- Tranh chấp gì? án hình sự — "Trần Hữu Lâm - Lừa đảo chiếm đoạt tài sản - phạm tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản (điều 139 Bộ luật hình sự năm 1999)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Trần Hữu Lâm phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 174 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 1 – CẦN THƠ | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 24/2025/HS-ST Ngày: 18/8/2025 |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 1 - CẦN THƠ
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Phi Long.
- Các Hội thẩm nhân dân:
1. Bà Trần Thị Dung
2. Bà Quách Thị Thu Hƣơng
- Thư ký phiên tòa: Bà Nhâm Thị Thanh Trang – Thẩm tra viên Tòa án nhân dân khu vực 1 – Cần Thơ.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 1 – Cần Thơ tham gia phiên tòa: Ông Trần Bửu Thanh – Kiểm sát viên.
Trong ngày 18 tháng 8 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 1 – Cần Thơ xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 02/2025/TLST-HS ngày 03 tháng 7 năm 2025, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 150/2025/QĐXXST-HS ngày 28/7/2025 đối với:
* Bị cáo: Trần Hữu Lâm, sinh ngày 13/8/2008, tại Hậu Giang (nay là thành phố Cần Thơ).
Nơi thường trú: Số 12A, khu vực 5, phường Ba Láng, quận Cái Răng, thành phố Cần Thơ (Nay là: Số 12A, khu vực 5, phường Cái Răng, thành phố Cần Thơ); Nghề nghiệp: Không; Trình độ học vấn: 06/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Trần Hữu Đức (chết) và con bà Nguyễn Thị Kiều; anh chị em ruột không có.
Tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo bị bắt khẩn cấp, tạm giữ từ ngày 07/4/2025 đến ngày 10/4/2025 thì được trả tự do. Hiện bị cáo đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú. (Bị cáo có mặt tại phiên tòa)
Người đại diện hợp pháp của bị cáo: Bà Trần Thị Trúc Linh, sinh năm 1967 (Bà nội bị cáo); Địa chỉ: Số 12A, khu vực 5, phường Ba Láng, quận Cái Răng, thành phố Cần Thơ (Nay là: Số 12A, khu vực 5, phường Cái Răng, thành phố Cần Thơ). Có mặt.
Người bào chữa cho bị cáo: Bà Lê Thị Tiền, sinh ngày 01/01/1980 – Trợ giúp viên pháp lý - Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước thành phố Cần Thơ; Địa chỉ: Số 01A Trần Khánh Dư, phường Ninh Kiều, thành phố Cần Thơ. Có mặt.
* Bị hại: Bà Lê Thị So, sinh năm 1985; Địa chỉ: ấp Phú Hòa Yên, xã Song Phú, huyện Tam Bình, tỉnh Vĩnh Long. (ấp Phú Hòa Yên, xã Song Phú, tỉnh Vĩnh Long). Có đơn xin giải quyết vắng mặt.
* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
+ Bà Võ Thị Minh Thƣ, sinh năm 2004; Địa chỉ: ấp Phú Hòa Yên, xã Song Phú, huyện Tam Bình, tỉnh Vĩnh Long. (ấp Phú Hòa Yên, xã Song Phú, tỉnh Vĩnh Long). Có đơn xin giải quyết vắng mặt.
