vanban.org

Bản án 24/2026/HS-ST — Hình sự

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Y Rô Pa Tô A phạm tội “Sử dụng trái phép chất ma túy”.

Điều luật và mức hình phạt: Xử phạt bị cáo Y Rô Pa Tô A 02 (Hai) năm 06 (Sáu) tháng tù về tội “Sử dụng trái phép chất ma túy”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày bắt tạm giam, ngày 22/01/2026. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Y Rô Pa Tô A - sử dụng trái phép chất ma túy (điều 256a Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2025)"
  • Tòa quyết gì? Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Y Rô Pa Tô A phạm tội “Sử dụng trái phép chất ma túy”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 4 - ĐẮK LẮK

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 24/2026/HS-ST
Ngày: 02-06-2026

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 4 - ĐẮK LẮK

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phan Thị Dương Thanh

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Mó Măng; Ông Phạm Xuân Vinh

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Nhị - Thư ký Tòa án, Tòa án nhân dân khu vực 4 - Đắk Lắk.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 4 - Đắk Lắk tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Khánh - Kiểm sát viên.

Ngày 02 tháng 06 năm 2026, tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 4 - Đắk Lắk xét xử sơ thẩm công khai trực tuyến vụ án Hình sự sơ thẩm thụ lý số 18/2026/HSST, ngày 08 tháng 05 năm 2026, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 20/2026/HSST-QĐ ngày 19 tháng 05 năm 2026, đối với bị cáo:

Họ và tên: Y Rô Pa Tô A, sinh ngày 10/9/1998; nơi sinh: tỉnh Đắk Lắk.

CCCD số: 066098007202, cấp ngày 08 tháng 06 năm 2022. Nơi cấp: Cục Cảnh sát quản lý hành chính về trật tự xã hội - Bộ Công an.

Nơi cư trú: Buôn K, xã E, tỉnh Đắk Lắk.

Nghề nghiệp: Làm nông; trình độ văn hóa: 6/12; Dân tộc: Ê Đê; Giới tính: Nam; Tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Y Lum K, sinh năm 1972 và con bà H Ñaih A1 (tên gọi khác H Ñiăh A2), sinh năm 1976; Vợ là H Pi Ê sinh năm 1996 (đã ly hôn) và có 01 con sinh năm 2017.

Tiền án: không; Tiền sự: 01. Cụ thể: Ngày 17/5/2024, bị Tòa án nhân dân huyện Krông Pắc, tỉnh Đắk Lắk (nay là Tòa án nhân dân khu vực 4 - Đắk Lắk) ra Quyết định về việc áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiên bắt buộc 18 tháng và đến ngày 16/6/2025 thì chấp hành xong (được giảm 03 tháng).

Nhân thân: Tại bản án hình sự phúc thẩm số 109/2017/HS-PT ngày 03/04/2017 của TAND tỉnh Đắk Lắk đã xử phạt Y Rô Pa Tô A 03 năm 06 tháng tù về tội Cố ý gây thương tích. Ngày 05/05/2019, Y Rô Pa Tô A chấp hành xong hình phạt tù và ngày 13/6/2017 đã đóng án phí hình sự sơ thẩm và phúc thẩm.

Bị cáo bị bắt tạm giam ngày 22/01/2026. Hiện đang tạm giam tại Phân trại tạm giam E - Trại tạm giam số 1 Công an tỉnh Đắk Lắk. - Có mặt tại phiên tòa.

+ Ngƣời có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

1. Ông Y Lum K, sinh năm 1972. Địa chỉ: Buôn K, xã E, tỉnh Đắk Lắk. Có mặt.

2. Ông Trương Quốc T, sinh năm 1990. Địa chỉ: Tổ dân phố F, phường B, tỉnh Đắk Lắk. Có đơn xin xét xử vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Y Rô Pa Tô A, sinh ngày 10/9/1998, trú tại Buôn K, xã E, tỉnh Đắk Lắk là người sử dụng trái phép chất ma tuý, loại Methamphetamine (hay còn gọi là ma tuý đá). Ngày 17/5/2024, Y Rô Pa Tô A bị Toà án nhân dân huyện Krông Pắc, tỉnh Đắk Lắk (nay là TAND khu vực 4 - Đắk Lắk) ra Quyết định về việc áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc 18 tháng và đến ngày 16/6/2025 thì chấp hành xong.

