chị Lương còn lại một phần diện tích để làm nơi thờ cúng của con cháu. Nếu ai được chia vào đất có những cây này thì người đó được sử dụng. Nếu ai được chia vào những cây bạch đàn thì sẽ tự thỏa thuận với nhau nếu không thỏa thuận được ông sẽ di dời những cây này đi.

- Hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số Đ 782246 do UBND huyện LT cấp cho bà LTH ngày 27/6/2004. Không đề nghị hủy Giấy CNQSD đất số T 767566 tên: Lương Thị Huyền do UBND huyện LT cấp ngày 12/6/2001.

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn: Nhất trí với quan điểm của nguyên đơn đề nghị Tòa án nhân dân tỉnh PT hủy giấy CNQSD đất đứng tên bà LTH và chia thừa kế theo quy định của pháp luật. Các đương sự đều nhất trí không yêu cầu chia đất ruộng.

2. Bị đơn chị Phạm Thị ĐL trình bày: Mẹ chị là bà LTH, chết năm 2015, chị có 01 người em trai là LCT, sinh năm 2006. Từ khi còn bé cho đến khi đi lấy chồng, chị và mẹ chị sống cùng với ông bà ngoại là cụ Thích và cụ Phúc, còn mẹ chị ở với ông bà ngoại từ thời gian nào chị không biết. Khi còn sống bà Hòa xây dựng được một nhà lợp ngói 2 gian và một số công trình trên đất ( thửa 06) nhưng hiện tại đã hư hỏng. Năm 2007 bà Hòa xây nhà trên phần đất 50 năm do bà Hòa mua giáp với thửa đất đang có tranh chấp. Bà Hòa chết năm 2015, có 01 bản di chúc của cụ LQT để lại đất đai cho bà Hòa. Hiện tại trên đất có ngôi nhà lợp lá 3 gian và ngôi nhà lợp ngói 2 gian do bà Hòa xây đã hư hỏng nặng, có một số cây cối trên đất và cây bạch đàn do ông H trồng. Ông H đang quản lý và sử dụng tài sản trên. Về việc bà Hòa được cấp GCNQSD đất chị không biết trình tự, thủ tục như thế nào, chị chỉ biết hiện tại thửa đất đang đứng tên bà Hòa. Nay nguyên đơn đề nghị chia thừa kế và hủy GCNQSD đất đứng tên bà Hòa chị có quan điểm không đồng ý chia thừa kế. Chị nhất trí để một phần thửa đất có ngôi nhà lá 3 gian để làm nhà thờ cúng chung. Phần đất còn lại chị không đồng ý chia vì đây là tài sản của bà Hòa. Về việc ông H đề nghị hủy GCNQSD đất đứng tên bà Hòa chị không đồng ý vì đất đã được nhà nước cấp cho bà Hòa.Nếu phải chia thừa kế chị đề nghị được thanh toán tiền công sức xây dựng tài sản trên đất cho bà Hòa theo quy định của pháp luật và đề nghị được chia một phần đất giáp với thửa đất 50 năm do mẹ chị mua. Còn về phần đất rừng và đất ruộng hiện nay ông H đang sử dụng nếu phải chia chị đề nghị chia thửa đất đó cho anh Tâm để sau này anh Tâm sử dụng.

3. Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:

3.1. UBND huyện LT trình bày: Ngày 13/11/2003 bà LTH đến UBND xã TK làm thủ tục chuyển nhượng quyền sử dụng đất toàn bộ thửa đất số 47, tờ bản đồ số 06, diện tích 3635m² ( trong đó có 300m² đất ở; 3335m² đất vườn ) từ hộ bà PTP sang cho mình. Hồ sơ chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa bà PTP và bà LTH do UBND xã TK lập và chứng thực, được Phòng tài nguyên và môi trường thẩm định trình UBND huyện LT phê duyệt cấp GCNQSD đất cho bà LTH. Ngày 27/6/2004. UBND huyện LT đã cấp GCNQSD đất số Đ 782246 ( số vào sổ H02026 ) cho bà LTH, khu 16, xã TK tại thửa đất số 47, tờ bản đồ số 06, diện tích 3635m² ( trong đó có 300m² đất ở; 3335m² đất vườn ) (BL 79).

+ Bà LTT trình bày: Không có di chúc, đề nghị chia thừa kế theo pháp luật, phần của bà thì cho ông H sử dụng (BL 89).

+ Bà LTH trình bày: Đề nghị chia thừa kế theo pháp luật, phần của bà thì cho ông H sử dụng, ông H sẽ tự thanh toán cho bà, không yêu cầu tòa giải quyết việc tiền nong với ông H (BL 59,139).

