vanban.org

Bản án 24/2026/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

* Tuyên xử: Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thị Diễm K

Về hôn nhân: Xử cho chị Nguyễn Thị Diễm K được ly hôn với anh Mai Văn L. Về con cái: Giao con chung của vợ chồng là cháu Mai Gia H (giới tính: nam), sinh ngày 08/3/2009 cho anh Mai Văn L trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc giáo dục cháu đến tuổi thành niên và có khả năng lao động. Chị K không phải cấp dư… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ly hôn"
  • Tòa quyết gì? * Tuyên xử: Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thị Diễm K
  • Căn cứ chính? Điều 144 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 207 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 6 - THANH HÓA

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số:24/2026/HNGĐ-ST
Ngày: 05-3-2026
V/v: “Ly hôn, tranh chấp
nuôi con khi ly hôn”

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 6 - THANH HÓA

Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Tống Thị Hà

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Lê Duy Hoàng; ông Lê Văn Ký

Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thanh - Thư ký Tòa án nhân dân (TAND) khu vực 6 - Thanh Hóa.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 6 - Thanh Hóa tham gia phiên tòa: Bà Lại Thị Hồng - Kiểm sát viên.

Ngày 05 tháng 3 năm 2026, tại Hội trường xét xử TAND khu vực 6 - Thanh Hóa, xét xử công khai sơ thẩm vụ án dân sự thụ lý số: 209/2025/TLST-HNGĐ ngày 27 tháng 11 năm 2025 về “Ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 13/2026/QĐXXST - HNGĐ ngày 29 tháng 01 năm 2026 và Quyết định hoãn phiên toà số:12/2026/QĐST-HNGĐ ngày 13/02/2026 giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị Diễm K - sinh năm 1983

CCCD số xxxxxxxxxxxx

Cư trú tại: Số A tổ D, khu T, phường B, tỉnh Tây Ninh (vắng mặt có lý do).

Bị đơn: Anh Mai Văn L, sinh năm 1978

CCCD số xxxxxxxxxxxx

Cư trú tại: Thôn Đ Y, xã H, tỉnh Thanh Hóa (vắng mặt không có lý do).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện và bản tự khai, nguyên đơn chị Nguyễn Thị Diễm K trình bày:

Vợ chồng chị kết hôn trên cơ sở tự nguyện và có đăng ký kết hôn vào ngày 30/12/2008 tại UBND xã H, huyện H, tỉnh Thanh Hóa (nay thuộc xã H, tỉnh Thanh Hóa). Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống hạnh phúc đến năm 2023 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân là do vợ chồng không có sự thấu hiểu trong cuộc sống hôn nhân dẫn đến tình cảm vợ chồng ngày càng lạnh nhạt, không tìm được tiếng nói chung. Chị đã khuyên giải và cho anh L nhiều cơ hội để sửa chữa nhưng anh L vẫn chứng nào tật nấy. Khoảng cuối năm 2023 anh L bỏ về quê ở H, tỉnh Thanh Hóa sống cho tới nay, chị có gọi anh L vào để tiếp tục chung sống làm ăn nhưng anh L không vào. Vợ chồng đã ly thân từ năm 2024 cho đến nay và không còn quan tâm đến nhau nữa. Nay xét thấy tình cảm vợ chồng không còn nên đề nghị Toà án giải quyết cho chị được ly hôn với anh Mai Văn L.

- Về con cái: Vợ chồng có 01 con chung: Cháu tên là Mai Gia H (nam), sinh ngày 08/3/2009. Hiện nay cháu H đang ở với anh L và ông bà nội tại thôn A xã H, tỉnh Thanh Hóa. Sau khi ly hôn chị có nguyện vọng để anh L tiếp tục nuôi dưỡng cháu H đến tuổi thành niên và có khả năng lao động. Chị không phải đóng góp cấp dưỡng nuôi con cùng anh Mai Văn L.

- Về tài sản: Vợ chồng tự thoả thuận phân chia nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Quá trình giải quyết vụ án Toà án nhân dân khu vực 6- Thanh Hoá đã nhiều lần triệu tập anh L đến Toà án trình bày nguyện vọng của anh L về việc chị K khởi kiện yêu cầu Toà án giải quyết ly hôn, tuy nhiên anh L không có mặt, không thể hiện quan điểm, nguyện vọng của mình về ly hôn, con cái và tài sản để Toà án xem xét. Vì vậy, Toà án giải quyết vụ án theo quy định của pháp luật.

