vanban.org

Bản án 24/2026/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Xử cho ly hôn giữa chị Đinh Thị Th, anh Vũ Văn D.

Về việc nuôi con: Giao cháu Vũ Việt H, sinh ngày 28/9/2011 cho anh Vũ Văn D trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng cho đến khi cháu thành niên (đủ 18 tuổi). Quyền, nghĩa vụ của cha mẹ và con sau khi ly hôn được thực hiện theo quy định tại Điều 58 của Luật Hôn nhân và gia đình. Về án phí: Chị Đinh…

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Chị Đinh Thị Th ly hôn anh Vũ Văn D"
  • Tòa quyết gì? Xử cho ly hôn giữa chị Đinh Thị Th, anh Vũ Văn D.
  • Căn cứ chính? Điều 85 Bộ luật Tố tụng dân sự Tòa án; Điều 144 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TÒA ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 2- NINH BÌNH
Bản án số:24/2026/HNGĐ - ST
Ngày 20/8/2026
“V/v ly hôn, tranh chấp về nuôi con”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 2- NINH BÌNH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Anh Tuấn

Các hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Văn Cử, bà Đinh Thu Hương

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Hà Trang - Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 2-Ninh Bình.

Ngày 20tháng 8năm2026, tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 2- Ninh Bình xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 61/2026/TLST-HNGĐ ngày 17 tháng 4 năm 2026 về việc“Ly hôn, tranh chấp về nuôi con”theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 27/2026/QĐXXST- HNGĐ, ngày 31tháng 7 năm 2026giữa:

- Nguyên đơn: chị Đinh Thị Th, sinh năm 1988, địa chỉ: xóm L (nay là xóm T), xã Y, tỉnh Ninh Bình; chỗ ở hiện nay: số 27-9, khu O, phường S, thành phố K, tỉnh Saitama, Nhật Bản (vắng mặt).

Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn (nhận văn bản tố tụng): anh Nguyễn Quang N, sinh năm 2005, CCCD số ……..

Địa chỉ: 229, Tây Sơn, phường Kim Liên, thành phố Hà Nội.

- Bị đơn: Anh Vũ Văn D, sinh năm 1984, địa chỉ: xóm L (nay là xóm T), xã Y, tỉnh Ninh Bình (vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện,bản tự khai cũng như tại phiên tòa nguyên đơn chị Đinh Thị Th trình bày:

Chị Đinh Thị Th và anh Vũ Văn D xây dựng gia đình với nhau năm 2011 có đăng ký kết hôn tại UBND xã Yên Mỹ, huyện Yên Mô, tỉnh Ninh Bình (nay là xã Yên Mạc, tỉnh Ninh Bình). Hôn nhân là do chị và anh D tự nguyện. Sau khi kết hôn, vợ chồng chị chung sống với nhau hạnh phúc đến năm 2020 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân dẫn đến mâu thuẫn là do anh chị bất đồng quan điểm sống, vợ chồng thường xảy ra cãi vã. Chị và anh D đã cố gắng nói chuyện để giải quyết mâu thuẫn nhưng không thành. Chị Th nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên chị đề nghị được ly hôn với anh D.

Chị Đinh Thị Th và anh Vũ Văn D có 01 con chung là cháu Vũ Việt H, sinh ngày 28/9/2011. Khi ly hôn, chị Th đề nghị Toà án giao cho anh D được trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng cháu H cho đến khi cháu đủ 18 tuổi, chị và anh D tự thỏa thuận với nhau về việc cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung và nợ chung: Chị Đinh Thị Th không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Bị đơn anh Vũ Văn D trình bày:Anh Vũ Văn D và chị Đinh Thị Th xây dựng gia đình với nhau năm 2011, có đăng ký kết hôn tại UBND xã Yên Mỹ, huyện Yên Mô, tỉnh Ninh Bình (nay là xã Yên Mạc, tỉnh Ninh Bình). Hôn nhân là do anh chị tự nguyện.Sau khi kết hôn, vợ chồng anh chung sống với nhau đến năm 2020, thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân dẫn đến mâu thuẫn là do anh chị bất đồng về quan điểm sống và trong việc xây dựng kinh tế gia đình, anh chị thường xảy ra cãi vã. Anh D cũng nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, anh cũngnhất trí ly hôn với chị Th.

Anh Vũ Văn D và chị Đinh Thị Th có 01 con chung là cháu Vũ Việt H, sinh ngày 28/9/2011. Khi ly hôn, anh D nhất trí với ý kiến của chị Th, đề nghị Toà án giao cho anh được trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng cháu Hoàng cho đến khi cháu đủ 18 tuổi. Anh D tự nguyện không yêu cầu chị Th phải cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản và công nợ chung: Anh Vũ Văn Dkhông yêu cầu Tòa án giải quyết.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên toà, HĐXX nhận định:

[1] Về tố tụng: Nguyên đơn, chị Đinh Thị Th khởi kiện ly hôn đối với anh Vũ Văn D cư trú tại: xóm Lộc (nay là xóm Tạ Uyên), xã Yên Mạc, tỉnh Ninh Bình, Tòa án nhân dân khu vực 2- Ninh Bình thụ lý giải quyết đơn khởi kiện của chị Th, theo quy định tại Điều 28 và 35, 39 Bộ luật Tố tụng dân sự. Quá trình giải quyết vụ án, chị Th có văn bản ủy quyền cho anh Nguyễn Quang N tham gia tố tụng, căn cứ khoản 4 Điều 85 Bộ luật Tố tụng dân sự Tòa án không chấp nhận việc chị Th ủy quyền cho người khác tham gia tố tụng để giải quyết việc ly hôn, tranh chấp về nuôi con. Việc chị Th ủy quyền cho anh Nam để nhận văn bản Tố tụng, Tòa án chấp nhận nội dung ủy quyền này của chị Th. Chị Th, anh D đã được triệu tập hợp lệ, anh chị có đơn đề nghị Tòa tòa giải quyết, xét xử vụ án vắng mặt, căn cứ khoản 1 Điều 228 Tòa án xét xử vắng mặt chị Th, anh D.

[2] Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

Chị Đinh Thị Th và anh Vũ Văn D tự nguyên xây dựng gia đình với nhau, có đăng ký kết hôn tại UBND xã Yên Mỹ, huyện Yên Mô, tỉnh Ninh Bình (nay là xã Yên Mạc, tỉnh Ninh Bình) đây là hôn nhân hợp pháp. Trong quá trình chung sống, chị Th, anh D đều thừa nhận anh chị có xảy ra mâu thuẫn, tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt đượcđây là các tình tiết sự kiện không phải chứng minh theo quy định tại khoản 2 Điều 92 Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa coi đây là sự thật. Quá trình giải quyết vụ án, chị Th, anh D không tham gia hòa giải do Tòa án tiến hành.

Điều đó cho thấy, hôn nhân giữa Chị Đinh Thị Th và anh Vũ Văn D đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài mục đích hôn nhân giữa anh chị không đạt được.

Theo quy định tại Điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình thì:

1. Khi vợ hoặc chồng yêu cầu ly hôn mà hòa giải tại Tòa án không thành thì Tòa án giải quyết cho ly hôn nếu có căn cứ về việc vợ, chồng có hành vi bạo lực gia đình hoặc vi phạm nghiêm trọng quyền, nghĩa vụ của vợ, chồng làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được.

…

Vì vậy, cần chấp nhận yêu cầu khởi kiện ly hôn của chị Đinh Thị Th.

Về việc nuôi con: Chị Đinh Thị Th và anh Vũ Văn D có 01 con chung là cháu Vũ Việt H, sinh ngày 28/9/2011. Quá trình giải quyết vụ án, chị Đinh Thị Th và anh Vũ Văn D đều đề nghị để anh D được trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng cháu Hoàng. Xét thấy, anh D là người có năng lực hành vi dân sự, tự lập cuộc sống, lao động, không mắc bệnh hiểm nghèo hoặc bệnh nặng khác mà không tự chăm sóc được bản thân, hoặc không thể trực tiếp trong nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con và cháu H có nguyện vọng được ở với bố.Như vậy, chị Th đề nghị để anh D trực tiếp trông nom, chăm sóc nuôi dưỡng cháu Hoàng là có căn cứ chấp nhận.

Về cấp dưỡng nuôi con: Xét anh Vũ Văn D, không yêu cầu chị Đinh Thị Th phải cấp dưỡng nuôi con làtự nguyện,nên không buộc chị Th phải cấp dưỡng nuôi con chung.

Về tài sản, công nợ chung: Chị Đinh Thị Th, anh Vũ Văn D không đề nghị Tòa án giải quyết nên Tòa không xét.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ các Điều 51, 55, 58, 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và Gia đình; các Điều 28, 35, 39, 144, 147, khoản 1 Điều 228, Điều 271, Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 6; điểm a khoản 1 Điều 24; điểm a khoản 5Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQI114, ngày 30 tháng 12 năm 2016 quy định về án phí.

1. Xử cho ly hôn giữa chị Đinh Thị Th, anh Vũ Văn D.

2. Về việc nuôi con: Giao cháu Vũ Việt H, sinh ngày 28/9/2011 cho anh Vũ Văn D trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng cho đến khi cháu thành niên (đủ 18 tuổi). Quyền, nghĩa vụ của cha mẹ và con sau khi ly hôn được thực hiện theo quy định tại Điều 58 của Luật Hôn nhân và gia đình.

3. Về án phí: Chị Đinh Thị Th phải chịu án phí ly hôn là 300.000đồng (Ba trăm nghìn đồng), được trừ vào số tiền tạm ứng án phí chị Th đã nộp 300.000đồng theo Giấy nộp tiền thu phí, lệ phí và thu phạt vi phạm hành chính số 1808870 ngày 15 tháng 04 năm 2026(ghị cơ quan thu- Thi hành án dân sự tỉnh Ninh Bình). Chị Đinh Thị Th đã nộp đủ án phí.

Án xử sơ thẩm công khai, chị Đinh Thị Th, anh Vũ Văn D được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kề từ ngày nhận được bản án.

“Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 8 Luật Thị hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 34 Luật Thi hành án”.

Cỡ chữ