vanban.org

Bản án 24/2026/HS-ST — Hình sự

Tòa án nhân dân khu vực 1 - Lào Cai, tỉnh Lào Cai Tuyên án 22/01/2026 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Đặng Quang H phạm tội "Sử dụng trái phép chất ma túy”.

Về hình phạt: Xử phạt: Bị cáo Đặng Quang H 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 09/10/2025. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Đặng Quang H- Sử dụng trái phép chất ma túy - sử dụng trái phép chất ma túy (điều 256a Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2025)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Đặng Quang H phạm tội "Sử dụng trái phép chất ma túy”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Luật Sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ Luật hình sự số 86/…; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 1- LÀO CAI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 24/2026/HS-ST
Ngày 22-01-2026

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 1- LÀO CAI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Văn

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Thị Kim Lý, bà Nguyễn Ngọc Oanh

- Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Thúy Hà –Thư ký Toà án nhân dân khu vực 1- Lào Cai.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 1- Lào Cai tham gia phiên toà: Ông Nguyễn Quang Hòa - Kiểm sát viên.

Ngày 22 tháng 01 năm 2026, tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 1- Lào Cai, Tòa án nhân dân khu vực 1- Lào Cai xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 60/2025/TLST-HS ngày 19 tháng 12 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 13/2026/QĐXXST-HS ngày 08 tháng 01 năm 2026, đối với bị cáo:

Đặng Quang H, tên gọi khác: Không, sinh ngày 24/10/1995, tại tỉnh Lào Cai; số CCCD: 015.095.006.205 ngày cấp: ..., nơi cấp: Cục Cảnh sát quản lý hành chính về trật tự xã hội – Bộ C. Nơi cư trú: Thôn Đ, xã M, tỉnh Lào Cai; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn lớp: 10/12; Dân tộc: Dao; giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Đặng Văn T, đã chết và bà Trương Thị H1, sinh năm 1965; Vợ: Hồ Thị M, sinh năm 1996 (đã ly hôn), có 02 con, con lớn sinh năm 2016, con nhỏ sinh năm 2020; tiền án: Không; tiền sự: Tại Quyết định số 22/2022/QĐ-TA ngày 31/5/2022 của Tòa án nhân dân huyện Văn Yên, tỉnh Yên Bái (cũ) áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Đặng Quang H trong thời hạn 20 tháng, đã chấp hành xong ngày 06/02/2024. Bị cáo bị bắt từ ngày 09/10/2025, hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam số 2 – Công an tỉnh L, có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên toà, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Đặng Quang H là người nghiện ma túy (H), thuộc đối tượng quản lý sau cai nghiện theo Quyết định số 24/QĐ-UBND ngày 07/02/2024 của Ủy ban nhân dân xã N, huyện V, tỉnh Yên Bái (nay là xã M, tỉnh Lào Cai).

Do có nhu cầu sử dụng ma túy Heroine, nên khoảng 19 giờ 00 phút ngày 03/10/2025, tại quán nước đầu cầu Y, Đặng Quang H mượn 01 chiếc xe mô tô (không nhớ biển số) của một người đàn ông (không nhớ tên, tuổi, địa chỉ) để đi mua ma túy sử dụng cho bản thân. Khi đi đến khu vực đường sắt giao cắt với đường N thì H rẽ vào một ngõ nhỏ thuộc tổ dân phố H, phường Y, tỉnh Lào Cai. Tại đây, H gặp một người đàn ông (không biết tên, tuổi, địa chỉ) và mua của người này 01 gói ma túy Heroine với giá 100.000 đồng (là tiền do bị can lao động mà có). Sau khi mua được ma túy, H tiếp tục điều khiển xe mô tô đến một hiệu thuốc trên đường N (không nhớ vị trí cụ thể) mua 01 bơm kim tiêm và 01 lọ nước cất với giá 4.000 đồng. Sau đó, H quay lại khu vực gần vị trí mua ma túy trước đó ở tổ dân phố H, phường Y, tỉnh Lào Cai và sử dụng hết số Heroine vừa mua bằng hình thức tiêm chích trực tiếp vào cơ thể. Sau khi sử dụng xong ma túy, H đã vứt bỏ dụng cụ rồi điều khiển xe mô tô quay lại quán nước và trả lại phương tiện cho người đàn ông. Đến ngày 08/10/2025, H bị Cơ quan Công an lấy mẫu nước tiểu đi xét nghiệm chất ma túy trong cơ thể. Kết quả: nước tiểu của Đặng Quang H dương tính với chất ma túy Heroine.

Tại bản kết luận giám định số 2499/KL-KTHS ngày 10/10/2025 của Phòng K Công an tỉnh P, kết luận: Trong chất lỏng màu vàng ghi mẫu nước tiểu của Đặng Quang H, gửi đến giám định tìm thấy chất ma túy, loại Morphine. Morphine là sản phẩm chuyển hóa của Heroine trong cơ thể con người.

Morphine: số thứ tự 55, danh mục IIA Nghị định số 57/2022/NĐ-CP ngày 25/8/2022 của Chính phủ. Heroine: Số thứ tự 9, danh mục IA, Nghị định số 57/2022/NĐ-CP ngày 25/8/2022 của Chính phủ

Bản Cáo trạng số 48/CT-VKS ngày 19/12/2025 của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 1- Lào Cai truy tố Đặng Quang H về tội “Sử dụng trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 256a của Bộ luật Hình sự, sửa đổi bổ sung một số Điều năm 2025.

