- Tranh chấp gì? án hình sự — "Lường Văn N - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Lường Văn N phạm tội: Tàng trữ trái phép chất ma tuý.
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 249 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 6 - SƠN LA | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 24/2025/HSST Ngày 08 - 9 - 2025 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 6 - SƠN LA
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Bàn Văn Hoàng.
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Bà Nguyễn Thị Hiền
2. Bà Trần Thị Thu Thủy
Thư ký phiên tòa: Bà Hà Thị Hằng Giang - Thư ký Toà án nhân dân khu vực 6 - Sơn La.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 6 - Sơn La tham gia phiên toà:
Bà Đinh Thu Huệ - Kiểm sát viên.
Ngày 08 tháng 9 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 6 - Sơn La, xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 27/2025/TLST - HS ngày 26 tháng 8 năm 2025 theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 30/2025/QĐXXST - HS ngày 26 tháng 8 năm 2025 đối với bị cáo.
Họ và tên: Lường Văn N tên gọi khác: Không; sinh năm 1996; Tại xã C, tỉnh Sơn La; Nơi cư trú: Bản S, xã C, tỉnh Sơn La: Nghề nghiệp: Trồng trọt; Trình độ học vấn: Lớp 6/12; Dân tộc: Thái; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Đảng phái đoàn thể: Không; Con ông: Lường Văn B (Đã chết) và bà Mùi Thị Q; Bị cáo có vợ là Hoàng Thị H và 01 con, sinh năm 2020; Đều cư trú tại: Bản S, xã C, tỉnh Sơn La.
Tiền án: Tiền sự: Không: Nhân thân: Ngày 25 - 10 - 2016 bị Tòa án nhân dân huyện Mộc Châu, tỉnh Sơn La xử phạt 18 tháng tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy, theo khoản 1 Điều 194 của Bộ luật hình sự (đã được xóa án tích).
Tiền sự: Ngày 27 - 12 - 2011 bị Công an huyện Mộc Châu ra quyết định xử lý hành chính về hành vi đánh bạc (chưa được xóa).
Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam ngày 02/7/2025 tại Phân trại tạm giam khu vực Mộc Châu, Công an tỉnh Sơn La cho đến nay có mặt tại phiên tòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, vụ án được tóm tắt như sau:
Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo Lường Văn N khai nhận như sau: Bản thân nghiện ma túy, nên khoảng 15 giờ 00 phút ngày 02/7/2025 Ngân đi bộ từ nhà ra tổ dân phố P, phường M tìm mua ma túy về để sử dụng. Tại đường dân sinh tổ dân phố P, phường M, N gặp và hỏi mua được của một người đàn ông dân tộc Mông (không quen biết) 01 gói hồng phiến bọc trong nilon màu xanh với giá 1.000.000 đồng. Sau khi mua được ma túy N đi vào bụi cây ven đường lấy ra 01 viên sử dụng bằng hình thức đốt hít vào cơ thể. Số còn lại N gói lại như cũ cất vào túi quần bên phải đang mặc đi về nhà. Trên đường về đến tổ dân phố Thái Hưng, Phường M bị tổ công tác Công an Phường M phát hiện bắt quả tang về hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy. Vật chứng thu giữ: 44 viên nén màu hồng trên bề mặt mỗi viên điều có chữ WY, nghi là ma túy tổng hợp.
Ngày 02/7/2025 Cơ quan điều tra Công an tỉnh Sơn La cân tịnh, xác định khối lượng đối 44 viên nén màu hồng thu giữ của Lường Văn N được 4,32 gam; lấy 05 viên có khối lượng 0,45 gam làm mẫu gửi giám định ký hiệu N1.
Tại bản kết luận giám định số: 736/KL – KTHS ngày 04/7/2025 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Sơn La kết luận “Mẫu ký hiệu N1 gửi giám định là ma túy, loại Methamphetamine; khối lượng của mẫu gửi giám định là 0,45 gam; Tổng khối lượng ma túy thu giữ là 4,32 gam”. Mẫu gửi giám định ký hiệu N đã sử dụng hết trong quá trình giám định.
Tại bản cáo trạng số 26/CT - VKS ngày 25/8/2025 của Viện kiểm sát nhân khu vực 6, tỉnh Sơn La đã truy tố Lường Văn N về tội: Tàng trữ trái phép chất ma tuý theo điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự.
Tại phiên toà Kiểm sát viên phát biểu luận tội vẫn giữ nguyên quyết định như cáo trạng truy tố đối với bị cáo Lường Văn N về tội danh, đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Lường Văn N phạm tội: Tàng trữ trái phép chất ma túy:
a, Về trách nhiệm hình sự:
- Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; khoản 1 Điều 38 BLHS xử phạt bị cáo Lường Văn N từ 4 năm 06 (sáu) tháng đến 05 năm tù về tội: Tàng trữ trái phép chất ma tuý.
- Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
b, Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106 BLTTHS đề nghị:
- Tuyên tiêu huỷ: 01 phong bì do Bưu điện Việt Nam phát hành còn niêm phong, bên trong có: 01 mảnh nilon màu xanh, 01 túi nilon màu xanh, 39 viên nén màu hồng = 3,87 gam, ký hiệu N2 mặt trước phong bì ghi: Vật chứng còn vụ Lường Văn N bắt ngày 02/7/2025. Mặt sau được dán đè giấy niêm phong của Công an tỉnh Sơn La số 0043882.
c, Về án phí: Đề nghị căn cứ khoản 2 Điều 136 BLTTHS; Điều 21 điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị Quyết 326/2016/UBTVQH14 của UBTV Quốc hội, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án. Bị cáo Lường Văn N phải chịu 200.000 đồng án phí HSST.
Do hành vi của bị cáo đã rõ, nên bị cáo Lường Văn N không có ý kiến gì tranh luận đối đáp với Kiểm sát viên tại phiên tòa. Lời nói sau cùng bị cáo đề nghị HĐXX giảm nhẹ hình phạt tù cho bị cáo.
Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu có trong hồ sơ, đã được thẩm tra tại phiên tòa; Căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên toà trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định của Cơ quan điều tra Công an tỉnh Sơn La, Viện kiểm sát nhân dân khu vực 6, tỉnh Sơn La, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Lời khai nhận của bị cáo tại phiên tòa về thời gian, địa điểm và diễn biến sự việc phù hợp với bản cáo trạng truy tố của Viện kiểm sát, bị cáo không có ý kiến gì thay đổi hay bổ sung gì và phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang cùng vật chứng thu giữ. Kết luận giám định “Khối lượng chất ma túy bị thu giữ là 4,32 gam”. Như vậy: Có đủ căn cứ kết luận: Ngày 02/7/2025 bị cáo Lường Văn N, sinh năm 1996 bị bắt quả tang về hành vi tàng trữ trái phép 4,32 gam Methamphetamine.
Xét hành vi phạm tội của bị cáo thuộc trường hợp nghiêm trọng và nguy hiểm cho xã hội đã xâm phạm đến chính sách quản lý độc quyền về các chất ma tuý của Nhà nước, xâm phạm trật tự an toàn xã hội, sức khỏe con người và sự phát triển bình thường của nòi giống dân tộc, phá hoại nhân cách con người, phá hoại hạnh phúc gia đình, gây xói mòn đạo lý, là nguyên nhân làm gia tăng các tội phạm khác, vắt kiệt nhân lực, tài chính gia đình và làm ảnh hưởng xấu đến trật tự an toàn tại địa phương. Bị cáo nhận thức được việc mua chất ma túy là Methamphetamine để sử dụng là vi phạm pháp luật, nhưng vì nhu cầu sử dụng của bản thân, bị cáo cố tình thực hiện hành vi phạm tội. Hành vi phạm tội của bị cáo đã phạm vào tội: Tàng trữ trái phép chất ma túy; Do bị cáo Lường Văn N thực hiện hành vi phạm tội sau 0 giờ 00 phút ngày 01/7/2025, nên áp dụng Bộ luật hình sự năm 2015, đã sửa đổi, bổ sung một năm 2025 (gọi là Bộ luật hình sự) để xét xử bị cáo Lường Văn Ngân theo điểm c khoản 1 Điều 4 Luật số 86/2025/QH15 ngày 25/6/2025 của Quốc hội là phù hợp và có khung hình phạt tù từ 03 năm đến 05 năm tù. Tại phiên tòa bị cáo Lường Văn N khai nhận việc bị truy tố và bị đưa ra xét xử là đúng người, đúng tội, không oan, sai cho bị cáo. Bị cáo là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nên bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự theo quy định của pháp luật, nhằm cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định nhằm cải tạo, giáo dục bị cáo, để bị cáo có ý thức tuân theo pháp luật, để răn đe, phòng ngừa và thực hiện nhiệm vụ đấu tranh phòng chống tệ nạn ma tuý nói chung tại địa phương hiện nay.
Về nhân thân của bị cáo: - Tiền sự: Ngày 27 - 12 - 2011 bị Công an huyện Mộc Châu, tỉnh Sơn La ra quyết định xử lý hành chính về hành vi đánh bạc bằng hình thức cảnh cáo (tiền sự chưa được xóa).
- Ngày 25 - 10 - 2016 bị Tòa án nhân dân huyện Mộc Châu, tỉnh Sơn La xử phạt 18 tháng tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy, theo khoản 1 Điều 194 của Bộ luật hình sự. Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 70 của Bộ luật hình sự thì tiền án trên đương nhiên được xóa án tích. Lẽ ra bị cáo phải lấy đó làm bài học để rèn luyện bản thân, trở thành công dân tốt cho gia đình và xã hội, nhưng do nghiện ma túy nên bị cáo lại tiếp tục đi tìm mua ma túy để sử dụng cho bản thân. Như vậy bị cáo vẫn được coi là có nhân thân xấu.
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Sau khi phạm tội tại Cơ quan điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải là tình tiết giảm trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự để giảm trách nhiệm hình sự cho bị cáo.
