vanban.org

Bản án 24/2026/QĐ-TA

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Dương Tiến T, sinh ngày 03/4/1996; Số định danh cá nhân: 019096005204; Nơi cư trú: Thôn B, xã T, tỉnh Thái Nguyên.

TAND tỉnh Thái Nguyên; VKSND tỉnh Thái Nguyên; Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? "Dương Tiến T "Áp dụng biện pháp XLHC đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc""
  • Tòa quyết gì? Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Dương Tiến T, sinh ngày 03/4/1996; Số định danh cá nhân: 019096005204; Nơi cư trú: Thôn B, xã T, tỉnh Thái Nguyên.
  • Căn cứ chính? Pháp lệnh trình tự, thủ tục xem xét; Pháp lệnh trình tự, thủ tục Tòa án nhân dân xem xét; Pháp lệnh số 08/2025/UBTVQH15 Sửa đổi, bổ sung một số điều c…
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 5
THÁI NGUYÊN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Số: 24/2026/QĐ-TAThái Nguyên, ngày 19 tháng 6 năm 2026

QUYẾT ĐỊNH

Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 5 - THÁI NGUYÊN

Với thành phần tiến hành phiên họp gồm có:

- Thẩm phán - Chủ trì phiên họp: Ông Đỗ Hữu N;

- Thư ký phiên họp: Bà Ngô Thuý Vi - Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 5 - Thái Nguyên. Ngày 19 tháng 6 năm 2026 tại hội trường Tòa án nhân dân khu vực 5 - Thái Nguyên tiến hành mở phiên họp xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc theo Quyết định mở phiên họp số 24/2026/QĐ-TA ngày 10 tháng 6 năm 2026, đối với: Họ và tên: Dương Tiến T; Tên gọi khác: Không; Sinh ngày 03/4/1996; Số định danh cá nhân: 019096005204; Nơi cư trú: Thôn B, xã T, tỉnh Thái Nguyên; Giới tính: Nam; Dân tộc: Dao; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 7/12; Con ông Dương Quý H và bà Bàn Thị D. Tiền án, tiền sự: Không. Nhân thân: Ngày 25/6/2022 bị Toà án nhân dân huyện Yên Phong, tỉnh Bắc Ninh ra Quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc, thời hạn 20 (hai mươi) tháng. Được giao quản lý tại Cơ sở Cai nghiện ma tuý số 1 tỉnh Thái Nguyên từ ngày 01/6/2026 đến nay. (Có đơn đề nghị xét vắng mặt). Có sự tham gia của: 1. Đại diện cơ quan đề nghị: Ông Ngô Mạnh H1 - Trưởng Công an xã T, tỉnh Thái Nguyên; 2. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 5 - Thái Nguyên: Ông Phan Thanh Tiến - Kiểm sát viên.

NHẬN THẤY:

Theo tài liệu có trong hồ sơ đề nghị, tại bản tường trình, biên bản lấy lời khai Dương Tiến T xác định: T là người nghiện ma tuý từ năm 2013, loại ma tuý T sử dụng là H2, hình thức sử dụng là C, lần sử dụng ma tuý gần nhất là ngày 01/6/2026. Ngày 01/6/2026 Công an xã T phối hợp cùng Trạm y tế xã Trại Cau tiến hành xét nghiệm chất ma tuý trong cơ thể đối với T, kết quả T dương tính với chất ma tuý. Cùng ngày, Trạm y tế xã T phiếu kết quả xác định tình trạng nghiện ma tuý của T, kết luận Dương Tiến T nghiện ma tuý. Công an xã T đã thông báo, giải thích cho T về việc đăng ký cai nghiện ma tuý tự nguyện hoặc điều trị nghiện bằng thuốc thay thế nhưng Dương Tiến T không đăng ký mà làm đơn tự nguyện xin đi cai nghiện bắt buộc nên Trưởng Công an xã T, tỉnh Thái Nguyên đã lập hồ sơ kèm công văn số 554/ĐN-CNBB ngày 09/6/2026, đề nghị xem xét áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Dương Tiến T. Dương Tiến T có nơi cư trú ổn định nhưng gia đình từ chối quản lý trong thời gian lập hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc nên ngày 01/6/2026 Công an xã T đã lập hồ sơ giao cho Cơ sở Cai nghiện ma tuý số 1 tỉnh Thái Nguyên quản lý trong thời gian làm thủ tục đề nghị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc. Tại phiên họp:

