vanban.org

Bản án 24/2026/HS-ST — Hình sự

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

* Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Bá T phạm tội “Sử dụng trái phép chất ma túy”.

* Căn cứ vào: khoản 1 Điều 256a; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38; của Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi năm 2017, năm 2025); Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Bá T 2 ( Hai) năm 6 ( S) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giữ là ngày 09/12/2025. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Bá T - Sử dụng trái phép chất ma túy - sử dụng trái phép chất ma túy (điều 256a Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2025)"
  • Tòa quyết gì? * Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Bá T phạm tội “Sử dụng trái phép chất ma túy”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 4 -THANH HÓA

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 24/2026/HS-ST
Ngày 09 tháng 02 năm 2026

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 4 – THANH HÓA

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Cao Hồng Đức

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Lê Trọng Tiến và bà Đỗ Thị Vân

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Binh - Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 4 – Thanh Hóa

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 4 – Thanh Hóa tham gia phiên tòa: Ông Dương Văn Tuấn - Kiểm sát viên

Ngày 09 tháng 02 năm 2026, tại Trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 4 - Thanh Hóa (Cơ sở 2), xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 15/2026/TLST-HS ngày 22 tháng 01 năm 2026 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 28/2026/QĐXXST-HS ngày 29 tháng 01 năm 2026 đối với:

Bị cáo Nguyễn Bá T sinh ngày 22/8/1984; CCCD 038084035496

Nơi ĐKTT và nơi ở: thôn A, xã H, tỉnh Thanh Hóa; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 12/12; Bố: Nguyễn Bá T1, (Đã chết); Mẹ: Lê Thị O, sinh năm 1960;

Gia đình có 03 anh em, T là con đầu; Vợ: Nguyễn Thị M, sinh năm 1986; Nghề nghiệp: Công nhân; Con: có 03 con, lớn nhất sinh năm 2007, nhỏ nhất sinh năm 2020.

Tiền án: Không.

Tiền sự: Không.

Nhân thân:

+ Ngày 04/3/2021, Công an huyện H xử phạt VPHC (phạt tiền) về hành vi "Tàng trữ trái phép chất ma túy" (đã chấp hành xong quyết định).

+ Ngày 14/10/2022, Công an huyện H xử phạt VPHC (phạt tiền) về hành vi: "Tàng trữ trái phép chất ma túy" (Bị cáo có khó khăn về kinh tế nên chưa chấp hành quyết định). Hiện đã hết thời hiệu thi hành quyết định.

- Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 09/12/2025. Hiện đang tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh T (Phân trại tạm giam Hoằng Hoá).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Ngày 09/12/2025, thực hiện kế hoạch 436/KH-CAT-PC04 của Công an tỉnh T về rà soát người nghiện ma tuý; Kế hoạch số 285/KH-CAT-PV01 về tuần tra vũ trang, Tổ tuần tra Công an xã H tiến hành tuần tra kiểm danh, kiểm diện và test ma túy đối với đối tượng Nguyễn Bá T, SN 1984 ở thôn A, xã H, tỉnh Thanh Hóa (là đối tượng đang trong diện điều trị nghiện ma túy bằng thuốc thay thế Methadone tại Trung tâm y tế H). Kết quả Nguyễn Bá T dương tính với ma tuý, loại: Heroin. Nguyễn Bá T xin đầu thú và khai nhận hành vi đã sử dụng ma tuý vào ngày 07/12/2025 như sau;

