vanban.org

Bản án 24/2026/HS-ST — Hình sự

TAND tỉnh Điện Biên Tuyên án 06/02/2026 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Các bị cáo Ngần Văn C, Cà Thị Đ phạm tội Mua bán trái phép chất ma túy.

Xử phạt bị cáo Ngần Văn C 20 năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 08/8/2025. Xử phạt bị cáo Cà Thị Đ 03 năm 06 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 08/8/2025. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Ngần Văn C và đồng phạm - phạm tội mua bán trái phép chất ma túy (điều 251 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Các bị cáo Ngần Văn C, Cà Thị Đ phạm tội Mua bán trái phép chất ma túy.
  • Căn cứ chính? Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 251 Bộ luật Hình sự; Điều 47 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH ĐIỆN BIÊN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 24/2026/HS-ST
Ngày: 06 - 02 - 2026

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐIỆN BIÊN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: bà Nguyễn Thị Hòa.

Thẩm phán: bà Bùi Thị Thu Hằng.

Các Hội thẩm nhân dân: ông Sùng A Xà,

Ông Lê Quang Nhuận,

Bà Đỗ Thị Luyến.

- Thư ký phiên tòa: bà Lê Lan Hương, Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Điện Biên.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Điện Biên tham gia phiên tòa: ông Lê Thanh Hải, Kiểm sát viên.

Ngày 06 tháng 02 năm 2026, tại Trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Điện Biên xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 24/2026/TLST-HS ngày 16 tháng 01 năm 2026, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 24/2026/QĐXXST-HS ngày 23/01/2026 của Tòa án nhân dân tỉnh Điện Biên đối với bị cáo:

1. Ngần Văn C, sinh ngày: 11/12/1997, tại tỉnh Sơn La; Nơi cư trú: bản N. xã M, tỉnh Sơn La; Số thẻ CCCD: 014097011016; Nghề nghiệp: Nông nghiệp; Trình độ văn hóa: 9/12; Dân tộc: Thái; Giới tính: Nam; Tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Ngần Văn Th, sinh năm 1979 và bà Quàng Thị X, sinh năm 1979; bị cáo chưa có vợ, con; Tiền án: không; Tiền sự: không; Nhân thân: Bị cáo chưa bị kết án và chưa bị xử lý vi phạm hành chính; Bị tạm giữ từ ngày 08/8/2025, tạm giam từ ngày 14/8/2025 cho đến nay, có mặt tại phiên tòa.

2. Cà Thị Đ, sinh ngày 08/3/1990, tại tỉnh Điện Biên; Nơi cư trú: bản C, xã T, tỉnh Điện Biên; Số thẻ CCCD: 011190001613; Nghề nghiệp: Nông nghiệp; Trình độ văn hóa: 5/12; Dân tộc: Thái; Giới tính: Nữ; Tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Cà Văn Ph (đã chết) và bà Cà Thị L (đã chết); có chồng Quàng Văn Ch, sinh năm 1989 và 02 con, con lớn sinh năm 2009, con nhỏ sinh năm 2022; Tiền án: không; Tiền sự: không; Nhân thân: Ngày 09/4/2019, bị Tòa án nhân dân huyện Tuần Giáo, tỉnh Điện Biên xử phạt 30 tháng tù về tội Mua bán trái phép chất ma túy. Ngày 28/02/2021, chấp hành xong bản án, đã được xóa án tích, bị cáo chưa bị xử lý vi phạm hành chính; Bị tạm giữ từ ngày 08/8/2025, tạm giam từ ngày 17/8/2025 cho đến nay, có mặt tại phiên tòa.

- Người bào chữa cho bị cáo Ngần Văn C: bà Mai Thị Thanh L, Trợ giúp viên pháp lý thuộc Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước tỉnh Điện Biên, có mặt.

- Người chứng kiến:

- Ông Cà Văn Ch1, sinh năm: 1984; địa chỉ cư trú: bản Chấng, xã Quài Tở, tỉnh Điện Biên, vắng mặt có lý do.