+ Ông Đinh Quang Tím, sinh năm 1954; Địa chỉ: 66/5B, Cách Mạng Tháng 8, phường Cái Khế, quận Ninh Kiều, thành phố Cần Thơ (Nay là: 66/5B, Cách Mạng Tháng 8, phường Cái Khế, thành phố Cần Thơ). Có đơn xin giải quyết vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Khoảng 16 giờ ngày 06/4/2025, bị cáo Trần Hữu Lâm nhờ Nguyễn Hữu Hậu là người ở cùng phòng trọ tại số 188/6, đường Lê Hồng Phong, phường Trà Nóc, quận Bình Thủy, thành phố Cần Thơ chở bị cáo đi đến quán Cô 3 Còi nhưng anh Hậu mệt nên không đi, sau đó bị cáo nhờ Lý Thanh Tiền là người ở cùng nhà trọ chở bị cáo đi đến quán Cô 3 Còi thì anh Tiền đồng ý. Đến khoảng 16 giờ 30 phút cùng ngày, bị cáo điều khiển xe mô tô Honda Wave Alpha, biển kiểm soát 70H4-1215 của anh Tiền chở Tiền đến quán nhưng không vào quán mà đậu xe bên ngoài, bị cáo xuống xe đi bộ vào bãi xe của quán Cô 3 Còi tại số 9/15 đường Nguyễn Văn Cừ, khu vực 3 Sông Hậu, phường Cái Khế, quận Ninh Kiều, thành phố Cần Thơ để tìm và phát hiện xe mô tô Honda SH Mode, biển kiểm soát 64B1-759.53 của chị Lê Thị So đang gửi tại bãi xe (khi gửi xe chị So được nhân viên bảo vệ ghi phiếu xe số 75953) nhưng quên rút chìa khóa xe, lúc này bị cáo nảy sinh ý định chiếm đoạt xe, do không có phiếu xe để lấy xe nên bị cáo rút chìa khóa trên xe cất giấu vào trong túi quần, sau đó bị cáo ra mượn xe mô tô Wara Alpha biển kiểm soát 70H4-1215 của Tiền gửi ở bãi xe phía trước quán Cô Còi để lấy phiếu xe số 1215 của quán rồi cầm phiếu xe này sang bãi xe đối diện và lấy xe mô tô Honda SH Mode, biển kiểm soát 64B1-759.53 ra, nhưng ông Ngô Văn Hùng là nhân viên bảo vệ của quán không cho bị cáo lấy xe, bị cáo trả lại phiếu xe số 1215 cho anh Tiền rồi Tiền lấy xe mô tô Hoda Wave Alpha, biển kiểm soát 70H4-1215 ra về trước, còn bị cáo đi xung quanh các bãi xe của quán Cô 3 Còi nhặt được phiếu trắng của quán và bị cáo dùng phiếu này lừa đối nhân viên bảo vệ lấy xe mô tô Honda SH Mode, biển kiểm soát 64B1-759.53 ra, lúc này ông Đinh Quang Tím là nhân viên bảo vệ của quán vừa đổi ca với ông Hùng thấy số phiếu giống với biển kiểm soát xe nên cho bị cáo lấy xe ra. Sau khi chiếm đoạt được xe, bị cáo điều khiển xe về nhà trọ tại số 188/6, đường Lê Hồng Phong, phường Trà Nóc, quận Bình Thủy, thành phố Cần Thơ cất giấu.
Qua trích xuất, kiểm tra dữ liệu camera an ninh nên ngày 07/4/2025 Công an phường Cái Khế đã mời bị cáo về trụ sở làm việc và bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, đồng thời thu giữ được xe mô tô Honda SH Mode, biển kiểm soát 64B1-759.53 cùng một số vật chứng khác.
Tang vật bị thu giữ:
- 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda SH Mode 125, biển kiểm soát 64B1-759.53, màu trắng nâu, số máy: JF51E0423398, số khung: RLHJF5120FY160325, đăng ký ngày 08/4/2022, tình trạng xe bình thường, đã qua sử dụng; 01 căn cước công dân số 086304010372 tên Võ Thị Minh Thư; 01 giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô, xe máy tên Võ Thị Minh Thư, biển kiểm soát 64B1-759.53; 01 thẻ nhựa ngân hàng BIDV tên Vo Thi My Tien.
- 01 áo khoác dài tay màu kem, tay áo màu nâu, có chữ SUPKELHC, đã qua sử dụng.
- 01 nón bảo hiểm màu đen, đã qua sử dụng.
- 01 đôi dép nhựa màu đen, quai màu trắng, có chữ KOLA, đã qua sử dụng.
- Các phiếu và mảnh phiếu giữ xe (kèm theo hồ sơ vụ án).
- 01 đĩa DVD lưu trữ các đoạn video ghi lại diễn biến vụ án (kèm theo hồ sơ vụ án).
Tại Kết luật định giá tài sản số 787/KL-HĐĐG ngày 10/4/2025 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự Ủy ban nhân dân quận Ninh Kiều kết luận: giá trị còn lại 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda SH Mode 125, biển kiểm soát 64B1-759.53, màu trắng nâu, số máy: JF51E0423398, số khung: RLHJF5120FY160325, đăng ký ngày 08/4/2022, tình trạng xe bình thường, đã quan sử dụng bị chiếm đoạt có giá 35.000.000 đồng.
Tại kết luận số 359/KL-KTHS ngày 29/4/2025 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an thành phố Cần Thơ kết luận: Không đủ cơ sở kết luận chữ viết số “75953” trên tài liệu cần giám định ký hiệu A so với chữ viết số của Trần Hữu Lâm trên các tài liệu mẫu ký hiệu M1, M2 có phải do cùng một người viết ra không.
Tại Cơ quan Cảnh sát điều tra, bị cáo đã thừa nhận toàn bộ hành vi nêu trên.
