- Tranh chấp gì? án hình sự — "Thào A D phạm tội sử dụng trái phép chất ma túy - phạm tội sử dụng trái phép chất ma túy (điều 256a Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BL…"
- Tòa quyết gì? Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Thào A D phạm tội “Sử dụng trái phép chất ma túy”
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 116 Luật Xử lý vi phạm hành chính; Điều 12 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 4 - LÀO CAI TỈNH LÀO CAI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 24/2026/HS-ST Ngày: 27-01-2026 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 4 - LÀO CAI, TỈNH LÀO CAI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Thành Long
Các Hội thẩm nhân dân: - Ông Hà Công Thắng,
- Ông Trần Mạnh.
- Thư ký phiên tòa: Ông Đào Bá Đạt - Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 4 - Lào Cai.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 4, tỉnh Lào Cai tham gia phiên tòa: Ông Hà Quốc Cường - Kiểm sát viên.
Ngày 27 tháng 01 năm 2026, tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 4 - Lào Cai xét xử công khai sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 06/2026/TLST-HS ngày 09 tháng 01 năm 2026, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 01/2026/QĐXXST-HS ngày 13 tháng 01 năm 2026 đối với bị cáo:
Họ và tên: Thào A D, tên gọi khác: Không, sinh ngày 11 tháng 9 năm 19xx tại: xã PL, tỉnh Lào Cai; nơi đăng ký NKTT và chỗ ở hiện nay: Thôn TCL, xã PL, tỉnh Lào Cai; số định danh cá nhân: 01508400xxxx; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 0/12; dân tộc: Mông; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Thào Dủ S (đã chết) và bà Hảng Thị P, sinh năm 19xx; có vợ là Giàng Thị S1 (đã ly hôn) và có 04 con, con lớn nhất sinh năm 2003, con nhỏ nhất sinh năm 2015.
- Tiền án: Không,
- Tiền sự: 01 tiền sự; Ngày 02/8/2022, bị Tòa án nhân dân huyện MCC, tỉnh Yên Bái (hiện nay là Tòa án nhân dân khu vực 4 - Lào Cai) áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc theo Quyết định số 90/QĐ-TA với thời gian chấp hành là 15 tháng. Đến ngày 17/11/2023, chấp hành xong.
- Nhân thân: Ngày 28/6/2013 bị UBND huyện MCC, tỉnh Yên Bái áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc theo Quyết định số 767/QĐ-UBND với thời hạn 24 tháng đã chấp hành xong ngày 24/6/2015.
Bị cáo bị quản lý tại cơ sở cai nghiện bắt buộc từ ngày 11/9/2025 đến ngày 25/10/2025, bị bắt tạm giam từ ngày 25-10-2025, hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam số 2, Công an tỉnh Lào Cai. Có mặt.
2. Người bào chữa cho bị cáo Thào A D: Ông Nguyễn Đức Đoàn- Luật sư thực hiện trợ giúp pháp lý, do Trung tâm Trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh Lào Cai cử. Có mặt.
3. Người phiên dịch tiếng Mông: Ông Lý A Dà; trú tại: Thôn Háng Bla A, xã Khao Mang, tỉnh Lào Cai. Có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Theo Quyết định số 90/QĐ-TA ngày 02/8/2022 của Tòa án nhân dân huyện MCC, tỉnh Yên Bái (hiện nay là TAND khu vực 4 - Lào Cai, tỉnh Lào Cai), Thào A D đã bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc với thời gian là 15 tháng, chấp hành từ ngày 17/8/2022 đến ngày 17/11/2023 chấp hành xong. Bị UBND xã La Pán Tẩn, huyện MCC, tỉnh Yên Bái (nay là xã PL, tỉnh Lào Cai) quyết định quản lý sau cai nghiện ma túy tại nơi cư trú số 91/QĐ-UBND ngày 23/11/2023 thời hạn quản lý từ ngày 23/11/2023 đến ngày 23/11/2025 đối với Thào A D. Trong thời gian bị quản lý, vào khoảng đầu tháng 8/2025 tại khu vực đường dân sinh thuộc thôn TCL, xã PL, tỉnh Lào Cai, Dì đã sử dụng Methamphetamine và khoảng 09 giờ 30 phút và 17 giờ ngày 11/8/2025 tại nhà ở của mình D đã sử dụng Heroine, sử dụng ma túy bằng hình thức hít vào cơ thể.
Ngày 17/10/2025 Cơ quan điều tra đã tiến hành thu mẫu tóc của Thào A D để giám định.
Tại Kết luận giám định độc chất số 840/1170/25/KLGĐĐC-PYQG ngày 22/10/2025 của Viện pháp y Quốc gia thuộc Bộ Y tế kết luận: Tìm thấy Morphine codein và Methamphetamin trong mẫu tóc thu giữ của Thào A D.
* Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hay khiếu nại gì về Bản kết luận giám định nêu trên.
- Cáo trạng số: 61/CT-VKS-KV4 ngày 08 tháng 01 năm 2026 của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 4 - Lào Cai, tỉnh Lào Cai, truy tố Thào A D về tội “Sử dụng trái phép chất ma túy” quy định tại điểm b khoản 1 Điều 256a Bộ luật hình sự;
* Bị cáo không khiếu nại Cáo trạng và quyết định truy tố của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 4 - Lào Cai, tỉnh Lào Cai.
* Tại phiên tòa:
- Bị cáo Thào A D khai nhận rõ ràng, đầy đủ về hành vi phạm tội của mình như đã nêu trên.
- Kiểm sát viên trình bày luận tội đã đánh giá về tính chất, mức độ, nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội; hậu quả do hành vi phạm tội gây ra; nhân thân bị cáo. Đồng thời giữ nguyên nội dung Cáo trạng và quyết định truy tố bị cáo Thào A D được nêu trong Cáo trạng. Đề nghị Hội đồng xét xử:
- Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Thào A D phạm tội “Sử dụng trái phép chất ma túy”.
- Về điều luật áp dụng và hình phạt đề nghị Hội đồng xét xử: Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 256a, điểm r, s khoản 1 Điều 51, điểm g khoản 1 Điều 52 và Điều 38 của Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Thào A D từ 02 năm 06 tháng đến 02 năm 09 tháng tù về tội “Sử dụng trái phép chất ma túy”. Bị cáo Thào A D bị quản lý tại cơ sở cai nghiện bắt buộc từ ngày 11/9/2025 đến ngày 25/10/2025 (45 ngày) thời gian bị đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc quản lý được quy đổi tính vào thời hạn chấp hành hình phạt tù là 30 ngày để khấu trừ cho bị cáo
Về xử lý vật chứng: Bật lửa ga và giấy bạc bị cáo dùng để sử dụng ma túy không thu hồi được nên không xử lý trong vụ án này.
+ Về án phí và quyền kháng cáo: Đề nghị Hội đồng xét xử cho bị cáo Thào A D được miễn nộp tiền án phí hình sự sơ thẩm, và tuyên quyền kháng cáo cho bị cáo theo quy định pháp luật.
- Người bào chữa cho bị cáo trình bày lời bào chữa: Nhất trí với tội danh, điều luật cần áp dụng và các đề xuất của đại diện Viện kiểm sát đối với bị cáo Thào A D. Tuy nhiên cần xem xét bị cáo là người dân tộc thiểu số, sau khi phạm tội đã thành khẩn khai báo, tự khai ra hành vi ba lần sử dụng ma túy nên đề nghị áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại các điểm r, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Đề nghị Hội đồng xét xử, xử phạt bị cáo mức án 02 năm tù. Cho bị cáo được miễn nộp tiền án phí hình sự sơ thẩm.
- Bị cáo Thào A D nhất trí với bản luận cứ của người bào chữa, không có ý kiến tranh luận gì.
- Bị cáo Thào A D nói lời sau: Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra, Điều tra viên Công an tỉnh Lào Cai, Viện kiểm sát nhân dân khu vực 4, tỉnh Lào Cai, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, và người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
. Lời khai tại phiên toà của bị cáo phù hợp với lời khai tại Cơ quan Điều tra, phù hợp với kết luận giám định và các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án. Vì vậy, đã có đủ cơ sở kết luận:
Thào A D bị UBND xã La Pán Tẩn, huyện MCC, tỉnh Yên Bái (nay là xã PL, tỉnh Lào Cai) quyết định quản lý sau cai nghiện ma túy tại nơi cư trú số 91/QĐ-UBND ngày 23/11/2023 thời hạn quản lý từ ngày 23/11/2023 đến ngày 23/11/2025. Khoảng đầu tháng 8/2025 tại khu vực đường dân sinh thuộc thôn TCL, xã PL, tỉnh Lào Cai, D đã sử dụng ma túy loại Methamphetamine; ngày 11/8/2025 tại nhà ở của mình D đã hai lần sử dụng ma túy loại Heroine, sử dụng bằng hình thức hít vào cơ thể.
Bị cáo Thào A D là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức rõ hành vi đang trong thời hạn quản lý sau cai nghiện ma túy tại nơi cư trú theo quy định của Luật Phòng, chống ma túy lại sử dụng trái phép chất ma túy bị pháp luật nghiêm cấm nhưng vẫn cố ý thực hiện. Hành vi của bị cáo Thào A D đã phạm vào tội “Sử dụng trái phép chất ma túy” quy định tại điểm b khoản 1 Điều 256a của Bộ luật hình sự.