Khoảng 17 giờ 30 phút ngày 07/12/2025, T đi làm ở công ty T3 về, có gặp một thanh niên cao khoảng 1,7m, đi xe máy loại xe tay ga, màu đen, không gắn biển kiểm soát, đang dựng kiểm tra xe ở lề đường thuộc khu vực thôn E, xã H, tỉnh Thanh Hóa, ngay chỗ rẽ ra đường ruộng vào gốc gạo. T dừng lại hỏi thì người này nói bị chuột chui vào xe, T dừng lại lấy cành cây gõ vào phần nhựa để chuột chạy ra, khi nói chuyện thì người này nói tên là T2, biết T2 cũng là người nghiện chất ma tuý nên T hỏi T2: “có hàng (ý hỏi có ma tuý) không để cho cái” thì T2 nói “tiền đâu”, T bảo anh chỉ còn 250.000đ thôi, T2 nói thế sao được, T bảo để anh ít thôi. cũng được, đồng thời móc túi đưa cho T2 250.000đ T2 bảo nhưng chỉ được ít thôi, T2 lên xe đi khoảng 20 phút sau quay lại đưa cho T 1 xilanh có dung dịch ma tuý đã pha sẫn bên trong rồi lên xe bỏ đi về phía đường T. T cầm xilanh chứa dung dịch ma tuý T2 mới đưa, đi vào gốc gạo rồi tự tiêm dung dịch qua đường tĩnh mạch vào tay mình. Sau đó vứt xilanh vào đống rác đang cháy ở gần đó rồi lên xe đi về nhà. (BL 125-127).

Nguyễn Bá T là người nghiện chất ma tuý, đang điều trị các chất dạng thuốc phiện bằng thuốc thay thế (M) tại Trung tâm y tế H theo quyết định số 316/QĐ-UBND ngày 26/8/2025 của Chủ tịch UBND xã H. (BL 51 - 53).

Ngày 09/12/2025 Cơ quan CSĐT Công an tỉnh T Quyết định trưng cầu giám định số 20016/QĐ-CSMT trưng cầu Phòng K Công an tỉnh T giám định chất ma túy trong nước tiểu thu của Nguyễn Bá T. Ngày 11/12/2025, Phòng K Công an tỉnh T có Kết luận giám định số 4757/KL-KTHS, nội dung kết luận như sau:

- Tìm thấy chất ma túy, loại: Morphine, C, M1 và sản phẩm chuyển hoá của M1 trong mẫu nước tiểu của Nguyễn Bá T gửi đến giám định.

- Morphine và C là sản phẩm chuyển hóa của chất ma túy nhóm O1 (Thuốc phiện, Heroin….) trong cơ thể.

Vật chứng vụ án: Dụng cụ Nguyễn Bá T dùng để sử dụng ma túy là một xilanh chứa dung dịch ma tuý, sau khi sử dụng T đã ném vào đống rác đang cháy, Cơ quan CSĐT Công an tỉnh T đã truy tìm nhưng không thu giữ được vật chứng.

Mẫu nước tiểu của Nguyễn Bá T đã sử dụng hết trong quá trình test, giám định.

Tại Cáo trạng số 64/CT-VKSKV4 ngày 21/01/2026, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân khu vực 4 – Thanh Hóa đã truy tố bị cáo Nguyễn Bá T về tội “Sử dụng trái phép chất ma túy” theo khoản 1 Điều 256a của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi năm 2025.

Tại Cơ quan điều tra và phiên tòa sơ thẩm bị cáo Nguyễn bá T khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nội dung Cáo trạng đã nêu trên.

Đại diện Viện kiểm sát luận tội đối với bị cáo, giữ nguyên quyết định truy tố như Cáo trạng. Căn cứ vào tính chất, mức độ phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của người phạm tội, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 256a của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi năm 2017 và năm 2025; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017; đề nghị tuyên bố bị cáo Nguyễn Bá T phạm tội “Sử dụng trái phép chất ma túy”; xử phạt bị cáo Nguyễn Bá T từ 2 năm 3 tháng đến 2 năm 6 tháng tù; về án phí: đề nghị áp dụng khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự, điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội đề nghị buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định pháp luật;

- Bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội và không tranh luận gì với đại diện Viện kiểm sát; lời nói sau cùng bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra và Điều tra viên Công an tỉnh T, Cơ quan Viện kiểm sát và Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân khu vực 4 – Thanh Hóa, trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục theo quy định của pháp luật.

Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều đúng quy định của pháp luật.

Về nội dung:

Tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Bá T đã thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nội dung Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 4 – Thanh Hóa đã truy tố. Xét lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với biên bản kiểm tra định kỳ, kết luận giám định và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Do đó, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở để xác định:

Nguyễn Bá T đang là người điều trị nghiện các chất ma tuý bằng thuốc thay thế tại Cơ sở điều trị methadone Trung tâm y tế H (tại điểm uống Trạm y tế H1) theo Quyết định số 316/QĐ-UBND ngày 26/8/2025 của Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã H. Nguyễn Bá T đã được tuyên truyền pháp luật về phòng chống ma tuý và đã lập bản cam kết về chấp hành Luật phòng chống ma tuý năm 2025. Tuy nhiên ngày 07/12/2025 Nguyễn Bá T đã mua ma tuý của người khác và đã sử dụng.

Kết quả Giám định kết luận: Tìm thấy chất ma túy, loại: Morphine, C, M1 và sản phẩm chuyển hoá của M1 trong mẫu nước tiểu của Nguyễn Bá T gửi đến giám định. Morphine và C là sản phẩm chuyển hóa của chất ma túy nhóm O1 (Thuốc phiện, Heroin….) trong cơ thể.

Như vậy, có đủ căn cứ xác định hành vi nêu trên của bị cáo Nguyễn Bá T đã cấu thành tội “Sử dụng trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 256a Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2025. Tội danh và khung hình phạt áp dụng cho bị cáo như Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân khu vực 4 – Thanh Hóa truy tố là có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.

Về các căn cứ quyết định hình phạt đối với bị cáo:

- Xét tính chất, mức độ, hậu quả do hành vi phạm tội của bị cáo gây ra: Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về chất ma túy, gây mất trật tự trị an và an toàn trong xã hội, ảnh hưởng đến nòi giống, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm của con người. Do vậy, cần phải xử lý nghiêm minh mới có tác dụng giáo dục, răn đe và phòng ngừa chung.

- Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra, truy tố cũng như tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, phạm tôi lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, đầu thú nên bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm i,s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.

- Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

Từ các căn cứ quyết định hình phạt, Hội đồng xét xử xét thấy bị cáo có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức rõ hành vi sử dụng trái phép chất ma túy trong thời gian đang điều trị nghiện bằng thuốc thay thế là vi phạm pháp luật nhưng vẫn cố ý thực hiện. Do đó, cần áp dụng hình phạt nghiêm khắc, cách ly bị cáo khỏi xã hội một thời gian nhất định nhằm giáo dục, cải tạo và phòng ngừa chung. Căn cứ tính chất, mức độ hành vi phạm tội và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, Hội đồng xét xử thấy mức hình phạt Viện kiểm sát đề nghị là phù hợp.

Về hình phạt bổ sung: Do bị cáo là lao động tự do, không có nghề nghiệp ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

Về vật chứng: Dụng cụ Nguyễn Bá T dùng để sử dụng ma túy là một xilanh chứa dung dịch ma tuý, sau khi sử dụng T đã ném vào đống rác đang cháy, Cơ quan CSĐT Công an tỉnh T đã truy tìm nhưng không thu giữ được vật chứng: mẫu nước tiểu đã sử dụng hết trong quá trình giám định, nên Hội đồng xét xử không xem xét xử lý.

Về án phí: bị cáo bị kết án nên phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

* Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Bá T phạm tội “Sử dụng trái phép chất ma túy”.

* Căn cứ vào: khoản 1 Điều 256a; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38; của Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi năm 2017, năm 2025);

Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Bá T 2 ( Hai) năm 6 ( S) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giữ là ngày 09/12/2025.

* Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTV-QH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án: Buộc bị cáo phải chịu 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

* Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