Xử lý vật chứng: Công an thành phố Cần Thơ đã ra Quyết định xử lý vật chứng để trả lại các vật chứng, đồ vật này cho Võ Thị Minh Thư, gồm: 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda SH Mode 125, biển kiểm soát 64B1-759.53, màu trắng nâu, số máy: JF51E0423398, số khung: RLHJF5120FY160325, đăng ký ngày 08/4/2022, tình trạng xe bình thường, đã qua sử dụng; 01 căn cước công dân số 086304010372 tên Võ Thị Minh Thư; 01 giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô, xe máy tên Võ Thị Minh Thư, biển kiểm soát 64B1-759.53; 01 thẻ nhựa Ngân hàng BIDV tên Vo Thi My Tien.
Về trách nhiệm dân sự: Đại diện bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án đã nhận lại tài sản bị chiếm đoạt và không có yêu cầu gì khác nên không đạt ra giải quyết.
Tại bản Cáo trạng số 150/CT-VKSNK, ngày 29 tháng 6 năm 2025, Viện kiểm sát nhân dân quận Ninh Kiều, thành phố Cần Thơ (Nay là: Viện kiểm sát nhân dân khu vực 1 – Cần Thơ) truy tố các bị cáo Trần Hữu Lâm về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo khoản 1 Điều 174 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Tại phiên tòa,
Kiểm sát viên giữ quyền công tố tại phiên tòa giữ nguyên nội dung cáo trạng, không bổ sung gì thêm, đồng thời phân tích tính chất, mức độ, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ đối với bị cáo và đề nghị như sau:
Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Trần Hữu Lâm phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo khoản 1 Điều 174 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Về trách nhiệm hình sự: Áp dụng khoản 1 Điều 174; Điều 50; điểm i, s Khoản 1, Khoản 2 Điều 51; Điều 54; Điều 65, Điều 91 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017, xử phạt bị cáo Trần Hữu Lâm từ 01 năm đến 01 năm 06 tháng tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách từ 02 năm đến 03 năm.
Về xử lý vật chứng: Đề nghị áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015.
- Tịch thu tiêu huỷ: 01 áo khoác dài tay màu kem, tay áo màu nâu, có chữ SUPKELHC, đã quan sử dụng; 01 nón bảo hiểm màu đen, đã quan sử dụng; 01 đôi dép nhựa màu đen, quai màu trắng, có chữ KOLA, đã qua sử dụng.
- Lưu giữ trong hồ sơ vụ án: Các phiếu và mảnh phiếu giữ xe; 01 đĩa DVD lưu trữ các đoạn video ghi lại diễn biến vụ án.
- Ghi nhận Cơ quan Cảnh sát điều tra – Công an thành phố Cần Thơ đã trả lại cho bà Võ Thị Minh Thư 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda SH Mode 125, biển kiểm soát 64B1-759.53, màu trắng nâu, số máy: JF51E0423398, số khung: RLHJF5120FY160325, đăng ký ngày 08/4/2022, tình trạng xe bình thường, đã qua sử dụng; 01 căn cước công dân số 086304010372 tên Võ Thị Minh Thư; 01 giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô, xe máy tên Võ Thị Minh Thư, biển kiểm soát 64B1-759.53; 01 thẻ nhựa ngân hàng BIDV tên Vo Thi My Tien theo Biên bản về việc trả lại tài sản, đồ vật, tài liệu.
Về trách nhiệm dân sự: Bị hại, chủ sở hữu tài sản không yêu cầu bị cáo phải bồi thường nên không đặt ra xem xét, giải quyết.
Người bào chữa cho bị cáo Bà Lê Thị Tiền, sinh ngày 01/01/1980 – Trợ giúp viên pháp lý - Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước thành phố Cần Thơ phát biểu: Thống nhất bản luận tội của đại diện Viện kiểm sát. Đề nghị cho bị cáo được hưởng sự khoan hồng của pháp luật vì hoàn cảnh của bị cáo rất khó khăn, mẹ bỏ đi từ lúc nhỏ, còn cha thì đã chết, hiện nay bị cáo sống với bà nội, thiếu sự dạy dỗ của cha mẹ, bị cáo nghỉ học sớm để phụ giúp bà nội nên nhận thức pháp luật còn thấp dẫn đến vi phạm pháp luật. Vì vậy, Đề nghị cho bị cáo được hưởng mức án treo cũng đủ giáo dục đối với bị cáo.
Tại phiên tòa, Bị cáo trình bày: Bị cáo thừa nhận hình vi đúng như cáo trạng của Viện kiểm sát truy tố. Mục đích bị cáo làm giả phiếu giữ xe để thực hiện hành vi chiếm đoạt chiếc xe làm phương tiện đi lại, xe đã bị Cơ quan cảnh sát điều tra thu giữ và đã trả lại cho chủ sở hữu. Bị cáo ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình.
