vanban.org

Bản án 24/2026/HS-ST — Hình sự

Tòa án nhân dân khu vực 8 - Hà Nội, TP. Hà Nội Tuyên án 27/01/2026 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Xuân S 42 (Bốn mươi hai) tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 16/9/2025.

Tịch thu tiêu hủy 01 bao gói chứa ma tuý, sau khi giám định đã được Phòng kỹ thuật hình sự Công an thành phố Hà Nội niêm phong. (Vật chứng hiện lưu giữ tại Thi hành án dân sự Khu vực 8 - Hà Nội theo Biên bản giao nhận vật chứng ngày 21/01/2026). Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "NXS - Tàng trữ trái phép chất ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015…"
  • Tòa quyết gì? Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Xuân S 42 (Bốn mươi hai) tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 16/9/2025.
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 8 – HÀ NỘI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 24/2026/HS-ST
Ngày: 27/01/2026

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN KHU VỰC 8 - HÀ NỘI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Hoàng Xuân Tuân

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Đỗ Xuân Trường

Bà Bùi Thị Bích Phượng

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Ngọt - Thẩm tra viên chính Tòa án nhân dân Khu vực 8 - Hà Nội.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 8 - Hà Nội tham gia phiên tòa: Ông Đỗ Thanh Hà - Kiểm sát viên.

Ngày 27 tháng 01 năm 2026, tại trụ sở Tòa án nhân dân Khu vực 8 - Hà Nội xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 149/2025/TLST-HS ngày 23 tháng 12 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 02/2026/QĐXXST-HS ngày 12 tháng 01 năm 2026, đối với:

- Bị cáo: Nguyễn Xuân S, sinh năm 1996; tại thành phố Hà Nội; HKTT và nơi cư trú: Thôn R, xã Đ, thành phố Hà Nội; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: Lớp 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Xuân D và bà Bùi Thị T; có vợ và có 03 con, con lớn sinh năm 2018, con nhỏ sinh năm 2022; tiền án, tiền sự: Không; danh bản, chỉ bản số 5189 lập ngày 19/9/2025 của Công an thành phố Hà Nội; bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 16/9/2025 đến nay; có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Do có nhu cầu sử dụng ma túy, khoảng 20 giờ 30 phút ngày 15/9/2025, Nguyễn Xuân S đi bộ từ nhà ở thôn R, xã Đ, thành phố Hà Nội đến khu vực gần cầu X thuộc thôn X, xã Đ, thành phố Hà Nội để tìm mua ma túy. Tại đây S gặp một người đàn ông (không rõ nhân thân lai lịch) đang đứng ven đường, S đến hỏi mua 500.000 đồng ma túy “đá” thì người đàn ông này đồng ý và đưa cho S 01 túi vải màu trắng bên trong có 01 túi nilon nhỏ màu trắng chứa tinh thể mà trắng. S cầm số ma túy vừa mua được trong lòng bàn tay trái rồi đi bộ về khu vực Cát Q, xã DH, thành phố Hà Nội để tìm nơi sử dụng. Đến khoảng 21 giờ 30 phút, cùng ngày khi Nguyễn Xuân S đang đi bộ đên đường tỉnh lộ 422 (đoạn đối diện cây xăng Quế D) thuộc thôn X, xã DH, thành phố Hà Nội thì bị lực lượng công an xã DH tiến hành kiểm tra, lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, thu giữ tang vật dẫn giải về trụ sở để làm việc.

Quá trình kiểm tra, Tổ công tác phát hiện và thu giữ ở 01 túi vải màu xám, trắng, kích thước khoảng (8,5-8,5) cm, miệng túi có dây rút màu nâu, trên bề mặt túi có in logo hình tròn màu đỏ bên trong túi vải chứa 01 túi nilon màu trắng kích thước (3x4) cm trong chứa các hạt tinh thể màu trắng.

Tại bản Kết luận giám định số 6270/KL-KTHS ngày 25/9/2025 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an thành phố Hà Nội, kết luận:

Tinh thể màu trắng bên trong chứa 01 túi nilon là ma túy loại Methamphetamine, có khối lượng 0.420 gam.

Quá trình điều tra đã xác định: Khoảng 21 giờ 30 phút, ngày 15/9/2025, do có nhu cầu sử dụng ma túy nên Nguyễn Xuân S đã tìm mua của một người đàn ông không rõ tên tuổi lai lịch để mua 500.000 đồng ma túy loại Methamphetamine. S đi đến đoạn đối diện cây xăng Quế D trên đường tỉnh lộ X tìm nơi sử dụng thì bị phát hiện và bắt giữ.

