vanban.org

Bản án 24/2025/HS-ST — Hình sự

TAND TP. Rạch Giá, tỉnh Kiên Giang Tuyên án 22/01/2025 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Phạm Hàng C - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Căn cứ chính? Điều 249 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN TP R
TỈNH KIÊN GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 24/2025/HS-ST
Ngày: 22/01/2025.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TP R- TỈNH KIÊN GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phạm Thị Thanh Loan.

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Bà Hồ Thị Ngân;

2. Bà Trần Thị Lệ;

Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa: Ông Nguyễn Ngọc Tuấn – Thư ký Tòa án nhân dân Tp R.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Tp Rtham gia phiên tòa: Ông Trần Văn Thiệt – Chức vụ: Kiểm sát viên.

Trong ngày 22 tháng 01 năm 2025 tại trụ sở Toà án nhân dân Tp Rxét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 375/2024/TLST-HS ngày 31/12/2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 17/2025/QĐXXST-HS ngày 10 tháng 01 năm 2025 đối với bị cáo:

Họ và tên: Phạm Hoàng C; Sinh ngày: 23/4/2002; Giới tính: Nam; Nơi sinh: Tp R, tỉnh Kiên Giang; Nơi ĐKHKTT: Số 8/197B, KP. Thông Chữ, phường Vĩnh Hiệp, Tp R, tỉnh Kiên Giang; Chỗ ở: Phòng số 12 nhà trọ Lô D7-3-4-5 Trần Huy Liệu, phường Vĩnh Lạc, Tp R, tỉnh Kiên Giang; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Làm thuê; Trình độ học vấn: 7/12; Con ông: Phạm Văn Sinh- Sinh năm: 1963; Con bà: Hoàng Thị Ngân - Sinh năm: 1966; Vợ: Trương Ngọc Diệu – Sinh năm 2001; Con ruột: Phạm Hoàng Ngọc Lam – Sinh năm 2020.

Tiền án: Không.

Tiền sự: Ngày 26/8/2024 bị Toà án nhân dân Tp R, tỉnh Kiên Giang ra quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc thời hạn 15 tháng về hành vi sử dụng trái phép chất ma tuý, chưa chấp hành.

Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 08/10/2024

Bị cáo được trích xuất có mặt tại phiên tòa.

* Người làm chứng: Ông Nguyễn Hữu Phước, sinh năm 1999. (Vắng mặt)

Địa chỉ: Số 39 tổ 2, Khu phố 3, phường Vĩnh Thông, Tp R, tỉnh Kiên Giang.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Vào lúc 21 giờ 30 phút ngày 08/10/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Tp Rbắt quả tang Phạm Hoàng C đang tàng trữ trái phép chất túy tại phòng số 12, nhà trọ lô D7-3-4-5, đường Trần Huy Liệu, phường Vĩnh Lạc, Tp R, tỉnh Kiên Giang. Thu giữ trên kệ để giày dép cạnh cửa ra vào của phòng 01 bịch nylon trong suốt có rãnh gài viền màu xanh, bên trong có chứa chất ma túy loại Ketamine.

Qua điều tra xác định Châu sử dụng ma tuý Khay (Ketamine) từ khoảng đầu tháng 05/2024. Bản thân Châu vào ngày 26/8/2024 bị Toà án nhân dân Tp Rra quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc thời hạn 15 tháng về hành vi sử dụng trái phép chất ma tuý, Châu vẫn chưa chấp hành. Vào tối ngày 07/10/2024 khi đi chơi trong quán Bar Paradiese, đường Lạc Hồng, phường Vĩnh Lạc thì Châu gặp và hỏi mua 01 bịch ma tuý Khay của người đàn ông tên Lô (không rõ tên, địa chỉ, Châu chỉ quen biết ngoài xã hội) với số tiền 1.800.000 đồng. Sau khi mua được ma túy thì Châu đem về để trên kệ để giày dép cạnh cửa ra vào trong phòng số 12, nhà trọ lô D7-3-4-5, đường Trần Huy Liệu, phường Vĩnh Lạc (nơi Châu thuê ở) để dành sử dụng. Đến 21 giờ 30 phút ngày 08/10/2024 khi Châu đang ở trong phòng trọ thì bị Công an bắt quả tang cùng tang vật là bịch ma tuý Khay. Châu thừa nhận việc tàng trữ chất ma túy là một mình thực hiện, nhằm mục đích sử dụng cá nhân. Đối với những lần sử dụng trước thì ma tuý là do bạn bè Châu quen biết ngoài xã hội cho Châu sử dụng khi đi chơi cùng. Ngày 16/10/2024, Phạm Hoàng C bị Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Tp Rkhởi tố bị can và ra Lệnh tạm giam để điều tra.

