vanban.org

Bản án 24

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? "Tàng trữ trái phép chất ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 101 Bộ luật Hình sự

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TÒA!ÁN!NHÂN!DÂN!
HUYỆN!ĐỒNG!PHÚ!
TỈNH!BÌNH!PHƯỚC!

Bản án số: 24/2020/HSST Ngày: 19-5-2020

!

!

NHÂN!DANH!

NƯỚC!CỘNG!HOÀ!XÃ!HỘI!CHỦ!NGHĨA!VIỆT!NAM!

TÒA!ÁN!NHÂN!DÂN!HUYỆN!ĐỒNG!PHÚ,!TỈNH!BÌNH!PHƯỚC!

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm"phán"-"Chủ"toạ"phiên"tòa:"Ông!Huỳnh!Tòa

Các"Hội"thẩm"nhân"dân: Ông!Lê!Văn!Trung

Ông!Nguyễn!Thành!Hạnh!

- Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa: Bà Đào Thị Quỳnh Nga, Cán bộ Tòa án nhân dân huyện Đồng Ph, tỉnh Bình Phước.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đồng Ph, tỉnh Bình Phước tham gia phiên tòa: Ông Tạ Văn Phú!- Kiểm sát viên.

Ngày 19 tháng 5 năm 2020, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Đồng Ph, tỉnh Bình Phước xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 29/2020/HSST ngày 22 tháng 4 năm 2020, đối với bị cáo:

Họ và tên: Nguyễn!Thanh!S!(tên gọi khác: Ân),!sinh ngày 17/3/2002; Nơi sinh: Bình Phước; Nghề nghiệp: thợ sắt; Trình độ học vấn: 6/12; Nơi cư trú: Ấp 1, xã Đồng T, huyện Đồng Ph, tỉnh Bình Phước; con ông Nguyễn Văn T, sinh năm 1968 và bà Châu Thị Tuyết P, sinh năm 1972. Bị cáo có 03 anh chị em ruột, lớn nhất sinh năm 1990 và nhỏ nhất sinh năm 2012.

- Tiền án, tiền sự: không.

Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 24/02/2020 cho đến nay.

Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Ông Nguyễn Thanh Ph-SN 1995

Trú tại: Ấp 1, xã Đồng T, huyện Đồng Ph, tỉnh Bình Phước.

*"Người"làm"chứng:"

- Ông Trương Đăng H, sinh năm 1991

Trú tại: Ấp 4, xã Đồng T, huyện Đồng Ph, tỉnh Bình Phước.

NỘI!DUNG!VỤ!ÁN:!

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 18 giờ, ngày 24/02/2020, bị cáo Nguyễn Thanh S điều khiển xe mô tô hiệu DreamII, biển số 93F7-4624 đến khu vực chợ Đồng T, thuộc ấp 4, xã Đồng T, huyện Đồng Ph, tỉnh Bình Phước thì gặp bạn tên Lộc(không rõ nhân thân lai lịch), Lộc rủ S sử dụng ma túy thì S đồng ý. Lộc đưa cho S 200.000đồng để đi mua ma túy, S điều khiển xe mô tô trên đi đến khu vực ấp Suối Binh, xã Đồng Tiến, huyện Đồng Ph thì gặp một người phụ nữ tên Thương (không rõ nhân thân lai lịch) mua 200.000 đồng ma túy, Thương đưa cho S 01 gói nylon hàn kín bên trong đựng ma túy đá, S cầm gói ma túy trên tay rồi điều khiển xe mô tô đến đoạn đường bê tông thuộc ấp 4, xã Đồng T, huyện Đồng Ph thì dừng lại chờ Lộc. Đến 19 giờ cùng ngày Công an huyện Đồng Ph kết hợp với Công an xã Đồng T tuần tra trên địa bàn thấy S có biểu hiện nghi vấn nên tiến hành kiểm tra, liền lúc này S thả rơi gói ma túy đang cầm trên tay trái xuống đất nhưng bị lực lượng Công an phát hiện, lập biên bản thu giữ. Qua làm việc bị cáo S khai nhận hành vi của mình như trên.

Vật!chứng!thu!giữ:!