- Ông Lường Văn B, sinh năm: 1979; địa chỉ cư trú: bản Đông, xã Tuần Giáo, tỉnh Điện Biên, vắng mặt không có lý do.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Ngày 01/8/2025, bị cáo Ngần Văn C gặp 01 người nam giới dân tộc Mông khoảng 25 tuổi không quen biết tại nương sắn của gia đình ở bản N. xã M, tỉnh Sơn La. Qua nói chuyện người nam giới cho biết có ma túy bán và ghi cho bị cáo số điện thoại để liên lạc khi cần mua ma túy. Ngày 06/8/2025, khi đi chơi tại chợ trung tâm xã Tuần Giáo, tỉnh Điện Biên, bị cáo C gặp bị cáo Cà Thị Đ trú tại bản C, xã T, tỉnh Điện Biên là bạn bè quen biết trước đây. Qua cuộc nói chuyện, biết tại khu vực xã Tuần Giáo có người mua ma túy, bị cáo C hẹn bị cáo Đ, sáng ngày 08/8/2025 đến nhà nghỉ V 1, thuộc khu vực khối X, xã T, bị cáo C sẽ đưa ma túy cho bị cáo Đ mang đi bán.

Khoảng 10 giờ ngày 07/8/2025, bị cáo C gọi điện thoại cho người thanh niên dân tộc Mông quen biết vào ngày 01/8/2025 đặt vấn đề mua 18.000.000 đồng ma túy, gồm 01 túi Hồng phiến, còn lại là Heroine. Hai bên hẹn gặp nhau tại khu vực đầu bản B, xã M, tỉnh Sơn La để trao đổi mua bán ma túy; ngay sau đó, bị cáo C lấy 18.000.000 đồng cất giấu trong người rồi đi bộ đến điểm hẹn. Khi đến điểm hẹn bị cáo C gặp 01 người đàn ông đang đứng ở ven đường, bị cáo C lấy 18.000.000 đồng đưa cho người đàn ông này, người đàn ông cầm tiền và đưa lại cho bị cáo C 03 gói Heroine được bọc ngoài bằng nilon màu trắng và 01 túi nilon màu xanh bên trong có các viên Hồng phiến. Mua được ma túy, bị cáo C mang về nhà lấy toàn bộ ma túy ra cho vào một chiếc tất vải màu đen, sau đó cho vào tiếp 01 túi nilon màu trắng, lớp ngoài cùng là 01 túi nilon màu đen. Gói xong bị cáo C cất giấu số ma túy vào túi quần bên phải đang mặc.

Khoảng 17 giờ ngày 07/8/2025, bị cáo C đi xe khách đến thuê phòng tại nhà nghỉ V, xã T, tỉnh Điện Biên. Cũng vào thời gian này, bị cáo Đ mua được 100.000 đồng Heroine của một người nghiện tại khu vực bản C, xã T, tỉnh Điện Biên và sử dụng hết bằng hình thức hít.

Khoảng 05 giờ ngày 08/8/2025, bị cáo C lấy 01 gói Heroine trong chiếc tất màu đen, dùng tay bẻ lấy 03 phần nhỏ (mỗi phần to khoảng bằng nửa hạt ngô) và dùng mảnh nilon màu xanh gói lại thành 03 gói, đồng thời lấy túi Hồng phiến lấy một số viên gói vào mảnh nilon màu hồng, sau đó bị cáo C gói toàn bộ số ma túy Heroine và Hồng phiến vừa lấy ra thành một gói rồi để trên đệm giường ngủ. Số ma túy còn lại bị cáo C cất giấu trong túi quần bên phải đang mặc. Khoảng 06 giờ ngày 08/8/2025, bị cáo Cà Thị Đ đi xe ôm từ nhà đến gặp bị cáo C tại phòng nghỉ số 107, tầng 2 của nhà nghỉ V. Khi gặp nhau, bị cáo C lấy gói ma túy để trên đệm giường ngủ (bên trong gồm có 03 gói Heroine bọc bằng nilon màu xanh và 01 gói Hồng phiến bọc bằng nilon màu hồng) đưa cho bị cáo Đ và nói 01 gói Heroine bán 1.000.000 đồng /01 gói; gói Hồng phiến bán 300.000 đồng tổng là 3.300.000 đồng; bị cáo C bảo bị cáo Đ khi nào bán được ma túy thì mang tiền trả cho bị cáo C. Khoảng 12 giờ 40 phút cùng ngày, bị cáo Đ cầm số ma túy bị cáo C đưa và đi về, mục đích có ai hỏi thì sẽ bán; Heroine bán với giá 1.200.000 đồng và gói Hồng phiến bán với giá 400.000 đồng. Khi bị cáo Đ đang đi bộ đến khu vực khối S, xã T thì bị tổ công tác Công an tỉnh phát hiện bắt quả tang, thu giữ trên tay phải bị cáo Cà Thị Đ 2,04 gam Heroine và 0,92 gam Methamphetamine. Khoảng 13 giờ cùng ngày, bị cáo C dùng tay bẻ 01 ít Heroine (khoảng bằng hạt ngô) trong số Heroine còn lại sử dụng bằng hình thức hít, sử dụng xong ma túy bị cáo ngồi nghỉ tại giường. Trong lúc bị cáo C đang ngồi tại giường ở phòng nghỉ thì bị tổ công tác Công an tỉnh Điện Biên phát hiện bắt quả tang, thu giữ trong túi quần bên phải của bị cáo C đang mặc 03 gói Heroine có tổng khối lượng 91,66 gam và 01 túi Methamphetamine có khối lượng 16,53 gam.