Lời nói sau cùng của bị cáo: Bị cáo đã biết sai, xin Hội đồng xét xử cho bị cáo được hưởng án treo để còn có cơ hội sửa chữa, cải tạo tốt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát nhân dân khu vực 1 – Cần Thơ, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra và truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, người bào chữa cho bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Đối với bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đã được Tòa án triệu tập hợp lệ và có đơn xin xét xử vắng mặt. Hội đồng xét xử nhận thấy trong quá trình điều tra đã có ý kiến của bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan và việc vắng mặt của họ không gây trở ngại cho việc xét xử do đó Hội đồng xét xử thống nhất tiến hành xét xử vắng mặt bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan theo quy định tại Điều 292 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.
. Về hành vi phạm tội của bị cáo: Lời khai nhận của bị cáo Trần Hữu Lâm thừa nhận hành vi đã thực hiện như Cáo trạng truy tố, lời thừa nhận của bị cáo phù hợp với lời khai của bị hại, người làm chứng trong quá trình điều tra, phù hợp với biên bản làm việc, biên bản lấy lời khai, vật chứng thu giữ,… cùng các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xem xét. Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Do muốn chiếm đoạt tài sản của người khác, vào khoảng 16 giờ 30 phút ngày 06/4/2025, bị cáo Trần Hữu Lâm đã dùng thủ đoạn gian dối ghi giả phiếu giữ xe để chiếm đoạt tài sản là chiếc xe mô tô Honda SH Mode, biển kiểm soát 64B1-759.53 của chị Lê Thị So đang gửi tại bãi giữ xe quán Cô 3 Còi tại số 9/15 đường Nguyễn Văn Cừ, khu vực 3 Sông Hậu, phường Cái Khế, quận Ninh Kiều, thành phố Cần Thơ, tài sản bị chiếm đoạt theo Kết luật định giá tài sản số 787/KL-HĐĐG ngày 10/4/2025 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự Ủy ban nhân dân quận Ninh Kiều kết luận: giá trị còn lại 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda SH Mode 125, biển kiểm soát 64B1-759.53, màu trắng nâu, số máy: JF51E0423398, số khung: RLHJF5120FY160325, đăng ký ngày 08/4/2022, tình trạng xe bình thường, đã quan sử dụng bị chiếm đoạt có giá 35.000.000 đồng. Hành vi này của bị cáo Trần Hữu Lâm đã đủ yếu tố cấu thành tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” được quy định tại khoản 1 Điều 174 của Bộ luật Hình sự. Vì vậy, Cáo trạng Viện kiểm sát nhân dân quận khi vực 1 – Cần Thơ truy tố bị cáo với tội danh và điều luật nêu trên là đúng người, đúng tội, không oan sai.
. Bị cáo là người có năng lực trách nhiệm hình sự, bị cáo dùng thủ đoạn gian dối làm giả phiếu giữ xe để chiếm đoạt tài sản của người khác. Lẽ ra, hành vi của bị cáo nên dừng lại khi bị cáo dùng phiếu gửi xe số 1215 để lấy xe nhưng nhân viên bảo vệ không cho lấy. Bị cáo vẫn tiếp tục đi tìm phiếu gửi xe khác để làm giả. Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm trực tiếp đến quyền sở hữu về tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ, không an tâm cho người có tài sản, gây mất lòng tin đối với mọi người xung quanh, gây mất an ninh trật tự tại địa phương. Vì vậy, cần được xử nghiêm bằng chế tài hình sự để răn đe, giáo dục, phòng ngừa chung.
Tuy nhiên, bị cáo có hoàn cảnh đặc biệt mồ côi cha, mẹ bỏ đi từ khi bị cáo còn nhỏ phải sống bên bà nội, thiếu sự dạy dỗ chăm sóc của cha mẹ, bị cáo người chưa thành niên, thực hiện hành vi phạm tội lúc bị cáo 16 tuổi 7 tháng 23 ngày nên nhận thức pháp luật của bị cáo còn hạn chế, bị cáo phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, bị hại cũng có yêu cầu xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, bị cáo có nơi cư trú ổn định, có khả năng tự cải tạo và việc cho bị cáo hưởng án treo không gây nguy hiểm cho xã hội; không ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội. Do đó, Hội đồng xét xử xét thấy không cần cách ly bị cáo ra ngoài xã hội và cho bị cáo hưởng một mức án giáo dục tại địa phương cũng đủ sức răn đe đối với bị cáo.