Ngày 11/8/2025, bị Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã E, tỉnh Đắk Lắk ra Quyết định số 15/QĐ-UBND về Quản lý sau cai nghiện ma tuý tại nơi cư trú từ ngày 11/8/2025 đến 11/8/2027 đối với Y Rô Pa Tô A.

Tuy nhiên, trong thời gian bị quản lý sau cai nghiện thì ngày 21/12/2025, Y Rô Pa Tô A sử dụng điện thoại di động hiệu Samsung màu xanh, gắn sim số 0945743334 liên hệ với một người nam giới tên C (chưa xác định được nhân thân, lý lịch) qua số điện thoại 0947514571 hỏi mua 400.000 đồng ma tuý đá, thì người này đồng ý và hẹn đến khu vực Bệnh viện Đ để đưa ma tuý. Sau đó, Y Rô Pa Tô A bắt xe ôm của một người đàn ông (không xác định được nhân thân, lý lịch) đi từ khu vực buôn K, xã E, tỉnh Đắk Lắk đến khu vực Bệnh viện Đ gặp và đưa cho C 400.000 đồng thì C đưa cho Y Rô Pa Tô A 01 túi nylon bên trong có chứa ma tuý đá. Y Rô Pa Tô A cất giấu gói ma tuý vào trong người rồi tiếp tục bắt xe ôm đi về khu vực rẫy của gia đình tại Buôn K, xã E, tỉnh Đắk Lắk và cất giấu bên ngoài khu vực nhà chòi.

Đến khoảng 10 giờ ngày 24/12/2025, sau khi đi làm rẫy về thì Y Rô Pa Tô A lấy gói ma tuý đã mua trước đó cho vào dụng cụ thuỷ tinh rồi dùng bật lửa đốt để sử dụng. Sau khi sử dụng ma tuý xong, Y Rô Pa Tô A mang vứt bỏ dụng cụ sử dụng ma tuý tại khu vực bãi rác gần đó rồi quay về nhà chòi nằm nghỉ.

Đến khoảng 17 giờ cùng ngày, Công an xã E, tỉnh Đắk Lắk đến kiểm tra nhà chòi thì phát hiện Y Rô Pa Tô A có biểu hiện nghi vấn nên mời về trụ sở làm việc, đồng thời đưa Y Rô Pa T1 Ayŭn đến Bệnh viện đa khoa Thành phố B xét nghiệm chất ma túy, kết quả dương tính với chất ma túy Amphetamine.

Công an xã E tiến hành thu mẫu nước tiểu của Y Rô Pa Tô A rồi niêm phong gửi giám định đồng thời lập biên bản sự việc đối với hành vi sử dụng trái phép chất ma túy của Y Rô Pa Tô A.

* Vật chứng vụ án: Quá trình điều tra đã thu giữ 01 chai nhựa có thân hình trụ, có nắp đậy kín màu trắng bên trong có chứa mẫu sinh học (nước tiểu) của Y Rô Pa Tô A (đã được niêm phong) và 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung màu xanh, số Imei 1: 355775436586331/01, số Imei 2: 358160306586330/01 gắn sim số 0866194698.

Tại bản kết luận giám định số 1519/KL-KTHS ngày 31/12/2025 của Phòng K1 Công an tỉnh Đắk Lắk kết luận: Trong mẫu nước tiểu ghi thu của Y Rô Pa Tô A được niêm phong gửi giám định, tìm thấy chất ma túy, loại Methamphetamine và sản phẩm chuyển hóa của Methamphetamine trong cơ thể (Amphetamine).

Tại bản cáo trạng số 09/CT-VKSDLK-KV ngày 07 tháng 05 năm 2026 của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 4 - Đắk Lắk đã truy tố Y Rô Pa Tô A về tội “Sử dụng trái phép chất ma túy” quy đi ̣nh ta ̣i điểm b khoản 1 Điều 256a của Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa, bị cáo Y Rô Pa Tô A đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình đúng với lời khai của bị cáo khai tại cơ quan điều tra, nội dung bản cáo trạng mà Viện kiểm sát công bố tại phiên tòa và thừa nhận Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 4 - Đắk Lắk truy tố bị cáo về tội “Sử dụng trái phép chất ma túy” theo điểm b khoản 1 Điều 256a của Bộ luật hình sự là đúng và không oan.

