- Tranh chấp gì? án hình sự — "Cà Văn T - phạm tội sử dụng trái phép chất ma túy (điều 256a Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2025)"
- Tòa quyết gì? Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Cà Văn T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” và tội “ Sử dụng trái phép chất ma túy”
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 2 - ĐIỆN BIÊN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 24/2026/HS-ST Ngày: 20/01/2026 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 2 - ĐIỆN BIÊN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Nga.
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Lò Thị Vinh
Bà Lò Thị Thanh Bình.
- Thư ký phiên tòa: Ông Lê Tuấn Ngọc - Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 2
- Điện Biên.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 2 - Điện Biên tham gia phiên tòa: Bà Trần Thị Hậu - Kiểm sát viên.
Ngày 20 tháng 01 năm 2026, tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 2 - Điện Biên tiến hành xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 28/2025/TLST-HS ngày 09 tháng 12 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 27/2026/QĐXXST-HS ngày 07 tháng 01 năm 2026 đối với bị cáo:
Họ và tên: Cà Văn T (không có tên gọi khác), sinh ngày: 06/5/1993, tại tỉnh Điện Biên. Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và chỗ ở hiện nay: Tổ 3, xã N, tỉnh Điện Biên (trước đây là tổ 3, thị trấn Đ, huyện Đ, tỉnh Điện Biên); nghề nghiệp: Nông Nghiệp; trình độ văn hóa: 7/12; dân tộc: Thái; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; Bố đẻ: ông Cà Văn H, sinh năm 1958 và mẹ đẻ bà Lò Thị H, sinh năm 1964 ; Sống chung như vợ chồng với chị Lò Thị T, sinh năm 1991 và có 01 người con sinh năm 2013.
Tiền án, tiền sự: Không.
Nhân thân: Theo bản án số 25/ST ngày 04/6/2015, Tòa án nhân dân huyện M xử phạt 09 năm tù về tội cướp tài sản, đến ngày 16/12/2021 chấp hành xong (đã được xóa án tích).
Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 29/8/2025 cho đến nay. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.
Người bào chữa cho bị cáo: Bà Cao Thị B, trợ giúp viên pháp lý của Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước tỉnh Điện Biên. Có mặt tại phiên tòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Cà Văn T là người đang trong thời hạn điều trị nghiện các chất ma túy bằng thuốc thay thế theo quy định của Luật phòng, chống ma túy (Quyết định số 112A/QĐ-CNTTCBGDLĐXH ngày 10/05/2022). Trong thời gian cai nghiện bằng thuốc thay thế bị cáo vẫn tìm mua ma túy sử dụng, thời điểm sử dụng gần nhất là vào khoảng 14 giờ ngày 26/8/2025, Cà Văn T đi bộ từ nhà ở tổ 3, xã N, tỉnh Điện Biên đến khu vực nghĩa trang thuộc tổ 3, xã N tìm mua ma túy để sử dụng. Tại đây, Tgặp và mua được của một người đàn ông ( không biết tên, địa chỉ) 01 viên Methamphetamine với giá 50.000đ. Mua xong, T nhặt 01 vỏ chai nhựa, rồi dùng dao bấm mang theo chặt một đoạn tre nhỏ dài khoảng 10cm ở ven đường làm ống điếu sau đó đi bộ vào trong nhà trông coi nghĩa địa ở tổ 3, xã Na Son nhặt 01 mảnh giấy bạc rồi cho viên Methamphetamine lên trên mảnh giấy bạc, dùng bật lửa đốt hơ nóng phần mặt dưới của mảnh giấy bạc để viên Methamphetamine tan ra và dùng ống điếu hút đến khi viên Methamphetamine tan hết. Sử dụng ma túy xong, T vứt bật lửa và ống điếu tự chế rồi đi bộ về nhà và đã làm rơi mất con dao bấm.