Tại phiên tòa:

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 1- Lào Cai giữ nguyên nội dung Cáo trạng đã truy tố, đề nghị Hội đồng xét xử:

- Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Đặng Quang H phạm tội “Sử dụng trái phép chất ma túy”.

- Về hình phạt: Áp dụng điểm b khoản 1 Điều 256a của của Bộ luật Hình sự, sửa đổi bổ sung một số Điều năm 2025; Điều 38, điểm i, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự đề nghị xử phạt Đặng Quang H từ 02 năm 06 tháng tù đến 03 năm tù.

- Về án phí: Áp dụng Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự, điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/ UBTVQH /14 về án phí, lệ phí: bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo khai báo thành khẩn, nhất trí với lời luận tội của Kiểm sát viên, không có ý kiến tranh luận gì. Bị cáo nhận thức được hành vi sử dụng trái phép chất ma túy của mình là vi phạm pháp luật và xin Hội đồng xét xử cho hưởng mức hình phạt thấp nhất.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan điều tra Công an tỉnh L, Điều tra viên, Kết luận giám định của Phòng K Công an tỉnh P,Viện kiểm sát nhân dân khu vực 1- Lào Cai, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Bị cáo trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Lời khai của bị cáo phù hợp với các tài liệu khác đã thu thập được có trong hồ sơ vụ án. Như vậy, đã đủ cơ sở kết luận: Đặng Quang H là người nghiện ma túy (H), đang trong thời gian quản lý sau cai nghiện ma túy theo Quyết định số 24/QĐ-UBND ngày 07/02/2024 của Ủy ban nhân dân xã N, huyện V, tỉnh Yên Bái (nay là xã M, tỉnh Lào Cai) trong thời hạn 02 năm kể từ ngày 07/02/2024 đến 07/02/2026. Ngày 03/10/2025, Đặng Quang H đã có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy Heroine tại tổ dân phố H, phường Y, tỉnh Lào Cai bằng hình thức tiêm chích trực tiếp vào cơ thể. Kết quả giám định mẫu nước tiểu thu giữ của Đặng Quang H ngày 08/10/2025 tìm thấy chất ma túy loại Morphine. Morphine là sản phẩm chuyển hóa của Heroine trong cơ thể. Cáo trạng của Viện kiểm sát truy tố đối với bị cáo về tội “Sử dụng trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 256a của Bộ luật Hình sự, sửa đổi bổ sung một số Điều năm 2025 là có căn cứ, đúng pháp luật.

Xét hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm phạm các quy định của Nhà nước về quản lý chất ma túy, gây mất trật tự trị an và gây hậu quả xấu đến nhiều mặt của đời sống xã hội, là nguyên nhân làm phát sinh nhiều loại tội phạm khác. Bị cáo đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, nhận thức rõ việc sử dụng trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật, bị pháp luật nghiêm cấm, hiểu rõ tác hại của ma túy không những ảnh hướng xấu đến sức khỏe của bản thân mà còn làm thiệt hại kinh tế rất lớn cho bị cáo và gia đình nhưng vẫn cố ý thực hiện. Động cơ, mục đích phạm tội của bị cáo là nhằm thỏa mãn nhu cầu cá nhân. Vì vậy, cần đưa bị cáo ra xét xử nghiêm minh.

Về nhân thân và tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Bị cáo là người nghiện chất ma túy, đã từng bị đưa đi cai nghiện bắt buộc nhưng bị cáo không lấy đó làm bài học để tu dưỡng rèn luyện bản thân mà vẫn cố ý thực hiện tội phạm, thể hiện sự coi thường pháp luật, ý thức tu dưỡng và rèn luyện bản thân của bị cáo là rất kém.

Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Quá trình tham gia tố tụng, đã thành khẩn khai báo; bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng nên được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm i, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.

Xét tính chất, mức độ hành vi phạm tội và nhân thân của bị cáo, để đảm bảo tính nghiêm minh của luật pháp cần áp dụng mức hình phạt tù thỏa đáng để có tác dụng giáo dục riêng và phòng ngừa chung.

Đối với người đàn ông đã bán ma túy cho Đặng Quang H vào ngày 03/10/2025. Quá trình điều tra do không xác định được tên tuổi, địa chỉ cụ thể của người này nên không có đủ căn cứ để xử lý trước pháp luật.

Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa là phù hợp nên được chấp nhận.

Về quyền kháng cáo: Bị cáo được quyền kháng cáo theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Tuyên bố bị cáo Đặng Quang H phạm tội "Sử dụng trái phép chất ma túy”.

2. Về hình phạt:

Áp dụng điểm b khoản 1 Điều 256a của Bộ luật Hình sự, sửa đổi bổ sung tại Luật sửa đổi bổ sung một số điều của Bộ luật Hình sự số 86/2025/QH15 ngày 25/6/2025; Điều 38, điểm i, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự:

Xử phạt: Bị cáo Đặng Quang H 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 09/10/2025.

3. Về án phí: Căn cứ Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016, quy định về mức thu, giảm, miễn, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án: Bị cáo phải chịu 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm

4. Bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật, bị cáo có quyền tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự./.

Cỡ chữ