Quá trình tranh luận, đại diện Viện kiểm sát tham gia phiên tòa đã đưa ra chứng cứ buộc tội và đã đánh giá tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội đối với hành vi phạm tội do bị cáo gây ra và giữ nguyên quyết định truy tố đối với Y Rô Pa Tô A tại Bản cáo trạng số 09/CT-VKSDLK-KV ngày 07 tháng 05 năm 2026. Đồng thời đưa ra các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố Y Rô Pa Tô A phạm tội “Sử dụng trái phép chất ma túy”.

Áp dụng điểm b khoản 1 Điều 256a; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật hình sự. Đề nghị xử phạt bị cáo Y Rô Pa Tô A mức án từ 02 năm 03 tháng đến 02 năm 06 tháng.

Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 47 của Bộ luật hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự.

- Đề nghị tịch thu sung ngân sách nhà nước đối với: 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung màu xanh, số Imei 1: 355775436586331/01, số Imei 2: 358160306586330/01 (là tài sản của bị cáo Y Rô Pa Tô A); tịch thu, tiêu hủy đối với xác sim điện thoại số 0866194698 không có giá trị sử dụng.

- Đối với 01 chai nhựa bên trong có chưa mẫu sinh học (nước tiểu) của Y Rô Pa Tô A thì khi giám định sử dụng hết nên không hoàn trả. Vì vậy, không đề cập để xem xét.

- Đối với nguồn gốc số ma tuý, Y Rô Pa Tô A khai nhận mua của người nam giới tên thường gọi là C, sử dụng số điện thoại thuê bao 0947514571 tại khu vực Bệnh viện Đ, thì Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Đắk Lắk xác định người đăng ký thuê bao là Trương Quốc T sinh năm 1990, trú tại Tổ dân phố F, phường B, tỉnh Đắk Lắk, nhưng T đã không sử dụng số thuê bao trên từ năm 2023, T không thừa nhận quen biết Y Rô Pa Tô A và cũng không bán ma tuý cho Y Rô Pa Tô A. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Đắk Lắk đã tiến hành các biện pháp điều tra và cho Y Rô Pa Tô A nhận dạng nhưng đến nay chưa xác định được nhân thân, lai lịch của đối tượng tên C nên chưa đủ căn cứ để xử lý theo quy định của pháp luật.

- Đối với căn nhà chòi nơi Y Rô Pa Tô A cất giấu, sử dụng trái phép chất ma tuý, thì quá trình điều tra xác định do ông Y Lum K (bố đẻ của Y Rô Pa Tô A) là chủ sở hữu. Tuy nhiên ông Y Lum K không biết việc Y Rô Pa Tô A cất giấu, sử dụng trái phép chất ma tuý tại đây nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Đắk Lắk không đề cập xử lý trách nhiệm hình sự đối với ông Y Lum K là phù hợp.

- Đối với người lái xe ôm chở Y Rô Pa Tô A đi mua ma túy thì quá trình điều tra không xác định được nhân thân, lý lịch người này nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Đắk Lắk không đề cập xử lý là có cơ sở.

Bị cáo không bào chữa, tranh luận gì chỉ đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

Khi nói lời sau cùng bị cáo Y Rô Pa Tô A xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo để bị cáo sớm được trở về đoàn tụ cùng với gia đình.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an tỉnh Đắk Lắk, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân khu vực 4 - Đắk Lắk, Kiểm sát viên: Trong quá trình điều tra truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Lời khai của Y Rô Pa Tô A tại phiên toà là phù hợp với lời khai mà bị cáo đã khai tại Cơ quan điều tra, phù hợp với biên bản sự việc đối với hành vi sử dụng trái phép chất ma túy của Y Rô Pa Tô A, phù hợp với biên bản niêm phong đồ vật, tài liệu bị tạm giữ và phù hợp với các tài liệu chứng cứ khác đã được thu thập có trong hồ sơ vụ án. Như vậy, Hội đồng xét xử đã có đủ cơ sở để khẳng định:

Mặc dù bị cáo Y Rô Pa Tô A đã bị Tòa án nhân dân huyện Krông Pắc, tỉnh Đắk Lắk (nay là TAND khu vực 4 - Đắk Lắk) ra Quyết định về việc áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc 18 tháng và ngày 16/6/2025 thì chấp hành xong. Ngày 11/8/2025, bị Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã E, tỉnh Đắk Lắk ra Quyết định quản lý sau cai nghiện từ ngày 11/8/2025 đến ngày 11/8/2027. Thế nhưng, do ý thức coi thường pháp luật và để thỏa mãn nhu cầu sử dụng ma túy của bản thân nên vào ngày 21/12/2025, bị cáo Y Rô Pa Tô A đi đến khu vực Bệnh viện Đ mua 400.000 đồng ma túy của một người đàn ông tên C (chưa xác định được nhân thân, lý lịch) về để sử dụng. Đến khoảng 10 giờ ngày 24/12/2025, bị cáo lấy ma túy đã mua sử dụng tại chòi rẫy thuộc Buôn Kreh B, xã E, tỉnh Đắk Lắk và sau đó thì bị Công an xã E phát hiện.

Như vậy, hành vi của bị cáo Y Rô Pa Tô A đã đủ yếu tố cấu thành tội “Sử dụng trái phép chất ma túy” được quy định tại điểm b khoản 1 Điều 256a của Bộ luật hình sự.

Tại Điều 256a của Bộ luật hình sự quy định:

“1. Người nào sử dụng trái phép chất ma tuý thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 03 năm:

b) Đang trong thời hạn quản lý sau cai nghiện ma tuý theo quy định của Luật phòng, chống ma tuý;”

….

Xét tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo là nghiêm trọng, hành vi tái sử dụng ma túy của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, không chỉ làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến sức khỏe của người nghiện mà còn gây mất an ninh trật tự tại địa phương, là nguyên nhân phát sinh các loại tội phạm khác do bị ảo giác, kích động.

Bị cáo là người có đầy đủ năng lực chịu trách nhiệm về hình sự. Bị cáo nhận thức được rằng hành vi sử dụng trái phép chất ma túy, là vi phạm pháp luật hình sự nhưng do không vượt qua được cám dỗ, nên vẫn cố tình thực hiện nhằm mục đích thỏa mãn cho nhu cầu sử dụng ma túy của cá nhân. Do đó việc đưa bị cáo ra xét xử là cần thiết và phải có một mức hình phạt nghiêm khắc góp phần tăng cường tính răn đe, bảo đảm hiệu lực của các biện pháp quản lý, cai nghiện đã và đang được triển khai. Vì vậy, với hành vi của bị cáo nêu trên cần phải áp dụng mức hình phạt nghiêm khắc, cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định, có như vậy mới phát huy được tác dụng cải tạo, giáo dục bị cáo và góp phần răn đe, phòng ngừa chung trong toàn xã hội.

Xét về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của bị cáo:

- Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự.

- Về các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa, bị cáo đều thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng . Ngoài ra bị cáo là đồng bào dân tô ̣c thiểu số nên nhâ ̣n thứ c pháp luâ ̣t có phần ha ̣n chế . Đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự đối với bị cáo nên cần xem xét để giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo nhằm thể hiện chính sách khoan hồng, nhân đạo của pháp luật Nhà nước.

- Về nhân thân của bị cáo: Tại bản án hình sự phúc thẩm số 109/2017/HS-PT ngày 03/04/2017 của TAND tỉnh Đắk Lắk đã xử phạt Y Rô Pa Tô A 03 năm 06 tháng tù về tội Cố ý gây thương tích. Ngày 05/05/2019, đã chấp hành xong hình phạt tù và ngày 13/6/2017 đã đóng án phí hình sự sơ thẩm và phúc thẩm. Đã được xóa án tích, là nhân thân xấu.