Tại bản Kết luận giám định số 819/KL-KTHS ngày 15/8/2025 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Điện Biên kết luận: Vật chứng thu giữ của Ngần Văn C ký hiệu H1, H2, H3 có tổng khối lượng 91,66 gam chất màu trắng dạng cục và dạng bột là chất ma túy: Loại Heroine hoàn lại sau giám định là 81,9 gam Heroine và các viên nén màu hồng ký hiệu M có tổng khối lượng 16,53 gam là chất ma túy: Loại Methamphetamine, hoàn lại sau giám định là 13,4 gam Methamphetamine.

Tại bản Kết luận giám định số 818/KL-KTHS ngày 15/8/2025 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Điện Biên kết luận: Vật chứng thu giữ của Cà Thị Đ ký hiệu M1, M2, M3 có tổng khối lượng 2,04 gam chất màu trắng dạng cục và dạng bột là chất ma túy: Loại Heroine hoàn lại sau giám định là 1,67 gam Heroine và các viên nén màu hồng ký hiệu M có tổng khối lượng 0,92 gam là chất ma túy: Loại Methamphetamine, hoàn lại sau giám định là 0,49 gam Methamphetamine.

Cáo trạng số 23/CT-VKSĐB-P1 ngày 14/01/2026 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Điện Biên truy tố bị cáo Ngần Văn C về tội Mua bán trái phép chất ma túy theo quy định tại điểm h khoản 4 Điều 251 của Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017 và năm 2025; truy tố bị cáo Cà Thị Đ về tội Mua bán trái phép chất ma túy theo quy định tại khoản 1 Điều 251 của Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017 và năm 2025.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Điện Biên giữ nguyên quan điểm truy tố các bị cáo Ngần Văn C, Cà Thị Đ đề nghị Hội đồng xét xử sơ thẩm như sau: Tuyên bố bị cáo Ngần Văn C, Cà Thị Đ phạm tội Mua bán trái phép chất ma túy. Áp dụng điểm h khoản 4 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 và năm 2025, xử phạt bị cáo Ngần Văn C 20 năm tù. Áp dụng khoản 1 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 và năm 2025, xử phạt bị cáo Cà Thị Đ từ 03 năm đến 03 năm 06 tháng tù.

Không áp dụng hình phạt bổ sung theo quy định tại khoản 6 Điều 251 của Bộ luật Hình sự đối với các bị cáo.

Về vật chứng của vụ án, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điều 47 của Bộ luật Hình sự, Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự để xử lý vật chứng như sau: tịch thu tiêu hủy: 81,9 gam Heroine và 13,89 gam Methamphetamine vật chứng còn lại sau khi giám định; 03 mảnh nilon màu xanh và 02 mảnh nilon màu hồng dùng để gói vật chứng ban đầu; 01 vỏ phong bì cũ dùng để niêm phong vật chứng thu giữ của Cà Thị Đ; 01 túi nilon màu đen, đã qua sử dụng; 01 túi nilon màu trắng, đã qua sử dụng; 01 chiếc tất vải màu đen, đã qua sử dụng; 01 túi nilon màu xanh miệng túi có nẹp nhựa, đã qua sử dụng; 03 mảnh nilon màu trắng đều đã qua sử dụng. Tịch thu sung ngân sách nhà nước 01 điện thoại di động màn hình cảm ứng nhãn hiệu Redmi thu giữ của bị cáo C.

Về án phí, đề nghị áp dụng Điều 135, Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm đ khoản 1 Điều 12 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, miễn án phí hình sự sơ thẩm cho các bị cáo.