Xét lời bào chữa của Trợ giúp viên pháp lý phù hợp với lời đề nghị của Kiểm sát viện nên Hội đồng xét xử cho bị cáo được hưởng mức án treo, không cần cách ly bị cáo khỏi xã hội, cũng đảm bảo tính giáo dục răn đe.
. Xét về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng.
. Xét về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa, bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội, thành khẩn khai báo về hành vi thực hiện, thể hiện sự ăn năn, hối cải về hành vi phạm tội của mình, bị cáo không có tiền án tiền sự và phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ích nghiệm trọng nên được xem xét áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm i, s Khoản 1, Khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017.
. Về xử lý vật chứng: Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 1 – Cần Thơ đề nghị là phù hợp nên chấp nhận.
. Về trách nhiệm dân sự: Chủ sở hữu tài sản đã nhận lại tài sản. Bị hại và chủ sở hữu tài sản không yêu cầu các bị cáo phải bồi thường trách nhiệm dân sự nên không đặt ra xem xét giải quyết.
. Từ những phân tích trên, Hội đồng xét xử xét thấy đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 1 – Cần Thơ là phù hợp.
. Về án phí sơ thẩm: Buộc Bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí Hình sự sơ thẩm theo quy định tại Điều 135, Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự và Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.
. Về quyền kháng cáo: Bị cáo, bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo bản án theo quy định tại Điều 331 và Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Tuyên bố: Bị cáo Trần Hữu Lâm phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.
Áp dụng: Khoản 1 Điều 174; Điều 50; điểm i, s Khoản 1, Khoản 2 Điều 51; Điều 54; Điều 65; Điều 91 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Xử phạt: Bị cáo Trần Hữu Lâm 01 (một) năm tù, nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 02 (hai) năm, tính từ ngày tuyên án sơ thẩm (ngày 18/8/2025).
Giao bị cáo cho Ủy ban nhân dân phường Cái Răng, thành phố Cần Thơ giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.
Trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định của pháp luật về thi hành án hình sự.
Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
2. Xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.
+ Tịch thu tiêu huỷ: 01 áo khoác dài tay màu kem, tay áo màu nâu, có chữ SUPKELHC, đã quan sử dụng; 01 nón bảo hiểm màu đen, đã quan sử dụng; 01 đôi dép nhựa màu đen, quai màu trắng, có chữ KOLA, đã quan sử dụng. Theo Lệnh nhập kho vật chứng ngày 30/7/2025.
+ Lưu giữ trong hồ sơ vụ án: Các phiếu và mảnh phiếu giữ xe số 75953, 75953, 0076, 4849 và 6100 (Bút lục 41, 41A); 01 đĩa DVD lưu trữ các đoạn video ghi lại diễn biến vụ án (Bút lục 45A).
+ Ghi nhận Cơ quan Cảnh sát điều tra – Công an thành phố Cần Thơ đã trả lại cho bà Võ Thị Minh Thư 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda SH Mode 125, biển kiểm soát 64B1-759.53, màu trắng nâu, số máy: JF51E0423398, số khung: RLHJF5120FY160325, đăng ký ngày 08/4/2022, tình trạng xe bình thường, đã qua sử dụng; 01 căn cước công dân số 086304010372 tên Võ Thị Minh Thư; 01 giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô, xe máy tên Võ Thị Minh Thư, biển kiểm soát 64B1-759.53; 01 thẻ nhựa ngân hàng BIDV tên Vo Thi My Tien theo Biên bản về việc trả lại tài sản, đồ vật, tài liệu (Bút lục 109).
3. Về trách nhiệm dân sự: Bị hại, chủ sở hữu tài sản không yêu cầu các bị cáo phải bồi thường nên không đặt ra xem xét, giải quyết.
4. Về án phí hình sự sơ thẩm: Áp dụng Điều 135, Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự và Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội. Buộc Bị cáo phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí Hình sự sơ thẩm.
5. Về quyền kháng cáo: Bị cáo được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt nên có quyền kháng cáo bản án này trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết công khai theo quy định, để yêu cầu Tòa án nhân dân thành phố Cần Thơ xét xử theo trình tự phúc thẩm./. THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
NGUYỄN PHI LONG
| Nơi nhận: - TAND TP. Cần Thơ; - VKSND TP. Cần Thơ; - VKSND KV1 – Cần Thơ; - Thi hành án dân sự TP. Cần Thơ; - Cơ quan Cảnh sát điều tra có thẩm quyền; - Phân trại tạm giam khu vực Ninh Kiều; - Cơ quan Thi hành án hình sự có thẩm quyền; - Bị cáo, người tham gia tố tụng khác; - Lưu hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA NGUYỄN PHI LONG |