- Ý kiến của đại diện cơ quan đề nghị: Giữ nguyên quan điểm, đề nghị Toà án nhân dân khu vực 5 - Thái Nguyên xem xét áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc tại Cơ sở Cai nghiện ma tuý số 1 tỉnh Thái Nguyên đối với Dương Tiến T với thời hạn từ 20 đến 24 tháng.

- Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 5 - Thái Nguyên: Quá trình giải quyết Tòa án đã tuân thủ theo đúng các quy định của Pháp lệnh số 03/2022/UBTVQH15 ngày 13/12/2022 quy định về trình tự, thủ tục xem xét, quyết định áp dụng các biện pháp xử lý hành chính tại Tòa án nhân dân. Căn cứ: Điểm d khoản 2 Điều 6, khoản 2 Điều 9, Điều 95, khoản 1 Điều 96, khoản 2 Điều 105, Điều 110 Luật xử lý vi phạm hành chính; Căn cứ khoản 1 Điều 3, các Điều 20, 21, 23, 30 Pháp lệnh 03/2022/UBTVQH15 ngày 13/12/2022 quy định về trình tự, thủ tục xem xét, quyết định áp dụng các biện pháp xử lý hành chính tại Tòa án nhân dân; Căn cứ Nghị quyết số 04/2015/NQ-HĐTP ngày 24/12/2015 của Hội đồng Thẩm phán TANDTC; Khoản 1 Điều 28, Điều 33 Nghị định 116/2021/NĐ-CP ngày 21/12/2021 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều của Luật phòng, chống ma tuý, Luật Xử lý vi phạm hành chính về cai nghiện ma tuý; Khoản 1 Điều 32 Luật Phòng chống ma tuý; Thông tư 03 ngày 01/03/2025 quy định về xử lý một số vấn đề liên quan đến áp dụng các biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc và biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc. Viện kiểm sát nhân dân khu vực 5 - Thái Nguyên đề nghị Tòa án nhân dân khu vực 5 - Thái Nguyên giải quyết theo hướng chấp nhận đề nghị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Dương Tiến T, thời hạn từ 20 đến 24 tháng.

- Tại bản tường trình và các biên bản làm việc, Dương Tiến T xác định bản thân nghiện ma tuý từ năm 2013 đến nay nhưng chưa tự cai nghiện được. Trong quá trình lập hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc, T đã được cơ quan có thẩm quyền thông báo đầy đủ về việc lập hồ sơ, được đọc hồ sơ; T không có ý kiến khiếu nại, thắc mắc gì đối với hồ sơ đề nghị và có đơn xin được vắng mặt tại phiên họp.

XÉT THẤY:

Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu có trong hồ sơ đề nghị, sau khi nghe ý kiến phát biểu của đại diện Cơ quan đề nghị, lập hồ sơ và Kiểm sát viên tham gia phiên họp, thấy rằng: Về thẩm quyền: Căn cứ khoản 2 Điều 105 Luật xử lý vi phạm hành chính; Khoản 1 Điều 3 Pháp lệnh số 03/2022/UBTVQH15 ngày 13/12/2022 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về Trình tự thủ tục xem xét, quyết định áp dụng các biện pháp xử lý hành chính tại Tòa án nhân dân; Pháp lệnh số 08/2025/UBTVQH15 ngày 27/6/2025 của UBTVQH Pháp lệnh sửa đổi, bổ sung một số điều của Pháp Lệnh thủ tục bắt giữ Tàu biển, Pháp lệnh thủ tục bắt giữ tàu bay, Pháp lệnh trình tự, thủ tục Tòa án nhân dân xem xét, quyết định việc đưa người nghiện ma tuý từ đủ 12 tuổi đến dưới 18 tuổi vào cơ sở cai nghiện bắt buộc, Pháp lệnh xử phạt vi phạm hành chính đối với hành vi cản trở hoạt động tố tụng, Pháp lệnh trình tự, thủ tục xem xét, quyết định áp dụng các biện pháp xử lý hành chính tại Tòa án nhân dân và Pháp lệnh chi phí tố tụng; Điều 9 của Nghị quyết số 04/2015/NQ-HĐTP ngày 24/12/2015 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao thì việc xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Dương Tiến T thuộc thẩm quyền của Tòa án nhân dân khu vực 5 - Thái Nguyên. Về thời hiệu: Ngày 01/6/2026 Công an xã T, tỉnh Thái Nguyên phối hợp với Trạm y tế xã T thực hiện kiểm tra chất ma tuý đối với Dương Tiến T, kết quả kiểm tra dương tính với chất ma tuý. T xác định lần sử dụng ma tuý gần nhất là ngày 01/6/2026. Do đó, việc đề nghị áp dụng biện pháp xử lý hành chính của Trưởng Công an xã T, tỉnh Thái Nguyên đối với Dương Tiến T là trong thời hiệu theo quy định tại điểm d khoản 2 Điều 6 Luật xử lý vi phạm hành chính; Điều 9 của Nghị quyết số 04/2015/NQ-HĐTP ngày 24/12/2015 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao. Về hồ sơ đề nghị: Hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Dương Tiến T đảm bảo theo đúng quy định tại Điều 96 Luật xử lý vi phạm hành chính; Điều 5, Điều 7, Điều 8 Thông tư liên tịch số 03/2025/TTLT-BCA-VKSNDTC-TANDTC quy định về xử lý một số vấn đề liên quan đến áp dụng các biện pháp xử lý hành chính đưa vào trường G, cơ sở giáo dục bắt buộc, cơ sở cai nghiện bắt buộc và biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với người nghiện ma tuý từ đủ 12 tuổi đến dưới 18 tuổi khi sắp xếp tổ chức bộ máy nhà nước và Điều 40, 41 Nghị định 116/2021/NĐ-CP ngày 21/12/2021 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều của Luật phòng, chống ma tuý, Luật Xử lý vi phạm hành chính về cai nghiện ma tuý. Nhận thấy: Dương Tiến T là người nghiện ma tuý, loại ma tuý sử dụng là H2, hình thức sử dụng là Chích. T là người nghiện ma tuý từ năm 2013 đến nay nhưng chưa cai nghiện được, lần sử dụng ma tuý gần đây nhất là ngày 01/6/2026. Ngày 01/6/2026 Công an xã T phối hợp cùng Trạm y tế xã T, tỉnh Thái Nguyên kiểm tra và xác định Dương Tiến T nghiện ma tuý. Hành vi sử dụng trái phép chất ma tuý của Dương Tiến T là trái quy định của pháp luật, xâm phạm chế độ quản lý của Nhà nước về ma tuý, làm tệ nạn ma tuý diễn biến ngày càng phức tạp, ảnh hưởng xấu đến việc phòng chống tệ nạn xã hội, nên cần thiết áp dụng biện pháp xử lý hành chính đối với T. Do T không đăng ký cai nghiện ma tuý tự nguyện hoặc đăng ký điều trị nghiện bằng thuốc thay thế nên Trưởng Công an xã T lập hồ sơ đề nghị Toà án áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với T là có cơ sở. Như vậy, đã đủ căn cứ để xác định Dương Tiến T thuộc đối tượng áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc theo khoản 1 Điều 32 Luật phòng, chống ma tuý. Xét nhân thân T và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ: Trong quá trình lập hồ sơ, T đã tự nguyện khai báo, thành khẩn thừa nhận hành vi vi phạm, nhận thức được hành vi sử dụng trái phép chất ma tuý là vi phạm pháp luật; đây được xem là tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2 Điều 9 Luật Xử lý vi phạm hành chính. T không phải chịu tình tiết tăng nặng theo quy định tại Điều 10 Luật Xử lý vi phạm hành chính. Xét tính chất, mức độ hành vi vi phạm và nhân thân của Dương Tiến T, cần thiết áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Dương Tiến T trong thời hạn từ 20 đến 24 tháng để T được cai nghiện, chữa bệnh, phục hồi sức khỏe, học tập, lao động và rèn luyện nhận thức pháp luật để sớm trở thành người có ích cho gia đình và xã hội. Đề nghị của Trưởng Công an xã T và Viện kiểm sát nhân dân khu vực 5 - Thái Nguyên là có căn cứ, cần được chấp nhận. Vì các lẽ trên; Căn cứ: Điểm d khoản 2 Điều 6, khoản 2 Điều 9, Điều 95, khoản 1 Điều 96, khoản 2 Điều 105 của Luật xử lý vi phạm hành chính; Các Điều 5, 7, 8, 11 của Thông tư liên tịch số 03/2025/TTLT-BCA-VKSNDTC-TANDTC quy định về xử lý một số vấn đề liên quan đến áp dụng các biện pháp xử lý hành chính đưa vào trường G, cơ sở giáo dục bắt buộc, cơ sở cai nghiện bắt buộc và biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với người nghiện ma tuý từ đủ 12 tuổi đến dưới 18 tuổi khi sắp xếp tổ chức bộ máy nhà nước; Khoản 1 Điều 3, các Điều 23, 30, 31, 32, 33 của Pháp lệnh số 03/2022/UBTVQH15 ngày 13/12/2022 quy định về Trình tự, thủ tục xem xét, quyết định áp dụng các biện pháp xử lý hành chính tại Tòa án nhân dân; Pháp lệnh số 08/2025/UBTVQH15 ngày 27/6/2025 sửa đổi, bổ sung; Khoản 1 Điều 32 của Luật phòng, chống ma tuý; Nghị định số 116/2021/NĐ-CP ngày 21/12/2021 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều của Luật phòng chống ma tuý, Luật xử lý vi phạm hành chính về cai nghiện ma tuý và quản lý sau cai nghiện ma tuý; Nghị quyết số 04/2015/NQ-HĐTP ngày 24/12/2015 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao.