- 01 (một) gói nilon màu trắng hàn kín bên trong chứa tinh thể màu trắng (1,5 x 3,5)cm;

- 01 điện thoại di động màu đen hiệu JVJ;

- 01 xe mô tô Dream II màu tím, biển số 93F7-4624, số khung 002493, số máy 002493;

Tại bản Kết luận giám định số 40/2020/GĐ-MT ngày 28/02/2020 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bình Phước, kết luận:

Tinh thể màu trắng có trong 01gói nylon (ký hiệu M) được niêm phong gửi giám định là ma túy, loại Methamphetamine, có khối lượng là 0,2787 gam.

Tại bản Cáo trạng số 31/CTr -VKS ngày 21/4/2020 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Đồng Ph, tỉnh Bình Phước đã truy tố bị cáo Nguyễn Thanh S về tội “Tàng"trữ" trái"phép"chất"ma"túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015.

Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo theo nội dung bản cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử:

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thanh S phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”."""

Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Điều 38; Điều 50, 90, 91, 101 Bộ luật hình sự năm 2015.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Thanh S mức án từ 01 năm đến 01 năm 03 tháng tù.

Về hình phạt bổ sung: Do bị cáo không có nghề nghiệp và thu nhập không ổn định nên đề nghị miễn hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Về xử lý vật chứng:

Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ điểm a khoản 2; điểm c khoản 3 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017, tuyên:

+ Tịch thu tiêu huỷ mẫu vật ma túy còn lại sau giám định được niêm phong có trọng lượng là: 0,1682 gam.

+ Trả lại cho bị cáo Nguyễn Thanh S 01 điện thoại di động màu đen, hiệu JVJ;

Ý kiến của người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Thanh Phong đã nhận lại tài sản và không có yêu cầu gì.

Ý kiến của Luật sư bào chữa cho bị cáo: Bị cáo có hòan cảnh gia đình khó khăn cha bị cáo bỏ đi từ khi bị cáo còn rất nhỏ, mẹ bị cáo thường đau bệnh nên thiếu sự chăm sóc giáo dục, trình độ hiểu biết pháp luật còn hạn chế, bị cáo phạm tội khi chưa đủ 18 tuổi, sau khi phạm tội bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Vì vậy đề nghị Hội đồng xét xử xem xét xử bị cáo mức án 09 tháng tù là phù hợp với tính chất và mức độ hành vi phạm tội của bị cáo.

Ý kiến của bị cáo Nguyễn Thanh S: Tại phiên tòa bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình.

Lời nói sau cùng bị cáo nhận thấy hành vi của mình là sai, vi phạm pháp luật, xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN!ĐỊNH!CỦA!TÒA!ÁN:!

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, quá trình tranh tụng tại phiên tòa trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác, Hội đồng xét xử nhận định như sau: !

[1] Về thủ tục tố tụng:

- Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Đồng Ph, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Đồng Ph, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và người làm chứng không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về hành vi phạm tội:

Tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Thanh S đã khai nhận hành vi phạm tội như nội dung Cáo trạng số 31/CTr -VKS ngày 21/4/2020 mà Viện kiểm sát nhân dân huyện Đồng Ph, tỉnh Bình Phước đã truy tố đối với bị cáo.

Xét lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với lời khai của người làm chứng, vật chứng vụ án đồng thời phù hợp với các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được xét hỏi công khai tại phiên tòa, phù hợp kết luận của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đồng Ph. Như vậy, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Vào ngày 24/02/2020, bị cáo Nguyễn Thanh S đã có hành vi tàng trữ trái phép 0,2787 gam Methamphetamine loại ma túy đá"để sử dụng"tại ấp 4, xã Đồng T, huyện Đồng Ph, tỉnh Bình Phước. Hành vi của bị cáo đã phạm vào tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.

Hành vi mà bị cáo thực hiện là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về các chất ma túy, gây ảnh hưởng xấu đến sức khỏe con người và trật tự trị an tại địa phương, là một trong những nguyên nhân dẫn đến các tệ nạn xã hội khác. Vì vậy, Viện kiểm sát nhân dân huyện Đồng Ph đã truy tố bị cáo Nguyễn Thanh S về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng điều khoản quy định của pháp luật.