Bản Cáo trạng số 74/CT-VKS-ĐP ngày 22 tháng 12 năm 2025, Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 8 – Hà Nội truy tố bị cáo Nguyễn Xuân S về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo qui định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Xuân S khai nhận hành vi đã thực hiện như nội dung nêu trên. Bị cáo cũng trình bày bản thân đã nhận thức hành vi của mình là sai pháp luật nên đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 8 – Hà Nội tại phiên tòa giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo Nguyễn Xuân S về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn Xuân S từ 42 tháng tù đến 48 tháng tù. Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

Căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự, Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự, tịch thu tiêu hủy 01 bao gói chứa ma túy đã niêm phong sau khi giám định. Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo qui định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên; Viện kiểm sát, Kiểm sát viên: Trong quá trình điều tra và truy tố, Cơ quan điều tra, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân, Kiểm sát viên đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện là hợp pháp.

Tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Xuân S thành khẩn khai nhận hành vi của mình như nội dung cáo trạng đã truy tố. Lời khai nhận của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra, được chứng minh bằng lời khai người làm chứng, vật chứng và các tài liệu điều tra khác có trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử có đủ căn cứ xác định: Do có nhu cầu sử dụng ma túy, nên Nguyễn Xuân S đã mua 01 gói ma túy ma túy loại Methamphetamine, có khối lượng 0.420 gam. Nguyễn Xuân S đang tìm nơi để sử dụng thì thì bị phát hiện và bắt giữ. Hành vi trên của bị cáo đã đủ các yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”. Khối lượng ma túy Methaphetamine thu giữ của bị cáo là 0.420 gam nên hành vi của bị cáo thuộc điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự. Do đó, Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 8 – Hà Nội truy tố bị cáo về tội danh và điều luật đã viện dẫn trong bản cáo trạng là có căn cứ, đúng pháp luật.

Xét tính chất của vụ án là nghiêm trọng. Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm chính sách độc quyền của nhà nước về quản lý các chất ma túy. Ma túy còn là một trong những nguyên nhân dẫn đến việc phát sinh tội phạm hình sự và tệ nạn xã hội, gây mất trật tự trị an xã hội. Do đó, cần phải có hình phạt nghiêm, cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội để cải tạo, giáo dục bị cáo và phòng ngừa tội phạm nói chung.

Khi quyết định hình phạt, Hội đồng xét xử cũng xem xét: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại Điều 52 của Bộ luật hình sự. Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo đều thành khẩn khai báo nên áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Ngoài ra, bị cáo có nhân thân tốt, chưa có tiền án và tiền sự, lần đầu phạm tội nên xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt.

Theo qui định của Bộ luật hình sự thì ngoài hình phạt chính điều luật còn quy định hình phạt bổ sung là phạt tiền, xét thấy bị cáo Nguyễn Xuân S là người lao động tự do, thu nhập không ổn định nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung.

Về nguồn gốc số ma túy thu giữ khi phát hiện, bắt giữ và thu của Nguyễn Xuân S, bị cáo khai mua của người đàn ông (không rõ nhân thân, địa chỉ) đang đứng ở ven đường. Quá trình điều tra, Cơ quan điều tra đã tiến hành điều tra nhưng không làm rõ được nhân thân của đối tượng bán ma túy nêu trên nên không có căn cứ để xem xét, xử lý.

Về vật chứng vụ án: Tịch thu tiêu hủy số ma túy thu giữ được của bị cáo Nguyễn Xuân S, sau khi giám định đã được Cơ quan giám định niêm phong trong 01 bao gói.

Án phí, quyền kháng cáo: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo qui định tại Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự và điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Bị cáo có quyền kháng cáo theo quy định tại Điều 331, Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật hình sự.

Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Xuân S 42 (Bốn mươi hai) tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 16/9/2025.

2. Căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:

Tịch thu tiêu hủy 01 bao gói chứa ma tuý, sau khi giám định đã được Phòng kỹ thuật hình sự Công an thành phố Hà Nội niêm phong.

(Vật chứng hiện lưu giữ tại Thi hành án dân sự Khu vực 8 - Hà Nội theo Biên bản giao nhận vật chứng ngày 21/01/2026).

3. Căn cứ Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Bị cáo Nguyễn Xuân S phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

4. Căn cứ Điều 331, Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự: Bị cáo Nguyễn Xuân S có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự./.

Cỡ chữ