Khoảng 11 giờ 20 phút ngày 29/8/2025, Cà Văn T tiếp tục đi bộ từ nhà tại tổ 3, xã N, tỉnh Điện Biên đến khu vực nghĩa địa thuộc tổ 3, xã N, tỉnh Điện Biên để tìm mua ma túy sử dụng. Tại đây, T gặp và hỏi mua được của một người đàn ông (không biết tên, địa chỉ) 01 gói Methamphetamine với giá 100.000đ. Mua xong, T cất gói ma túy vào túi quần bên phải đang mặc rồi đi bộ về nhà, khi đang đi bộ trên đường thì bị tổ công tác Công an xã N, tỉnh Điện Biên phát hiện, bắt quả tang, thu giữ tại túi quần bên phải T đang mặc 01 gói nilon màu hồng, bên trong chứa 02 viên nén nghi là Methamphetamine và lập biên bản niêm phong vật chứng.
Tại biên bản mở niêm phong xác định khối lượng, niêm phong vật chứng gửi giám định ngày 29/8/2025 và Kết luận giám định số 910/KL-KTHS ngày 04/9/2025 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Điện Biên, kết luận: Vật chứng gửi giám định thu giữ của Cà Văn T có khối lượng 0,23 gam là chất ma túy, loại Methamphetamine, hoàn lại 0,15gam Methamphetamine.
Cùng ngày 29/8/225, cơ quan điều tra tiến hành thu mẫu nước tiểu của Cà Văn T gửi giám định. Tại Kết luận giám định số 911/KL-KTHS ngày 04/9/2025 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Điện Biên kết luận: Trong mẫu nước tiểu của Cà Văn T gửi giám định có chứa chất ma túy, loại Methamphetamine.
Cáo trạng số: 24/CT-VKSKV2 ngày 08/12/2025 của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 2 - Điện Biên truy tố bị cáo Cà Văn T về tội: “ Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 và tội “ Sử dụng trái phép chất ma túy” theo quy định điểm a khoản 1 tại Điều 256a của Bộ luật Hình sự 2015 (sửa đổi bổ sung 2025).
- Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố luận tội: Vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:
+ Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm a khoản 1 Điều 256a; Điều 38, điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 55 của Bộ luật Hình sự 2015 (sửa đổi bổ sung 2025).
Xử phạt bị cáo Cà Văn T từ 03 năm đến 03 năm 06 tháng tù về tội “ Tàng trữ trái phép chất ma túy” và từ 02 năm đến 02 năm 06 tháng tù về tội “ Sử dụng trái phép chất ma túy”. Tổng hợp hình phạt chung của cả hai tội bị cáo Cà Văn Tphải chịu từ 05 năm đến 06 năm tù.
+ Về xử lý vật chứng: Đề nghị áp dụng điểm a, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu hủy: 0,15 gam Methamphetamine còn lại sau giám định và 01 mảnh nilon màu hồng.
+ Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
+ Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội về mức thu, miễn giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo.
Tại phiên tòa: người bào chữa cho bị cáo nhất trí với Luận tội của đại diện Viện kiểm sát truy tố, đánh giá bị cáo về tội danh, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ, nhân thân của bị cáo. Người bào chữa phân tích nhấn mạnh về hoàn cảnh gia đình khó khăn, sinh sống tại địa bàn vùng sâu, vùng xa, trình độ học vấn thấp (7/12), trình độ hiểu biết pháp luật hạn chế đề nghị Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo được hưởng mức án đầu khung đối với hai tội để sớm về với gia đình, xã hội. Nhất trí với đề nghị không áp dụng hình phạt bổ sung, miễn án phí cho bị cáo mà đại diện Viện kiểm sát đã đề xuất.