* Việc thu giữ, tạm giữ tài liệu, đồ vật: 01 (một) bịch nylon trong suốt có rãnh gài viền màu xanh, bên trong có chứa các hạt chất rắn màu trắng không đồng nhất, được niêm phong trong phong bì màu trắng, có chữ ký xác nhận của người bị bắt Phạm Hoàng C, người chứng kiến Nguyễn Hữu Phước, Điều tra viên Lê Văn Toàn và dấu mộc tròn màu đỏ của Công an phường Vĩnh Lạc, Tp R, tỉnh Kiên Giang.

* Tại Bản kết luận giám định số 1102/KL-KTHS, ngày 16/10/2024 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Kiên Giang, kết luận:

Các hạt chất rắn màu trắng, không đồng nhất chứa trong 01 (một) bịch nylon được niêm phong gửi giám định là ma túy, loại Ketamine. Khối lượng mẫu gửi giám định là 1,6087 gam.

Ketamine là chất ma túy nằm trong danh mục III, STT 40, Nghị định 57/2022/NĐ-CP, ngày 25/8/2022 của Chính phủ.

* Tại bản cáo trạng số 28/CT-VKSRG ngày 30/12/2024 của Viện kiểm sát nhân dân Tp Rđã truy tố Phạm Hoàng C về tội: Tàng trữ trái phép chất ma túy quy định tại điểm g khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017.

* Tại phiên tòa:

- Bị cáo Phạm Hoàng C đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội như bản cáo trạng đã nêu, đồng thời xin giảm nhẹ hình phạt để sớm có cơ hội làm ăn lương thiện.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Tp Rđề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Phạm Hoàng C phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”;

- Về hình phạt:

+ Đề nghị HĐXX áp dụng điểm g khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi bổ sung năm 2017 để tuyên phạt bị cáo Phạm Hoàng C - mức án từ 01 năm 06 tháng đến 02 năm tù.

* Xử lý vật chứng:

Áp dụng khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự và khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:

Đề nghị tịch thu tiêu hủy vật chứng trong vụ án là: 01 (một) phong bì đã được niêm phong, có ký hiệu vụ số 1122/2024 ngày 16/10/2024 có chữ ký của giám định viên Lê Đức Huy, cán bộ niêm phong Trần Nhật Linh, người chứng kiến niêm phong Lê Văn Toàn và hình dấu tròn màu đỏ của phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Kiên Giang. Theo Lệnh nhập kho vật chứng số 1146, ngày 17/10/2024 của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Tp R.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an Tp R, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân Tp R, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự thủ tục đúng quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa hôm nay, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiền hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

HĐXX xét thấy lời nhận tội của bị cáo tại phiên tòa hôm nay hoàn toàn phù hợp với lời khai của bị cáo trong quá trình điều tra, phù hợp với nội dung bản Cáo trạng, kết luận điều tra và lời khai của những người tham gia tố tụng khác, cùng các chứng cứ đã thu thập được có trong hồ sơ và vật chứng đã thu giữ. Từ đó có đủ cơ sở kết luận: Vào lúc 21 giờ 30 phút ngày 08/10/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Tp Rbắt quả tang Phạm Hoàng C đang tàng trữ trái phép chất túy, qua giám định là Ketamine, khối lượng là 1,6087 gam tại phòng số 12, nhà trọ lô D7-3-4-5, đường Trần Huy Liệu, phường Vĩnh Lạc, Tp R, tỉnh Kiên Giang. Mục đích Châu tàng trữ chất ma túy là để tự sử dụng cá nhân. Do đó, hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy của bị cáo thuộc trường hợp định khung quy định tại điểm g khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự. Viện kiểm sát nhân dân Tp R, truy tố bị cáo theo các điều khoản như trên của bộ luật hình sự là đúng người, đúng tội, đúng quy định của pháp luật.