Do đó, Cáo trạng truy tố và lời luận tội của Kiểm sát viên tại phiên tòa đối với bị cáo Thào A D là chính xác, được Hội đồng xét xử chấp nhận.
. Tính chất của vụ án tuy ít nghiêm trọng nhưng hành vi của bị cáo Thào A D xâm phạm trực tiếp đến chế độ quản lý các chất ma túy của Nhà nước, gây nguy hiểm cho xã hội, làm mất trật tự trị an và an toàn tại địa phương. Đây cũng là nguyên nhân làm phát sinh nhiều tội phạm khác, do đó cần phải đưa ra xét xử nghiêm minh trước pháp luật.
. Về nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
* Về nhân thân: Bị cáo Thào A D là người sử dụng trái phép chất ma túy đã bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc. Nên cần xác định Thào A D có nhân thân xấu. * Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo sử dụng trái phép chất ma túy vào đầu tháng 8 và hai lần vào ngày 11/8/2025 nên phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự phạm tội 02 lần trở lên quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự.
* Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo sau khi bị bắt đã tự khai nhận ba lần sử dụng ma túy của mình; Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, đây là hai tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm r và s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Cần xem xét giảm nhẹ khi quyết định hình phạt đối với bị cáo. Đề nghị của người bào chữa cho bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ “Tự thú” được Hội đồng xét xử chấp nhận.
. Từ những nhận xét, đánh giá về tính chất, mức độ gây nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội; các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự; nhân thân bị cáo và căn cứ vào các quy định của pháp luật hình sự. Hội đồng xét xử thấy rằng cần cách ly bị cáo một thời gian nhất định tương xứng với tính chất và mức độ nguy hiểm mà bị cáo gây ra mới đủ để cải tạo, giáo dục bị cáo, đồng thời để răn đe phòng ngừa chung.
Theo quy định tại Điều 44, Nghị định 116/2021/NĐ-CP ngày 21/12/2021 của Chính phủ. Bị cáo Thào A D bị quản lý tại cơ sở cai nghiện bắt buộc từ ngày 11/9/2025 đến ngày 25/10/2025 (45 ngày) là được tính vào thời hạn cai nghiện bắt buộc, hành vi sử dụng trái phép chất ma túy của Thào A D là phạm tội nên cần quy đổi thời gian bị đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc để quản lý được quy đổi tính vào thời hạn chấp hành hình phạt tù là 30 ngày theo quy định tại khoản 2 Điều 116 Luật Xử lý vi phạm hành chính.
. Các vấn đề khác:
*Vật chứng trong vụ án: Chiếc bật lửa ga và giấy bạc bị cáo dùng để sử dụng ma túy không thu hồi được nên Hội đồng xét xử không đặt ra vấn đề xử lý.
- Đối với người phụ nữ đã bán ma túy cho bị cáo Thào A D: Do bị cáo không biết tên, địa chỉ cụ thể do đó Cơ quan điều tra không đủ căn cứ để xác minh, điều tra làm rõ.
. Về án phí: Bị cáo Thào A D là người dân tộc thiểu số thuộc hộ nghèo sinh sống ở vùng kinh tế xã hội đặc biệt khó khăn, nên được miễn nộp tiền án phí hình sự sơ thẩm.
. Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Thào A D phạm tội “Sử dụng trái phép chất ma túy”
2. Về hình phạt: Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 256a, điểm r, s khoản 1 Điều 51, điểm g khoản 1 Điều 52, khoản 1 Điều 38 của Bộ luật hình sự; khoản 2 Điều 116 Luật Xử lý vi phạm hành chính; Điều 44, Nghị định 116/2021/NĐ-CP ngày 21/12/2021 của Chính phủ. Xử phạt bị cáo Thào A D 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giam là ngày 25-10-2025, được trừ đi 30 ngày (quy đổi thời gian bị cáo bị quản lý tại cơ sở cai nghiện bắt buộc từ ngày 11/9/2025 đến ngày 25/10/2025).
3. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm đ khoản 1 Điều 12 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án bị cáo Thào A D được miễn nộp tiền án phí hình sự sơ thẩm.
4. Về quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331 và Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự, bị cáo Thào A D có quyền kháng cáo Bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Kể từ ngày Bản án có hiệu lực pháp luật bị cáo có quyền tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Lào Cai; - VKSND tỉnh Lào Cai; - VKSND khu vực 4 - Lào Cai; - Cơ quan CSĐT, CA tỉnh Lào Cai; - Phòng HS Nghiệp vụ, CA tỉnh Lào Cai - Phòng THADS khu vực 4, tỉnh Lào Cai; - Trại tạm giam số 2, CA tỉnh Lào Cai; - Chi cục hải quan tỉnh Lào Cai; - Thi hành án hình sự; - UBND xã PL (TB); - Bị cáo; Người bào chữa; - Lưu hồ sơ vụ án. | THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Thành Long |