Tại phiên tòa bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội không tranh luận gì thêm với đại diện Viện kiểm sát. Lời nói sau cùng bị cáo xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
. Xét hành vi của bị cáo:
Tại phiên tòa bị cáo khai nhận hành vi phạm tội như Cáo trạng truy tố, lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với với Biên bản bắt người phạm tội quả tang, Biên bản niêm phong đồ vật, tài liệu; phù hợp với Kết luận giám định và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Do đó, Hội đồng xét xử có căn cứ khẳng định: Bị cáo Cà Văn T là người có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, vào ngày 29/8/2025, tại khu vực tổ 3, xã N, tỉnh Điện Biên, bị cáo có hành vi mua cất giấu trái phép trên người 0,23gam Methamphetamine nhằm mục đích sử dụng. Hành vi này của bị cáo đã cấu thành tội tàng trữ trái phép chất ma túy theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự. Điều luật quy định:
“1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 03 năm đến 05 năm:
… c) Heroine, Cocaine, Methamphetamine, Amphetamine, Ketamine, Fentanyl, MDMA hoặc XLR-11 có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam”.
Không những thế bị cáo Cà Văn T đang trong thời gian điều trị nghiện các chất ma túy bằng thuốc thay thế theo Quyết định số 112A/QĐ-CNTTCBGDLĐXH ngày 10/05/2022, tài liệu thể hiện ngày 29/8/2025 bị cáo đã nhận thuốc điều trị nghiện nhưng sau đó bị cáo vẫn đi tìm mua ma túy và bị bắt quả tang thu giữ 0,23gam Methamphetamine, bị cáo còn khai nhận lần sử dụng ma túy gần nhất vào ngày 26/8/2025, lời khai nhận của bị cáo phù hợp với kết luận giám định số 911/KL-KTHS ngày 04/9/2025 kết luận mẫu nước tiểu thu của bị cáo có chứa chất ma túy loại Methamphetamine. Cho nên, hành vi của bị cáo còn phạm vào tội “ Sử dụng trái phép chất ma túy”theo điểm a khoản 1 Điều 256a Bộ luật Hình sự 2015 (sửa đổi bổ sung 2025). Điều luật quy định:
1. Người nào sử dụng trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 03 năm:
a) Đang trong thời hạn cai nghiện ma túy hoặc điều trị nghiện các chất ma túy bằng thuốc thay thế theo quy định của Luật Phòng, chống ma túy”
Như vậy, Cáo trạng Viện kiểm sát nhân dân khu vực 2 – Điện Biên truy tố bị cáo về tội danh và điều luật là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng quy định của pháp luật.
. Xét tính chất hành vi, nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự thấy rằng:
Tính chất hành vi phạm tội là nghiêm trọng đối với tội Tàng trữ trái phép chất ma túy và ít nghiêm trọng đối với tội Sử dụng trái phép chất ma túy. Tuy nhiên hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy và sử dụng trái phép chất ma túy khi đang tham gia điều trị nghiện của bị cáo Cà Văn T trực tiếp gây suy giảm sức khỏe chính bản thân của bị cáo, ảnh hưởng xấu đến gia đình và xã hội, xâm phạm chính sách quản lý các chất ma túy của nhà nước, là một trong các nguyên nhân gây ra các tội khác trong xã hội làm ảnh hưởng đến trật tự, trị an, an toàn xã hội cần phải xử lý nghiêm minh, làm bài học răn đe, cảnh tỉnh chung.
Xét nhân thân bị cáo thấy rằng: Bản thân bị cáo xuất thân từ gia đình thuần nông, học hết lớp 7/12, không làm chủ bản thân dẫn đến nghiện chất ma túy. Bản thân bị cáo Cà Văn T từng bị xét xử 09 năm tù về tội cướp tài sản năm 2015, cho thấy bị cáo có nhân thân xấu.
Xét tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra đến phiên tòa hôm nay bị cáo thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội tàng trữ và sử dụng trái phép chất ma túy nên được áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.
Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại Điều 52 Bộ luật Hình sự.
Như vậy, phân tích và đề xuất về tính chất hành vi, nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của đại diện viện kiểm sát, người bào chữa cho bị cáo có căn cứ chấp nhận.
. Về hình phạt:
Hình phạt chính: Từ phân tích về hành vi phạm tội, tính chất hành vi, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo, Hội đồng xét xử chấp nhận đề nghị của đại diện Viện kiểm sát về hình phạt chính là hình phạt tù có thời hạn đối với bị cáo để cải tạo, giáo dục bị cáo trở thành công dân sống có ích cho gia đình và xã hội. Bị cáo phạm hai tội đều bị áp dụng hình phạt tù cho nên áp dụng khoản 1 Điều 55 Bộ luật Hình sự để tổng hợp hình phạt đối với bị cáo.