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, được thẩm tra tại phiên

tòa và căn cứ kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Về thủ tục tố tụng: Nguyên đơn đề nghị “chia di sản thừa kế” tại tỉnh PT, đề nghị hủy 02 Giấy CNQSD đất số T 767566 tên: Lương Thị Huyền và Giấy CNQSD đất ghi tên: LTH, UBND huyện LT cấp số Đ 782246 ngày 27/6/2004 Tòa án nhân dân tỉnh PT giải quyết theo khoản 5 Điều 26; Khoản 4 Điều 34, khoản 1 Điều 37 Bộ luật tố tụng dân sự là phù hợp (BL 10, 34).

+ Về thời hiệu khởi kiện: Cụ LQT chết năm 2002, cụ PTP, chết năm 2018, căn cứ khoản 1 Điều 623 Bộ luật dân sự năm 2015 thời hiệu khởi kiện vẫn còn, Tòa án đã thụ lý vụ kiện là phù hợp.

+ Xác định hàng thừa kế được hưởng gồm: Cụ Thích và cụ Phúc có 6 người con, nhưng ông Lương Quang Đỏ chết khi 3 tuổi, ông Lương Quang Hợp chết không có vợ con, do đó còn lại 4 người: Bà Hạnh, bà Hằng, ông H và (bà Hòa chết năm 2015, có 2 con là chị Lương và cháu Tâm là người thừa kế thế vị) được quy định tại Điều 651 Bộ luật dân sự là phù hợp.

Về di sản chia thừa kế: Các đương sự đều xác định có diện tích 7.515m2 đất, trong đó có 3.635m2 ( trong đó đất ở 300 m2 và đất vườn 3.335 m2), còn lại đất nông nghiệp. Ngoài ra còn diện tích 4.296m2 đất rừng sản xuất tại thửa 06 của bố mẹ ông H đã sử dụng từ năm 1985 đến khi các cụ chết.

- Tuy có di chúc của LQT cho con gái Lương Thị Huyền ( tức Hòa) ngày 24/7/2001 (BL 54,55). Cụ PTP có giấy ủy quyền giao toàn bộ diện tích 3.635 m2 đất thổ cư cho ông Lương Quang H ngày 16/02/2005 (BL 48), nhưng tất cả các đương sự đều đề nghị chia theo pháp luật diện tích đất ở 3.635m² đất thổ cư. Riêng chị Lương yêu cầu chia cả diện tích thửa 06 tờ bản đồ 06 diện tích 4296m2 đất rừng sản xuất, tại khu 16, xã TK, huyện LT, tỉnh PT và chia đều cho 4 xuất nêu trên, các đương sự đều nhất trí không yêu cầu chia đất ruộng.

+ Tại phiên tòa hôm nay, các đương sự đều thống nhất không yêu cầu hủy Giấy CNQSD đất số T 767566 tên: Lương Thị Huyền ( 2 thửa đất ruộng), do đó nội dung này cần đình chỉ xét xử là phù hợp.

+ Các đương sự đều thống nhất như sau:

- Hủy Giấy CNQSD đất số Đ 782246 hộ bà LTH diện tích 3635 m2.

- Đều nhất trí về phương án chia di sản: Tại Giấy CNQSD đất số Đ 782246 hộ bà LTH diện tích 3.635 m2 và chia diện tích đo thực tế là 3.438,2 m2, chia cho chị Lương và cháu Tâm 1200 m2 ( trong đó có 100m2 đất ở, 1.100m2 đất vườn). Còn lại 2.435 m2 là của ông H và bà Hằng ( Phần bà Hạnh đã cho ông H sử dụng ).

* Đối với diện tích đất rừng sản xuất: Không có trong Giấy CNQSD đất. Diện tích này được chia đều cho ông H bà Hạnh và bà Hằng, mà phần bà Hạnh đã cho ông H. Cụ thể: thửa đất số 06, tờ bản đồ số 06 có diện tích theo sổ địa chính và sổ mục kê là 4296m2, nhưng đo thực tế là 4133,4m2, do không có chuyển nhượng, sai số do đo đạc nên chia diện tích đo thực tế 4.133,4m2 : 3 ngƣời = 1.377,8 m2/ người.

+ Phần đất được giao có cây cối của ông H thì ông H có trách nhiệm thu hồi.

Về quản lý di sản: Những người thuộc hàng thừa kế quyền, nghĩa vụ không có yêu giải quyết.

Về án Phí: Bà LTH là người cao tuổi nên được miễn án phí dân sựu sơ thẩm là phù hợp.