Tại biên bản xác minh ngày 09/01/2026 ông Phạm Ngọc N, trưởng thôn Đ Y, xã H, tỉnh Thanh Hóa cho biết: Vợ chồng chị Diễm K và anh Mai Văn L kết hôn năm 2008. C sống với nhau có 01 con chung, sinh năm 2009. Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống và mâu thuẫn với nhau như thế nào chính quyền địa phương không nắm rõ và anh chị cũng không yêu cầu trưởng thôn hoà giải mâu thuẫn vợ chồng. Chị K hiện nay đang ở trong M không sống chung cùng anh L, anh L vào miền nam một thời gian, sau đó về nhà mấy năm nay đi làm công ty, hai bố con đang sinh sống tại thôn Đ Y, xã H, tỉnh Thanh Hóa. Anh L ít khi tham gia các hoạt động công tác ở thôn nên thôn không nắm rõ tình trạng hôn nhân của anh chị. Nay chị K làm đơn ly hôn anh đề nghị Toà án căn cứ vào quy định của pháp luật để giải quyết vụ án đảm bảo quyền lợi cho đương sự.

Quá trình giải quyết vụ án ngày 22/01/2026 Tòa án đã tiến hành mở phiên họp tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải theo thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải ngày 09/01/2026, tuy nhiên, anh L vắng mặt không có lý do, chị K có đơn đề nghị Toà án không tiến hành hoà giải. Vì vậy, căn cứ vào khoản 4 Điều 207 Bộ luật tố tụng Dân sự (BLTTDS), TAND khu vực 6- Thanh Hoá tiếp tục giải quyết vụ án theo quy định của pháp luật.

Đại diện Viện kiểm sát phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử (HĐXX), thư ký phiên tòa và của người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm HĐXX nghị án.

* Đề nghị HĐXX chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thị Diễm K

- Về hôn nhân: Xử cho chị Nguyễn Thị Diễm K được ly hôn anh Mai Văn L

- Về con cái: Giao con chung của vợ chồng là cháu Mai Gia H (nam), sinh ngày 08/3/2009 cho anh Mai Văn L trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc giáo dục cháu đến tuổi thành niên hoặc có khả năng lao động. Chị K không phải cấp dưỡng nuôi con chung.

- Về tài sản chung của vợ chồng: Vợ chồng không yêu cầu nên đề nghị HĐXX miễn xét.

* Về án phí ly hôn sơ thẩm: Đề nghị buộc chị Nguyễn Thị Diễm K phải nộp 300.000đ án phí ly hôn sơ thẩm;

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa căn cứ vào ý kiến phát biểu của Kiểm sát viên tại phiên tòa, HĐXX nhận định:

Về thủ tục tố tụng:

Xét về quan hệ pháp luật và thẩm quyền giải quyết: Chị Nguyễn Thị Diễm K khởi kiện yêu cầu TAND khu vực 6 - Thanh Hoá giải quyết cho chị được ly hôn với anh Mai Văn L. Đây là quan hệ pháp luật “Ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn”; Bị đơn cư trú tại xã H, tỉnh Thanh Hóa, vì vậy thuộc thẩm quyền giải quyết của TAND khu vực 6 - Thanh Hoá theo quy định tại khoản 1 Điều 28, Điều 35 và khoản 1 Điều 39 BLTTDS;

Về việc vắng mặt của đương sự: Chị Nguyễn Thị Diễm K có đơn đề nghị Toà án tiến hành xét xử vắng mặt, anh Mai Văn L vắng mặt lần thứ hai không có lý do. HĐXX tiến hành xét xử vắng mặt chị K và anh L theo quy định tại khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228, Điều 238 BLTTDS là phù hợp với quy định của pháp luật.