Hình phạt bổ sung đối với tội tàng trữ trái phép chất ma túy: Theo quy định tại Khoản 5 Điều 249 của Bộ luật Hình sự: “Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản”. Tuy nhiên, theo các tài liệu, chứng cứ và lời khai của bị cáo tại phiên tòa cho thấy bị cáo không có thu nhập ổn định chỉ làm thuê kiếm sống lại là đối tượng nghiện ma túy, khó có khả năng thi hành hình phạt bổ sung là phạt tiền để thi hành án. Do đó, Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo như đề nghị của Kiểm sát viên và người bào chữa cho bị cáo.
Đối với tội Sử dụng trái phép chất ma túy, Điều luật không quy định hình phạt bổ sung nên Hồng xét xử không xem xét.
Về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo, người bào chữa cho bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Về vật chứng vụ án: Theo quy định tại điểm a, c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự và điểm a, c khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự cần: Tịch thu tiêu hủy 0,15 gam Methamphetamine còn lại sau giám định là vật cấm tàng trữ và 01 mảnh nilon màu hồng là vật không còn giá trị sử dụng.
. Về án phí: Xét thấy bị cáo là người dân tộc thiểu số, hiện đang sinh sống tại xã có điều kiện kinh tế xã hội đặc biệt khó khăn, tại phiên tòa bị cáo xin miễn án phí hình sự sơ thẩm. Hội đồng xét xử căn cứ khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm đ khoản 1 Điều 12, khoản 6 Điều 15 Nghị Quyết 326/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội khóa 14 về quy định mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án. Miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát và người bào chữa.
. Về các vấn đề khác trong vụ án: Bị cáo khai mua ma túy của một người đàn ông nhưng không biết tên và địa chỉ nên Cơ quan điều tra không đủ cơ sở để điều tra làm rõ. Hội đồng xét xử cần chấp nhận, không xem xét.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm a khoản 1 Điều 256a của Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2025.
1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Cà Văn T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” và tội “ Sử dụng trái phép chất ma túy”
2. Về hình phạt: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm a khoản 1 Điều 256a; Điều 38; Điểm s khoản 1 Điều 51; khoản 1 Điều 55 của Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2025.
Xử phạt bị cáo Cà Văn T 03 (ba) năm 03 (ba) tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” và 02 (hai) năm 03 (ba) tháng tù về tội “Sử dụng trái phép chất ma túy”.
Tổng hợp hình phạt chung cho cả hai tội, bị cáo phải chấp hành 05 (năm) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giữ (ngày 29/8/2025).
3. Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm a, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.
Tịch thu tiêu hủy: 0,15 gam Methamphetamine (còn lại sau giám định) và 01 mảnh nilon màu hồng.
(Vật chứng trên đã được miêt tả trong biên bản về việc giao nhận vật chứng, tài sản vào hồi 16 giờ 00 phút ngày 08/12/2025 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Điện Biên và Phòng thi hành án dân sự khu vực 2, tỉnh Điện Biên).
4. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điểm đ khoản 1 Điều 12, khoản 6 Điều 15 Nghị Quyết 326/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội khóa 14 về quy định mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án. Miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo.
5. Về quyền kháng cáo đối với bản án: Căn cứ các Điều 331, Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự bị cáo có quyền kháng cáo Bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (ngày 20/01/2026).
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Điện Biên; -VKSND tỉnh Điện Biên; - VKSND khu vực 2 - Điện Biên; - Bị cáo; - Phân trại tạm giam Na Son; - Phòng HSNV Công an tỉnh Điện Biên; - Công an tỉnh Điện Biên; - Thi hành án dân sự tỉnh Điện Biên; - Lưu: Hồ sơ vụ án, HCTP. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Nguyễn Thị Nga |