Đối với nguồn gốc số ma tuý, bị cáo khai nhận mua của người nam giới tên thường gọi là C, sử dụng số điện thoại thuê bao 0947514571 tại khu vực Bệnh viện Đ, thì Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Đắk Lắk xác định người đăng ký thuê bao là Trương Quốc T sinh năm 1990, trú tại Tổ dân phố F, phường B, tỉnh Đắk Lắk, nhưng T đã không sử dụng số thuê bao trên từ năm 2023, T không thừa nhận quen biết bị cáo và cũng không bán ma tuý cho bị cáo. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Đắk Lắk đã tiến hành các biện pháp điều tra và cho bị cáo nhận dạng nhưng đến nay chưa xác định được nhân thân, lai lịch của đối tượng tên C nên chưa đủ căn cứ để xử lý theo quy định của pháp luật.

Đối với căn nhà chòi nơi bị cáo cất giấu, sử dụng trái phép chất ma tuý, thì quá trình điều tra xác định do ông Y Lum K (bố đẻ của bị cáo Y Rô Pa Tô A) là chủ sở hữu. Tuy nhiên ông Y Lum K không biết việc bị cáo cất giấu, sử dụng trái phép chất ma tuý tại đây nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Đắk Lắk không đề cập xử lý trách nhiệm hình sự đối với ông Y Lum K là phù hợp.

Đối với người lái xe ôm chở bị cáo đi mua ma túy thì quá trình điều tra không xác định được nhân thân, lý lịch người này nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Đắk Lắk không đề cập xử lý là phù hợp.

Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 47 của Bộ luật hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự.

- Tịch thu sung ngân sách nhà nước đối với: 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung màu xanh, số Imei 1: 355775436586331/01, số Imei 2: 358160306586330/01 (là tài sản của bị cáo Y Rô Pa Tô A); tịch thu, tiêu hủy đối với xác sim điện thoại số 0866194698 không có giá trị sử dụng. (Theo Quyết định chuyển vật chứng số 06/QĐ-VKSDLK-KV ngày 07/05/2026 của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 4 - Đắk Lắk và Biên bản giao nhận vật chứng, tài sản ngày 08/05/2026 giữa Cơ quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh Đắk Lắk với Phòng thi hành án dân sự khu vực 4

- Đắk Lắk).

- Đối với 01 chai nhựa bên trong có chưa mẫu sinh học (nước tiểu) của Y Rô Pa Tô A thì khi giám định sử dụng hết nên không hoàn trả. Vì vậy, Hội đồng xét xử không đề cập để xem xét.

Xét thấy việc truy tố của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 4 - Đắk Lắk đối với bị cáo là hoàn toàn đúng người, đúng tội, đúng pháp luật, mức đề xuất hình phạt và xử lý vật chứng là có căn cứ, nên Hội đồng xét xử chấp nhận ý kiến, quan điểm của Viện kiểm sát.

Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 135 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Khoản 1 Điều 21, điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/UBTVQH14, ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Y Rô Pa Tô A phạm tội “Sử dụng trái phép chất ma túy”.

2. Điều luật và mức hình phạt:

Áp dụng điểm b khoản 1 Điều 256a; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật hình sự.

Xử phạt bị cáo Y Rô Pa Tô A 02 (Hai) năm 06 (Sáu) tháng tù về tội “Sử dụng trái phép chất ma túy”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày bắt tạm giam, ngày 22/01/2026.

3. Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 47 của Bộ luật hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự.

Tịch thu sung ngân sách nhà nước đối với: 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung màu xanh, số Imei 1: 355775436586331/01, số Imei 2: 358160306586330/01 (là tài sản của bị cáo Y Rô Pa Tô A); tịch thu, tiêu hủy đối với xác sim điện thoại số 0866194698 không có giá trị sử dụng. (Theo Quyết định chuyển vật chứng số 06/QĐ-VKSDLK-KV ngày 07/05/2026 của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 4 - Đắk Lắk và Biên bản giao nhận vật chứng, tài sản ngày 08/05/2026 giữa Cơ quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh Đắk Lắk với Phòng thi hành án dân sự khu vực 4

- Đắk Lắk).

4. Về án phí hình sự sơ thẩm: Áp dụng khoản 2 Điều 135 của Bộ luật Tố tụng hình sự; khoản 1 Điều 21, điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.

Bị cáo Y Rô Pa Tô A phải chịu 200.000 đồng tiền án phí Hình sự sơ thẩm.

5. Về quyền kháng cáo: Bị cáo, Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án; Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản sao bản án hoặc bản án được niêm yết hợp lệ.

Cỡ chữ