Người bào chữa cho bị cáo Ngần Văn C không có ý kiến tranh luận về tội danh và điều luật mà Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Điện Biên đã truy tố. Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét: bị cáo phạm tội do hoàn cảnh gia đình khó khăn, gia đình thuộc hộ nghèo, sinh sống tại vùng có điều kiện kinh tế xã hội khó khăn, do hám lợi, quá trình điều tra, truy tố, xét xử bị cáo thành khẩn khai báo về toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Do đó, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét áp dụng điểm h khoản 4 Điều 251, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 17, Điều 58, Điều 38 của Bộ luật Hình sự, xem xét xử phạt bị cáo mức thấp nhất của khung hình phạt. Đồng thuận với ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh về hình phạt bổ sung, án phí và xử lý vật chứng.

Người chứng kiến ông Cà Văn Ch1 trình bày tại cơ quan điều tra: Vào hồi 12 giờ 40 phút ngày 08/8/2025, tại khối S, xã T, tỉnh Điện Biên tôi được Tổ công tác Phòng CSĐT tội phạm về ma túy Công an tỉnh Điện Biên mời chứng kiến việc Tổ công tác lập biên bản bắt người phạm tội quả tang đối với Cà Thị Đ. Tổ công tác kiểm tra phát hiện trong lòng bàn tay phải của Cà Thị Đ 01 túi nilon màu hồng bên trong có 04 gói nilon trong đó có 03 gói nilon màu xanh bên trong có chứa chất màu trắng dạng cục và bột, 01 gói nilon màu hồng bên trong có các viên nén màu hồng trên một mặt các viên nén có ký hiệu WY. Tôi nghe thấy Cà Thị Đ khai nhận với Tổ công tác đó là các gói Heroine và ma túy tổng hợp của Cà Thị Đ đang mang đi bán tìm kiếm lợi nhuận. Tổ công tác đã lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, thu giữ vật chứng theo quy định của pháp luật. Quá trình lập biên bản với Cà Thị Đ khách quan, việc khai báo là tự nguyện không bị ai đánh đập, ép buộc.

Người chứng kiến ông Lường Văn B trình bày tại cơ quan điều tra: Vào hồi 13 giờ 30 phút, ngày 08/8/2025, tôi được Tổ công tác Phòng Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy Công an tỉnh Biên Điện mời chứng kiến việc tổ công tác lập biên bản bắt người phạm tội quả tang đối với Ngần Văn C tại nhà nghỉ Vthuộc Khối S, xã T, tỉnh Điện Biên. Tổ công tác kiểm tra phát hiện thu giữ trong túi quần bên phải của Ngần Văn C có 01 túi nilon màu đen, tiếp là túi nilon màu trắng bên trong là 01 chiếc tất vải màu đen, bên trong chiếc tất có 03 gói Heroine đều được gói bằng nilon màu trắng, miệng được buộc thắt nút và 01 túi nilon màu xanh bên trong có chứa các viên Hồng phiến. Tôi nghe thấy Ngần Văn C khai nhận đó là số ma túy của C mục đích để sử dụng cho bản thân và bán. Tổ công tác đã lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, thu giữ vật chứng trên đối với Ngần Văn C theo quy định của pháp luật. Ngoài ra tổ công tác còn thu giữ thêm 01 chiếc điện thoại màu xanh đen, loại cảm ứng, nhãn hiệu REDMI, C khai điện thoại để liên lạc khi đi mua ma tuý. Quá trình lập biên bản với C khách quan, việc khai báo là tự nguyện không bị ai đánh đập, ép buộc.

Trong phần tranh luận: đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Điện Biên và người bào chữa cho bị cáo C không tranh luận đối đáp về nội dung gì. Tại phiên tòa, các bị cáo khai nhận hành vi phạm tội của mình, không tranh luận gì với đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh về tội danh cũng như hình phạt; trong lời nói sau cùng các bị cáo xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh Điện Biên, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân khu vực 3 – Điện Biên, Kiểm sát viên; Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Điện Biên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện theo đúng quy định về thẩm quyền, trình tự, thủ tục, các quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo, Người bào chữa cho bị cáo C và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Về hành vi phạm tội của các bị cáo