Xét tính chất và mức độ của hành vi phạm tội mà bị cáo đã thực hiện là nguy hiểm cho xã hội. Khi thực hiện hành vi phạm tội bị cáo là người đủ tuổi, đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, nhận thức và làm chủ được hành vi của mình; bị cáo nhận thức được việc tàng trữ trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật và sẽ bị pháp luật nghiêm trị nhưng vì động cơ cá nhân muốn ăn chơi, hưởng thụ, dấng thân vào con đường tệ nạn xã hội nên bị cáo đã tàng trữ trái phép chất ma túy như đã phân tích ở trên. Bản thân bị cáo có việc làm nhưng không lo làm ăn mà tự mình mua ma túy về để cất giấu và sử dụng, bị cáo đã tự đưa mình vào con đường phạm tội. Hiện nay hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy đề sử dụng có chiều hướng gia tăng nhất là giới thanh thiếu niên trẻ tuổi, trở thành gánh nặng cho gia đình và xã hội, nếu không xử lý nghiêm khắc, kịp thời sẽ gây hậu quả không tốt cho giới trẻ, thiệt hại về kinh tế, gây đau thương mất mất cho gia đình và xã hội sau này. Vì vậy, thiết nghĩ cần xử bị cáo mức án nghiêm, bằng hình phạt tù có thời hạn mới có tác dụng răn đe, giáo dục bị cáo trở thành người công dân có ích cho xã hội sau này và nhằm đấu tranh phòng ngừa chung. Tuy nhiên, khi xét xử cũng cần xem xét đến các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo.

[3] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo phạm tội khi chưa đủ 18 tuổi, trình độ nhận thức hiểu biết về pháp luật còn hạn chế. Sau khi phạm tội đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, bị cáo có hoàn cảnh gia đình khó khăn, cha mẹ đã ly thân khi bị cáo còn nhỏ, cha bị cáo không quan tâm chăm sóc bị cáo do đó bị cáo đã giao lưu với bạn bè xấu. Đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự đã được Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt khi lượng hình.

[4] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào.

Đối với hành vi sử dụng trái phép chất ma túy của bị cáo Nguyễn Thanh S, Cơ quan CSĐT Công an huyện Đồng Ph đã ra quyết định xử phạt hành chính nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Đối với đối tượng tên Lộc có hành vi đưa tiền để bị cáo S đi mua ma túy về cùng sử dụng và đối tượng tên Thương, Dẹo có hành vi bán ma túy cho bị cáo S hiện chưa xác minh được nhân thân lai lịch nên Cơ quan Cảnh sát điều tra đã tách ra tiếp tục xác minh, xử lý sau nên không xem xét.

[5] Vật chứng vụ án:

- Đối với mẫu vật ma túy còn lại sau giám định được niêm phong có trọng lượng là: 0,1682 gam cần tuyên tiêu hủy.

- Đối với 01 xe mô tô hiệu Dream II, biển số 93F7-2624, màu tím, số khung 002493, số máy 002493, Cơ quan Cảnh sát điều tra đã trả lại cho chủ sở hữu là ông Nguyễn Thanh Ph, ông Ph không có ý kiến gì;

Đối với 01 điện thoại đi động màu đen, hiệu JVJ không liên quan đến hành vi phạm tội nên cần trả lại cho bị cáo S.

[6] Về trách nhiệm dân sự: Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Thanh Ph đã nhận lại tài sản và không yêu cầu bị cáo bồi thường thiệt hại gì về tài sản nên không xem xét.!

[7] Về hình phạt bổ sung: Xét thấy bị cáo không có nghề nghiệp và thu thập ổn định nên miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo.

[8] Án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo Nguyễn Thanh S phải chịu theo quy định của pháp luật.

Tại phiên tòa quan điểm của đại diện Viện kiểm sát về các tình tiết giảm nhẹ, mức hình phạt là phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.

Tại phiên tòa người bào chữa cho bị cáo Nguyễn Thanh S xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo là có căn cứ một phần nên được chấp nhận một phần, đối với đề nghị xử phạt bị cáo 09 tháng tù là không có căn cứ nên không được chấp nhận.

Vì"các"lẽ"trên,"

QUYẾT!ĐỊNH!

1. Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thanh S phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

2. Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 50, 90, 91, 101 Bộ luật hình sự:

Xử phạt bị cáo Nguyễn Thanh S: 12(mười hai) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 24/02/2020.

3. Vật chứng vụ án: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự và điểm a khoản 2, điểm c khoản 3 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:

3.1. Tịch thu tiêu huỷ: 0,1682 gam ma túy còn lại sau giám định.

3.2: Trả lại cho bị cáo: 01 (một) điện thoại di động màu đen hiệu JVJ.

4. Về hình phạt bổ sung: Không.

5. Án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo Nguyễn Thanh S phải nộp 200.000đồng.

Bị cáo, người đại diện hợp pháp cho bị cáo, người bào chữa cho bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