vanban.org

Bản án 24/2026/DS-ST — Tranh chấp hợp đồng tín dụng

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng S đối với chị Phạm Ngọc Tường V về Vệc: “Tranh chấp Hợp đồng tín dụng”.

Buộc chị Phạm Ngọc Tường V trả cho Ngân hàng S số tiền tạm tính đến ngày 20-01-2026 là 42.694.293 đồng, trong đó tiền nợ gốc là 31.931.883 đồng, tiền lãi quá hạn là 10.762.410 đồng. Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm khách hàng vay (hoặc bên phải thi hành) còn phải tiếp tục chịu khoản tiền… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng tín dụng — án dân sự — "Ngân hàng S - Phạm Ngọc Tường V - Tranh chấp hợp đồng tín dụng"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng S đối với chị Phạm Ngọc Tường V về Vệc: “Tranh chấp Hợp đồng tín dụng”.
  • Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 26 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 10 - TÂY NINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 24/2026/DS - ST
Ngày: 20-01-2026
V/v Tranh chấp hợp đồng
tín dụng.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 10 - TÂY NINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Lê Thị Ánh Tuyết.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Lê Công Quyền;

2. Bà Phạm Thị Ánh Nguyệt.

- Thư ký phiên toà: Bà Võ Lê Ngọc Hân, Thư ký Toà án nhân dân Khu vực 10 - Tây Ninh.

- Đại diện Vện kiểm sát nhân dân Khu vực 10 - Tây Ninh tham gia phiên tòa: Bà Phạm Hải Yến, Kiểm sát Vên.

Ngày 20 tháng 01 năm 2026, tại trụ sở Toà án nhân dân Khu vực 10 - Tây Ninh xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 646/2025/TLST - DS ngày 13 tháng 10 năm 2025 về Vệc: “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 597/2025/QĐXXST – DS ngày 09 tháng 12 năm 2025 và Quyết định hoãn phiên toà số: 400/2025/QĐST – DS ngày 30 tháng 12 năm 2025, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Ngân hàng S.

Địa chỉ trụ sở: 266 – 268 Nam Kỳ Khởi Nghĩa, phường Xuân Hoà, Thành phố Hồ Chí Minh.

Người đại diện theo pháp luật: Bà Nguyễn Đức Thạch D, chức vụ: Tổng giám đốc.

Người đại diện theo uỷ quyền: Ông Hồ Khanh T, chức vụ: Quyền giám đốc (Theo giấy uỷ quyền số 1184/2025/QĐ – PC ngày 15-4-2025 và Quyết định số 5172/2025/QĐ – QTNNL ngày 12-9-2025).

Người được uỷ quyền lại: Chị Đỗ Thị Thanh H, chức vụ: Chuyên Vên kiểm soát rủi ro (Theo Giấy uỷ quyền số 278/2025/GUQ – CNTN ngày 30-10-2025 của ông Hồ Khanh Tuấn); vắng mặt, có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.

- Bị đơn: Chị Phạm Ngọc Tường V, sinh năm 1997. Địa chỉ: Đường H, khu phố L, phường N, tỉnh Tây NInh; vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo nội dung đơn khởi kiện, quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn Ngân hàng S do chị Đỗ Thị Thanh H là người đại diện theo ủy quyền trình bày:

Ngày 05-6-2024, chị V đã đề nghị với Ngân hàng S ký giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiếm hợp đồng (sau đây được gọi chung là Hợp đồng). Ngày 26-6-2024, Sacombank Tây Ninh phát hành thẻ tín dụng cho chị V, hạn mức thẻ được cấp là 30.000.000 đồng, loại thẻ: 9043-The tin dung Napas EMV, số tài khoản thẻ 3378164101, hạn mức sử dụng là 30.000.000 đồng, lãi suất hiện tại là 33.24%/năm (2.77%/tháng), lãi suất có thay đổi theo từng thời kỳ. Sau khi vay, chị V không thanh toán tiền nợ thẻ tín dụng cho ngân hàng, ngân hàng đã điện thoại nhiều lần và xuống nhà làm Vệc, nhưng khách hàng vẫn không thanh toán nợ thẻ cho ngân hàng dẫn đến quá hạn. Do chị V đã V phạm nghĩa vụ trả nợ, nên ngày 22-7-2025 Ngân hàng đã chuyển dư nợ sang nợ quá hạn. Ngày 22-7-2025, chị V thanh toán 1.754.366 đồng vào tiền gốc. Như vậy tiền gốc tính đến ngày 20-01-2026 là 31.931.883 đồng, lãi quá hạn là 10.762.410 đồng. Nay ngân hàng yêu cầu chị V trả số tiền tạm tính đến ngày 20-01-2026 là 42.694.293 đồng, trong đó nợ gốc là 31.931.883 đồng, lãi quá hạn là 10.762.410 đồng và tiền lãi phát sinh tính từ ngày 21-01-2026 cho đến khi trả dứt nợ vay theo lãi suất quy định tại giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng và các Phụ lục điều khoản điều kiện hợp đồng tín dụng.

Bị đơn chị Phạm Ngọc Tường V đã được Tòa án tống đat Thông báo thụ lý vụ án và triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng không nộp văn bản trình bày ý kiến của mình đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, không cung cấp tài liệu, chứng cứ và không đến Tòa để giải quyết vụ án nên không có ý kiến trình bày.

Ý kiến của Đại diện Vện kiểm sát nhân dân Khu vực 10 - Tây Ninh về Vệc tuân theo pháp luật tố tụng và Vệc giải quyết vụ án:

- Về Vệc tuân theo pháp luật tố tụng: Thẩm phán thụ lý vụ án, thu thập chứng cứ, chuẩn bị xét xử và quyết định đưa vụ án ra xét xử đều bảo đảm đúng thời hạn, nội dung, thẩm quyền theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa thực hiện đúng trình tự, thủ tục đối với phiên tòa dân sự. Đương sự thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ của mình.