Qua tranh tụng công khai tại phiên tòa các bị cáo khai nhận thống nhất: nhằm mục đích sử dụng và bán kiếm lời: ngày 07/8/2025, bị cáo C mua được 03 gói Heroine và 01 túi Methamphetamine của người thanh niên dân tộc Mông không quen biết với giá 18.000.000 đồng. Khoảng 06 giờ ngày 08/8/2025, tại phòng nghỉ số 107, tầng 2 của nhà nghỉ V, bị cáo C chia tách ma túy và bán cho bị cáo Cà Thị Đ 03 gói nhỏ Heroine + 01 gói Hồng phiến với giá là 3.300.000 đồng, hai bên giao hẹn khi nào bị cáo Đ bán được ma túy thì sẽ trả tiền cho bị cáo C; số ma túy còn lại bị cáo C cất giấu trong túi quần đang mặc với mục đích sử dụng và tiếp tục bán nếu có ai hỏi mua. Khi đang trên đường đi bán, bị cáo Đ bị Tổ công tác Công an tỉnh phát hiện bắt quả tang, thu giữ trên tay phải bị cáo Cà Thị Đ 2,04 gam Heroine và 0,92 gam Methamphetamine. Khám xét phòng nghỉ của bị cáo C, tổ công tác phát hiện bắt quả tang, thu giữ trong túi quần bên phải của bị cáo C 91,66 gam Heroine và 16,53 gam Methamphetamine. Lời khai của các bị cáo phù hợp với nhau và phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang (BL 01-02; BL 03-04); biên bản niêm phong đồ vật, tài liệu (BL 55, BL 66); biên bản mở niêm phong và xác định khối lượng lấy mẫu giám định chất ma túy và niêm phong lại vật chứng (BL 56, BL 67-68); kết luận giám định (BL 59, BL 71); biên bản ghi lời khai của người chứng kiến Cà Văn Ch1, Lường Văn B (BL 221, BL 223) và phù hợp với các chứng cứ khác của vụ án. Như vậy, có đủ cơ sở để xác định các bị cáo Ngần Văn C, Cà Thị Đ đã thực hiện hành vi mua bán trái phép chất ma túy với tổng khối lượng 02 chất ma túy là 2,96 gam (Heroine 2,04 gam và 0,92 gam Methamphetamine); bị cáo C còn phải chịu trách nhiệm hình sự đối với 108,19 gam ma túy (bao gồm 91,66 gam Heroine và 16,53 gam Methamphetamine). Khối lượng 02 chất ma túy các bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự như sau: bị cáo Ngần Văn C là 110,15 gam, bị cáo Cà Thị Đ là 2,96 gam; hành vi của các bị cáo gây nguy hại đặc biệt lớn cho xã hội, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm h khoản 4 Điều 251 và khoản 1 Điều 251 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 và năm 2025. Cáo trạng số 23/CT-VKS-P1 ngày 14/01/2026, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Điện Biên truy tố các bị cáo về tội danh, điểm, khoản, điều luật áp dụng là có căn cứ, Hội đồng xét xử chấp nhận.

Về tính chất, mức độ hành vi phạm tội; vai trò của các bị cáo

Các bị cáo có đầy đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự và nhận thức rõ hành vi của mình bị Nhà nước nghiêm cấm. Hành vi của các bị cáo xâm phạm chính sách thống nhất quản lý của Nhà nước về chất ma túy mà trực tiếp là hoạt động mua bán chất ma túy. Hành vi của các bị cáo là một trong các nguyên nhân gây mất trật tự, an toàn xã hội tại địa phương, làm gia tăng tội phạm ma túy. Các bị cáo nhận thức đầy đủ việc Nhà nước cấm tất cả các hành vi mua bán, tàng trữ, vận chuyển trái phép các chất ma túy, biết tác hại của ma túy với đời sống sức khỏe của con người, nhưng vẫn cố ý thực hiện hành vi phạm tội nhằm mục đích thỏa mãn nhu cầu ma túy của bản thân và tìm kiếm lợi nhuận. Các bị cáo phạm tội thuộc trường hợp giản đơn, tham gia với vai trò thực hành.

Xét nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ của các bị cáo

Các bị cáo đều là dân tộc Thái, sinh ra và cư trú tại địa bàn có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn; bản thân được gia đình tạo điều kiện cho đi học tập văn hóa, bị cáo C học hết lớp 9/12, bị cáo Đ 05/12; bị cáo C chưa có tiền án, tiền sự; bị cáo Đ đã có 01 lần bị Tòa án kết án về tội Mua bán trái phép chất ma túy vào năm 2019 với mức hình phạt 30 tháng tù, bị cáo chấp hành án đến năm 2021 thì được ra trại, tính đến thời điểm phạm tội lần này đã được xóa án tích; quá trình điều tra, truy tố, xét xử, các bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Hội đồng xét xử chấp nhận đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Điện Biên và Người bào chữa cho bị cáo C áp dụng tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự cho các bị cáo.