Về hình phạt bổ sung quy định tại khoản 5 Điều 249 của Bộ luật hình sự. Qua xác minh, bị cáo hiện nay đang sống vào nghề lao động tự do, không có tài sản riêng có giá trị, nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
Về nguồn gốc ma túy: Bị cáo Lường Văn N khai mua với 01 người đàn ông dân tộc Mông bị cáo N gặp tại khu vực đường dân sinh, bị cáo không biết tên, tuổi, địa chỉ cụ thể, Nên Cơ quan điều tra Công an tỉnh Sơn La không có cơ sở điều tra xử lý đối với đối tượng đã bán ma túy cho bị cáo. Buộc bị cáo Lường Văn N phải chịu trách nhiệm hình sự toàn bộ số 4,32 gam Methamphetamine thu giữ nêu trên.
Xét quan điểm luận tội của Kiểm sát viên:
Kiểm sát viên giữ quyền công tố tại phiên tòa, đề nghị HĐXX áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 38 BLHS xử phạt bị cáo Lường Văn N từ 04 năm 06 (sáu) tháng đến 05 năm tù về tội: Tàng trữ trái phép chất ma tuý. Đề nghị và đối đáp của Kiểm sát viên là có căn cứ đúng pháp luật nên được HĐXX chấp nhận.
Vật chứng vụ án: Đối với 01 phong bì do Bưu điện Việt Nam phát hành còn niêm phong, bên trong có: 01 mảnh nilon màu xanh, 01 túi nilon màu xanh, 39 viên nén màu hồng = 3,87 gam, ký hiệu N2 mặt trước phong bì ghi: Vật chứng còn vụ Lường Văn N bắt ngày 02/7/2025. Mặt sau được dán đè giấy niêm phong của Công an tỉnh Sơn La số 0043882, vật chứng trên là vật bị Nhà nước cấm tàng trữ, cấm lưu hành và vật không có giá trị sử dụng, nên cần tiêu hủy theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự và điểm a, c khoản 2 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự.
Về án phí: Bị cáo Lường Văn N phải chịu án phí hình sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên:
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 38 của Bộ luật hình sự.
Tuyên bố bị cáo Lường Văn N phạm tội: Tàng trữ trái phép chất ma tuý.
- Xử phạt bị cáo Lường Văn N 05 (Năm) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 02/7/2025.
Không áp dụng hình phạt bổ sung - phạt tiền đối với bị cáo.
2. Vật chứng vụ án: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự và điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.
Tuyên tiêu hủy: 01 phong bì do Bưu điện Việt Nam phát hành còn niêm phong, bên trong có: 01 mảnh nilon màu xanh, 01 túi nilon màu xanh, 39 viên nén màu hồng = 3,87 gam, ký hiệu N2 mặt trước phong bì ghi: Vật chứng còn vụ Lường Văn N bắt ngày 02/7/2025. Mặt sau được dán đè giấy niêm phong của Công an tỉnh Sơn La số 0043882.
Theo biên bản bàn giao vật chứng số: 31/BBVC - THA ngày 25/8/2025 của Phòng Thi hành án dân sự số 6, tỉnh Sơn La.
3. Về án phí: Căn cứ Điều 135, khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự và điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị Quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Bị cáo Lường Văn N phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
4. Về quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331, Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự: Bị cáo Lường Văn N có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án./. Nơi nhận:
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
- TA ND Tỉnh;
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
- VKSND khu vực 6 (02);
- Công an (02);
- THA hình sự;
(Đã ký)
- THA DS tỉnh Sơn La;
- Trại Giam;
- Phòng hồ sơ nghiệp vụ (PV06) Công an tỉnh Sơn La;
Bàn Văn Hoàng
- Bi cáo;
- Lưu hồ sơ; THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Thị Thu Thủy Nguyễn Thị Hiền
Bàn Văn Hoàng Nơi nhận:
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
- Toà án ND tỉnh;
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
- VKSND huyện (02 bản);
- Công an tỉnh (02 bản);
- Sở Tư pháp;
- Trại giam;
- THA hình sự;
- THA dân sự;
- Bị cáo;
- Sở Tư pháp;
Bàn Văn Hoàng
- Lưu án văn;
- Lưu hồ sơ.
| Nơi nhận: - Toà án ND tỉnh; - VKSND huyện (02 bản); - Công an tỉnh (02 bản); - Trại giam; - THA hình sự; - THA dân sự; - Bị cáo; - Người LQ; - Sở Tư pháp; - Lưu án văn; - Lưu hồ sơ. N¬i nhËn: - TA ND TØnh; - VKSND (02); - Sở Tư pháp; - CQĐT + TG - Công an Quỳnh Nhai (02); - THA h×nh sù; - THA d©n sù; - UBND xã Mường Giàng; - BÞ c¸o; - L u hå s¬; \ | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Bàn Văn Hoàng T/m.héi ®ång xÐt xö s¬ thÈm THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Bàn Văn Hoàng |