- Về Vệc giải quyết vụ án: Căn cứ các Điều 91, 95 Luật các tổ chức tín dụng; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30 tháng 12 năm 2016 phí Tòa án quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng S, buộc chị Phạm Ngọc Tường V trả cho Ngân hàng S số tiền tạm tính đến ngày 20-01-2026 là 42.694.293 đồng, trong đó nợ gốc là 31.931.883 đồng, lãi quá hạn là 10.762.410 đồng và tiền lãi phát sinh tính từ ngày 21-01-2026 cho đến khi trả dứt nợ vay theo lãi suất quy định tại giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng và các Phụ lục điều khoản điều kiện hợp đồng tín dụng. Giải quyết án phí theo quy định pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Căn cứ vào các chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ vụ án được xem xét tại phiên toà và căn cứ kết quả tranh tụng tại phiên toà, ý kiến của đại diện Vện kiểm sát, xét thấy:

Về thủ tục tố tụng:

Về thẩm quyền giải quyết vụ án: Nguyên đơn Ngân hàng S khởi kiện chị Phạm Ngọc Tường V về Vệc “Tranh chấp hợp đồng tín dụng”, chị V có địa chỉ cư trú tại khu phố Hiệp Lễ, phường Tân Ninh, tỉnh Tây Ninh. Căn cứ Điều 26, Điều 35, Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án nhân dân Khu vực 10 – Tây Ninh có thẩm quyền giải quyết vụ án.

Về sự có mặt, vắng mặt của đương sự tại phiên tòa: Người đại diện theo uỷ quyền của nguyên đơn chị Đỗ Thị Thanh Hiền vắng mặt, có đơn đề nghị xét xử vắng mặt; bị đơn chị Phạm Ngọc Tường V được triệu tập hợp lệ lần thứ hai để tham gia phiên toà nhưng chị V vắng mặt không có lý do. Căn cứ Điều 227, Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự nêu trên.

Về nội dung: Ngày 05-6-2024, chị Phạm Ngọc Tường V có vay tiền tại Ngân hàng S, Vệc vay tiền được thể hiện thông qua Đề nghị kiêm hợp đồng phát hành và sử dụng thẻ cá nhân ngày 05-6-2024 kèm theo Điều khoản và điều kiện phát hành và sử dụng thẻ cá nhân. Sau khi vay, tính đến ngày 22-7-2025 chị V trả được số tiền gốc là 1.754.366 đồng rồi ngưng, không trả tiếp là V phạm nghĩa vụ trả nợ của bên vay theo thoả thuận nên Ngân hàng S khởi kiện yêu cầu chị V trả số tiền tạm tính đến ngày 20-01-2026 là 42.694.293 đồng, trong đó nợ gốc là 31.931.883 đồng, lãi quá hạn là 10.762.410 đồng và tiền lãi phát sinh tính từ ngày 21-01-2026 cho đến khi trả dứt nợ theo lãi suất quy định tại Đề nghị kiêm hợp đồng phát hành và sử dụng thẻ cá nhân ngày 05-6-2024 kèm theo Điều khoản và điều kiện phát hành và sử dụng thẻ cá nhân là có căn cứ chấp nhận.

Về án phí dân sự sơ thẩm: Căn cứ Điều 26 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án:

- Chị Phạm Ngọc Tường V chịu 2.135.000 đồng (đã làm tròn số).

- Ngân hàng S không phải chịu án phí. Hoàn trả cho Ngân hàng S số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 928.000 đồng theo Biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0006839 ngày 10-10-2025 của Thi hành án dân sự tỉnh Tây Ninh.

Xét đề nghị của Đại diện Vện kiểm sát nhân dân Khu vực 10 - Tây Ninh là có căn cứ và phù hợp với quy định pháp luật nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ:

- Các Điều 91, 95 Luật các tổ chức tín dụng năm 2010, sửa đổi bổ sung năm 2017;

- Điều 26 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30 tháng 12 năm 2016 phí Tòa án quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Tuyên xử:

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng S đối với chị Phạm Ngọc Tường V về Vệc: “Tranh chấp Hợp đồng tín dụng”.

- Buộc chị Phạm Ngọc Tường V trả cho Ngân hàng S số tiền tạm tính đến ngày 20-01-2026 là 42.694.293 đồng, trong đó tiền nợ gốc là 31.931.883 đồng, tiền lãi quá hạn là 10.762.410 đồng.

- Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm khách hàng vay (hoặc bên phải thi hành) còn phải tiếp tục chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất các bên thỏa thuận trong hợp đồng cho đến khi thanh toán xong. Trường hợp trong hợp đồng tín dụng, các bên có thoả thuận về Vệc điều chỉnh lãi suất cho vay theo từng thời kỳ của Ngân hàng cho vay thì lãi suất mà khách hàng vay phải tiếp tục thanh toán cho Ngân hàng cho vay theo quyết định của Toà án cũng sẽ được điều chỉnh cho phù hợp với sự điều chỉnh lãi suất của Ngân hàng cho vay.

2. Về án phí dân sự sơ thẩm:

- Chị Phạm Ngọc Tường V chịu 2.135.000 đồng.

- Ngân hàng S không phải chịu án phí. Hoàn trả cho Ngân hàng S số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 928.000 đồng theo Biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0006839 ngày 10-10-2025 của Thi hành án dân sự tỉnh Tây Ninh.

3. Về quyền kháng cáo: Đương sự được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.

Trong trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