Về yêu cầu của đƣơng sự HĐXX thấy:

Về hôn nhân: Chị Nguyễn Thị Diễm K và anh Mai Văn L kết hôn trên cơ sở tự nguyện, đăng ký kết hôn tại UBND xã H, huyện H, tỉnh Thanh Hóa (cũ), như vậy đây là hôn nhân hợp pháp. Quá trình chung sống vợ chồng phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn vợ chồng theo chị K vợ chồng không có sự thấu hiểu trong cuộc sống hôn nhân dẫn đến tình cảm vợ chồng ngày càng lạnh nhạt, không tìm được tiếng nói chung. Vợ chồng đã ly thân từ năm 2024 cho đến nay và không còn quan tâm đến nhau nữa.

HĐXX thấy, trong cuộc sống hôn nhân giữa chị K và anh L luôn xảy ra mâu thuẫn, hai vợ chồng không còn liên lạc với nhau, không nói chuyện với nhau chứng tỏ mâu thuẫn vợ chồng đã thật sự trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được. Vì vậy, căn cứ khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình giải quyết cho chị K được ly hôn với anh L là phù hợp.

Về con cái: Vợ chồng có 01 con chung: Cháu tên là Mai Gia H (nam), sinh ngày 08/3/2009. Chị K có nguyện vọng để anh L tiếp tục nuôi dưỡng cháu H đến tuổi thành niên và có khả năng lao động. Chị không phải đóng góp cấp dưỡng nuôi con cung cho anh Mai Văn L.

HĐXX thấy: Mặc dù, anh L không có quan điểm về việc xin nuôi con và cũng không thể hiện quan điểm về việc cấp dưỡng nuôi con chung, nhưng cháu H hiện nay đang ở với anh L tại thôn Đ Y, xã H, và nguyện vọng của cháu H cũng xin ở với bố, chị K đồng ý giao cháu H cho anh L nuôi dưỡng. Vì vậy, giao cháu H cho anh L trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục cháu đến tuổi thành niên hoặc có khả năng lao động. Chị K không phải cấp dưỡng nuôi con chung vì anh L không yêu cầu là phù hợp với quy định tại Điều 81, 82 và 83 Luật Hôn nhân và gia đình.

Về tài sản chung Vợ chồng không yêu cầu nên HĐXX không xem xét

Về án phí ly hôn sơ thẩm: Chị Nguyễn Thị Diễm K phải nộp 300.000đ án phí ly hôn sơ thẩm.

Bởi những lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

* Căn cứ:

- Khoản 1 Điều 28, khoản 3 Điều 144, khoản 4 Điều 147, khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228, Điều 238, Điều 271, 273, 277 và Điều 280 Bộ luật tố tụng Dân sự;

- Điều 51, 56, 57, 81, 82, 83, 84 / Luật hôn nhân gia đình;

- Điều 6, điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 và tiểu mục 1.1 phần 1 mục II danh mục mức án phí lệ phí ban hành kèm theo;

* Tuyên xử: Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thị Diễm K

- Về hôn nhân: Xử cho chị Nguyễn Thị Diễm K được ly hôn với anh Mai Văn L.

- Về con cái: Giao con chung của vợ chồng là cháu Mai Gia H (giới tính: nam), sinh ngày 08/3/2009 cho anh Mai Văn L trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc giáo dục cháu đến tuổi thành niên và có khả năng lao động. Chị K không phải cấp dưỡng nuôi con chung cùng anh L.

Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung, không ai được cản trở.

Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom của người đó.

Vì quyền lợi của con cái, khi cần thiết, các bên đương sự được quyền làm đơn xin thay đổi việc nuôi con và cấp dưỡng nuôi con chung.

- Về tài sản chung của vợ chồng: Vợ chồng không yêu cầu nên Tòa án không giải quyết.

* Về án phí dân sự sơ thẩm: Chị Nguyễn Thị Diễm K phải nộp 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) được trừ vào số tiền tạm ứng án phí 300.000đ chị K đã nộp tại Phòng Thi hành án Dân sự khu vực 6- Thanh Hoá ngày 27/11/2025 theo biên lai thu số: 0003519. Như vậy, chị K đã nộp đủ án phí dân sự sơ thẩm.

Án xử công khai sơ thẩm vắng mặt chị Nguyễn Thị Diễm K và anh Mai Văn L.

Chị Nguyễn Thị Diễm K và anh Mai Văn L được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc Toà án niêm yết theo quy định của pháp luật.

Cỡ chữ