Về hình phạt chính

Từ các phân tích tại các đoạn [1], [2], [3], Hội đồng xét xử thấy cần thiết phải xử phạt các bị cáo mức hình phạt phù hợp với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của mỗi bị cáo. Đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Điện Biên và Người bào chữa cho bị cáo C về hình phạt chính là có căn cứ Hội đồng xét xử chấp nhận.

Về hình phạt bổ sung

Căn cứ vào biên bản xác minh tài sản và qua tranh tụng tại phiên tòa cho thấy, gia đình các bị cáo không có tài sản gì giá trị; gia đình bị cáo C thuộc hộ nghèo, các bị cáo không có thu nhập thường xuyên, đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Điện Biên và Người bào chữa cho bị cáo C đều đề nghị Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản theo quy định tại khoản 6 Điều 251 của Bộ luật Hình sự đối với các bị cáo là phù hợp Hội đồng xét xử chấp nhận.

Các vấn đề khác của vụ án

Ngày 08/8/2025, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Điện Biên tiến hành Test ma túy đối với bị cáo Cà Thị Đ và bị cáo Ngần Văn C. Kết quả các bị cáo đều dương tính với ma túy. Tuy nhiên, không thuộc trường hợp quy định tại khoản 1 Điều 256a Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 và năm 2025; do đó, ngày 29/12/2025, Phòng Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy, Công an tỉnh Điện Biên đã ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 30/QĐ-XPHC đối với bị cáo Ngần Văn C và Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 31/QĐ-XPHC đối với bị cáo Cà Thị Đ về hành vi Sử dụng trái phép chất túy, bằng hình thức Cảnh cáo là thỏa đáng, Hội đồng xét xử chấp nhận.

Theo lời khai của bị cáo Ngần Văn C, người đàn ông dân tộc Mông bán ma túy cho bị cáo C sử dụng số điện thoại 0862.797.169. Kết quả điều tra chủ thuê bao số điện thoại 0862.797.169 là ông Lê Bá V, sinh năm 1963, địa chỉ: H, L, thành phố T, tỉnh Thanh Hóa (nay là tổ dân phố N, phường Đ, tỉnh Thanh Hóa); tại thời điểm xác minh ông Lê Bá V đang điều trị bệnh tâm thần, ông Vh cũng không đăng ký và sử dụng số điện thoại 0862.797.169, do đó Cơ quan điều tra không có căn cứ đề xử lý.

Đối với người nam giới bán ma túy cho bị cáo C, Cơ quan CSĐT không xác định được người cụ thể, không đề cập xử lý trong vụ án, Hội đồng xét xử không đặt vấn đề xem xét.

Về vật chứng: áp dụng điểm a, điểm c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự:

- 81,9 gam Heroine và 13,4 gam Methamphetamine thu giữ của bị cáo Ngần Văn C, đã trừ mẫu vật giám định; 1,67 gam Heroine và 0,49 gam Methamphetamine thu giữ của bị cáo Cà Thị Đ, đã trừ mẫu vật giám định là vật nhà nước cấm lưu hành và không có giá trị cần tịch thu tiêu hủy.

- 03 mảnh nilon màu xanh và 02 mảnh nilon màu hồng dùng để gói vật chứng ban đầu và 01 vỏ phong bì cũ dùng để niêm phong vật chứng thu giữ của Cà Thị Đ; 01 túi nilon màu đen, đã qua sử dụng; 01 túi nilon màu trắng, đã qua sử dụng; 01 chiếc tất vải màu đen, đã qua sử dụng; 01 túi nilon màu xanh miệng túi có nẹp nhựa, đã qua sử dụng; 03 mảnh nilon màu trắng, đã qua sử dụng là vật không có giá trị cần tịch thu tiêu hủy.

- 01 chiếc điện thoại di động màn hình cảm ứng, nhãn hiệu REDMI, màu: xanh, đen, đã qua sử dụng thu giữ của bị cáo Ngần Văn C thuộc sở hữu hợp pháp của bị cáo C, bị cáo C sử dụng vào việc phạm tội cần tịch thu nộp vào ngân sách nhà nước.