QUYẾT ĐỊNH:

1. Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Dương Tiến T, sinh ngày 03/4/1996; Số định danh cá nhân: 019096005204; Nơi cư trú: Thôn B, xã T, tỉnh Thái Nguyên. 2. Thời gian chấp hành tại cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Dương Tiến T là 24 (hai mươi bốn) tháng, tính từ ngày 01/6/2026. Địa điểm cai nghiện bắt buộc: Cơ sở Cai nghiện ma tuý số 1 tỉnh Thái Nguyên, địa chỉ: Tổ E, phường Q, tỉnh Thái Nguyên. 3. Người bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính có quyền khiếu nại đối với Quyết định này trong thời hạn 05 ngày làm việc kể từ ngày nhận được quyết định. Cơ quan đề nghị có quyền kiến nghị, Viện kiểm sát có quyền kháng nghị đối với Quyết định này trong thời hạn 05 ngày làm việc kể từ ngày công bố quyết định. Thủ tục khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị Quyết định thực hiện theo quy định tại Điều 33 của pháp lệnh số 03/2022/UBTVQH15 ngày 13/12/2022 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về trình tự, thủ tục xem xét, quyết định áp dụng các biện pháp xử lý hành chính tại Tòa án nhân dân. 4. Quyết định này có hiệu lực kể từ ngày hết thời hạn khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị mà không có khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị. 5. Cơ quan thi hành quyết định: Cơ sở Cai nghiện ma tuý số 1 tỉnh Thái Nguyên có trách nhiệm thi hành quyết định này.

Cỡ chữ