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ Điều 609, 610, 611, 612, 613, 616, 623, 649, 650, 651, 652, 660 Bộ luật dân sự 2015; Điều 203 của Luật Đất đai 2013; Khoản 5 Điều 26; khoản 4 Điều 34; điểm a khoản 1 Điều 37; khoản 2, 5 Điều 147; Điều 213, 246 Bộ luật tố tụng dân sự; Điểm đ khoản 1 Điều 12; khoản 8 Điều 26; điểm a Điều 27 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 UBTVQH của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án. Xử:

* Công nhận sự thỏa thuận của các đương sự như sau:

* Xác định di sản của cụ LQT và cụ PTP để lại: Gồm 02 diện tích đất: Thửa số 47, tờ bản đồ số 06, diện tích đo thực tế là 3.438,2 m2 ( trong đó có 300m² đất ở, 3.138,2 m² đất vườn ) và thửa số 06, tờ bản đồ 06, diện tích đo thực tế 4.133,4 m² đất RST tại khu 16, xã TK, huyện LT, tỉnh PT.

* Xác định những người được hưởng thừa kế gồm: Bà LTT, bà LTH, ông Lương Quang H, chị Phạm Thị ĐL và anh LCT. ( phần của bà Hạnh đã cho ông H ).

* Các đƣơng sự thỏa thuận chia thừa kế nhƣ sau:

+ Giao cho chị Phạm Thị ĐL và LCT được sử dụng diện tích 1200 m2 đất (trong đó có 100m2 đất ở; 1.100m2 đất trồng cây lâu năm) thửa 47, tờ bản đồ số 06, khu 16, xã TK, huyện LT, tỉnh PT (có sơ đồ kích thước kèm theo).

+ Giao cho ông Lương Quang H được sử dụng hai diện tích đất sau:

- Diện tích 2.238,2 m2 (trong đó có 200m2 đất ở, 2.038,2m2 đất trồng cây lâu năm) (gồm:1.492,13 m2 phần ông H + 746,06 m2 phần bà Hằng) tại thửa đất số 47, tờ bản đồ số 06.

- Diện tích 4.133,4 m2 đất RST tại thửa đất số 06, tờ bản đồ số 06, (gồm 2.755,6 m2 phần ông H + 1.377,8 m2 phần bà Hằng) Đều ở tại khu16, xã TK, huyện LT, tỉnh PT ( có sơ đồ kích thước kèm theo ).

+ Ông H sẽ tự thanh toán tiền hưởng di sản cho bà Hằng, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

+ Hủy Giấy CNQSD đất số Đ782246 ngày 27/6/2004 của UBND huyện LT cấp cho hộ bà LTH diện tích 3.635 m2 tại thửa số 47, tờ bản đồ số 6.

+ Đình chỉ xét xử đối với đề nghị của ông Lương Quang H yêu cầu hủy Giấy CNQSD đất số T 767566 ngày 12/6/2001 của UBND huyện LT cấp cho bà Lương Thị Huyền.

+ Phần đất được giao có cây cối của ông H thì ông H có trách nhiệm thu hồi.

+ Về quản lý di sản: Không yêu cầu giải quyết.

+ Về án phí sơ thẩm:

- Miễn án phí cho bà LTH.

- Về chi phí thẩm định, định giá: Ông H, chị Lương xin tự nguyện chịu chi phí thẩm định, định giá tài sản là 18.000.000đ. Xác nhận các đương sự đã nộp và đã chi phí 18.000.000đ.

- Ông Lương Quang H phải chịu 10.335.000đ án phí dân sự sơ thẩm. Xác nhận ông H đã nộp 3.000.000đ tại biên lai thu số 0004313 ngày 01/12/2020 tại Cục THADS tỉnh PT. Ông H còn phải nộp 7.335.000đ án phí dân sự sơ thẩm.

- Chị Phạm Thị ĐL phải chịu 7.071.000đ án phí dân sự sơ thẩm. Xác nhận Chị Lương đã nộp 2.000.000đ tại biên lai thu số 0004492 ngày 22/9/2021 tại Cục THADS tỉnh PT. Chị Lương còn phải nộp 5.071.000đ án phí dân sự sơ thẩm.

- Quyết định công nhận sự thỏa thuận của các đương sự có hiệu lực ngay sau khi được ban hành và không bị kháng cáo, kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm.

- Trưêng hîp Bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7,7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự. Nơi nhận:

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

- VKSND tỉnh PT;

THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ

- Cục THADS tỉnh PT;

- Các đương sự;

- Lưu: Hồ sơ + VP;

Nguyễn Trƣờng Sơn Thành viên Hội đồng xét xử

Thẩm phán – Chủ tọa phiên Tòa Nguyễn Xuân Đào

Nguyễn Thị Phẩm

Nguyễn Trƣờng Sơn

* Về án phí sơ thẩm:

1 – Miễn án phí cho ông Phạm Trường, ông Khâm, bà Tám.

2 – Anh Phạm Phúc Sinh phải chịu 5.766.675đ.

- Về chi phí thẩm định, định giá: Ông Trường xin chịu chi phí thẩm định, định giá tài sản 9.000.000đ.

- Trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm, các đương sự có quyền kháng cáo để yêu cầu xét xử phúc thẩm.

- Đương sự vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết./.

Cỡ chữ