Về án phí:

Các bị cáo Ngần Văn C, Cà Thị Đ sinh sống ở vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn; bị cáo Ngần Vănn Chung thuộc hộ nghèo. Căn cứ khoản 1, khoản 2 Điều 135; khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, Hội đồng xét xử thấy cần miễn án phí hình sự sơ thẩm cho các bị cáo.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1, điểm h khoản 4 Điều 251 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 và năm 2025,

1. Tuyên bố:

Các bị cáo Ngần Văn C, Cà Thị Đ phạm tội Mua bán trái phép chất ma túy.

Áp dụng điểm h khoản 4 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 38 của Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Ngần Văn C; áp dụng khoản 1 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 38 của Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Cà Thị Đ xử phạt như sau:

- Xử phạt bị cáo Ngần Văn C 20 năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 08/8/2025.

- Xử phạt bị cáo Cà Thị Đ 03 năm 06 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 08/8/2025.

2. Về xử lý vật chứng: áp dụng điểm a, điểm c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự, xử lý như sau:

* Tịch thu tiêu hủy các vật sau:

- 01 phong bì niêm phong bằng phong bì của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Điện Biên. Mặt trước phong bì niêm phong có chữ viết tay: Mẫu vật hoàn lại theo Kết luận giám định số: 819/KL-KTHS ngày 15/8/2025 của Phòng KTHS - CAT Điện Biên. Khối lượng H1: 34,7 gam; H2: 14,6 gam; H3: 32,6 gam, M: 13,4 gam. Mặt sau phong bì niêm phong có chữ ký, họ tên của Trần Thanh T, Phan Văn Ch và 03 hình dấu của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Điện Biên. Phong bì niêm phong dán một lớp băng dính trong suốt.

- 01 phong bì niêm phong bằng phong bì của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Điện Biên. Mặt trước phong bì có chữ viết tay: Mẫu vật hoàn lại theo kết luận giám định số: 818/KL-KTHS ngày 15/8/2025, của Phòng KTHS – CAT Điện Biên. Khối lượng M1: 0,49 gam; M2: 0,65 gam; M3: 0,53 gam; M4: 0,49 gam. Mặt sau của phong bì có chữ ký, họ tên của Nguyễn Thúy M, Cà Văn V và 03 hình dấu của Phòng KTHS Công an tỉnh Điện Biên. Phần mép dán của phong bì niêm phong dán một lớp băng dính trong suốt.

- 01 phong bì, mặt trước phong bì in chữ đánh máy: Vật chứng, đồ vật, tài liệu còn lại vụ: Cà Thị Đ, sinh năm: 1990, trú tại bản C, xã T, tỉnh Điện Biên. Bị tổ Công tác Phòng Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy Công an tỉnh Điện Biên bắt quả tang vào ngày 08/8/2025, tại Khối S, xã T, tỉnh Điện Biên. Hành vi: Mua bán trái phép chất ma túy. Vật chứng, đồ vật, tài liệu còn lại gồm: 03 mảnh nilon màu xanh và 02 mảnh nilon màu hồng dùng để gói vật chứng ban đầu và 01 vỏ phong bì cũ dùng để niêm phong vật chứng thu giữ của Cà Thị Đ.

- 01 túi nilon màu đen, đã qua sử dụng.

- 01 túi nilon màu trắng, đã qua sử dụng.

- 01 chiếc tất vải màu đen, đã qua sử dụng.

- 01 túi nilon màu xanh miệng túi có nẹp nhựa, đã qua sử dụng

- 03 mảnh nilon màu trắng, đã qua sử dụng.

* Tịch thu nộp vào ngân sách nhà nước: 01 chiếc điện thoại di động màn hình cảm ứng, nhãn hiệu REDMI, màu: xanh, đen, đã qua sử dụng thu giữ của bị cáo Ngần Văn C.

(Theo biên bản giao, nhận vật chứng giữa Cơ quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh Điện Biên và Thi hành án dân sự tỉnh Điện Biên ngày 15/01/2026)

3. Về án phí: áp dụng khoản 1, khoản 2 Điều 135; khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm đ khoản 1 Điều 12 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Toà án, miễn án phí hình sự sơ thẩm cho các bị cáo Ngần Văn C, Cà Thị Đ.

4. Về quyền kháng cáo: áp dụng Điều 331; Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự.

Các bị cáo Ngần Văn C, Cà Thị Đ có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án./.

Cỡ chữ