Về tính chất mức độ của hành vi phạm tội: Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, bị cáo thực hiện tội phạm có ý thức và có năng lực chịu trách nhiệm hình sự, bị cáo thực hiện hành vi với lỗi cố ý trực tiếp, bị cáo nhận thức rõ hành vi của mình là vi phạm pháp luật, biết rõ tác hại của ma túy đối với bản thân, gia đình và xã hội nhưng chỉ vì nhu cầu sử dụng chất ma túy nên bị cáo đã lao vào con đường phạm tội. Hành vi của bị cáo là rất nguy hiểm cho xã hội, thể hiện sự xem thường, bất chấp pháp luật ở bị cáo. Do đó cần xử phạt bị cáo mức án tương xứng với tính chất và mức độ của bị cáo gây ra, buộc bị cáo cách ly khỏi xã hội một thời gian nhất định nhằm giáo dục cải tạo bị cáo trở thành người dân lương thiện, có ích cho xã hội, đồng thời góp phần răn đe phòng ngừa, giáo dục chung.

Xét về nhân thân và tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo chưa có tiền án và không có tình tiết tăng nặng theo quy định tại khoản 1 Điều 52 BLHS. Tuy nhiên, bị cáo có một tiền sự vào ngày 26/8/2024 bị Toà án nhân dân Tp R, tỉnh Kiên Giang ra quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc thời hạn 15 tháng về hành vi sử dụng trái phép chất ma tuý, chưa chấp hành.

Về tình tiết giảm nhẹ: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa hôm nay bị cáo đã thừa nhận hành vi phạm tội, thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình, mục đích tàng trữ ma túy của bị cáo chỉ là để có ma túy sử dụng, nên cần áp dụng tình tiết giảm nhẹ hình phạt được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự khi lượng hình.

Về hình phạt bổ sung: Xét thấy bị cáo Phạm Hoàng C không có nghề nghiệp; thu nhập không ổn định. Do đó, Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền theo khoản 5 Điều 249 Bộ Luật hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung 2017 đối với bị cáo.

Về xử lý vật chứng:

Áp dụng khoản 1, Điều 47 Bộ luật hình sự và khoản 2, Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:

Tịch thu tiêu huỷ: 01 (một) phong bì đã được niêm phong, có ký hiệu vụ số 1122/2024 ngày 16/10/2024 có chữ ký của giám định viên Lê Đức Huy, cán bộ niêm phong Trần Nhật Linh, người chứng kiến niêm phong Lê Văn Toàn và hình dấu tròn màu đỏ của phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Kiên Giang. Theo Lệnh nhập kho vật chứng số 1146, ngày 17/10/2024 của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Tp R.

Các vấn đề khác trong vụ án:

Đối với người đần ông tên Lô (chưa xác định được tên thật, địa chỉ) đã bán ma tuý cho bị cáo Châu, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Tp Rtiếp tục xác minh, khi có căn cứ sẽ xử lý sau.

Về án phí hình sự sơ thẩm: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự và điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 của Ủy ban thường vụ Quốc hội ngày 30-12-2016 quy định về án phí, lệ phí Tòa án.

Bị cáo Phạm Hoàng C phải nộp 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

* Căn cứ vào;

- Khoản 2 Điều 106; khoản 2 Điều 136, Điều 260; khoản 1 Điều 268; khoản 1 Điều 269; Điều 299; Điều 331, Điều 333 Bộ luật Tố tụng Hình sự.

- Khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.

- Điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2014 ngày 30 tháng 12 năm 2014 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định vể mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

- Điểm g khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

* Tuyên bố bị cáo Phạm Hoàng C phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

* Xử phạt bị cáo Phạm Hoàng C: 01 (Một) năm 06 (Sáu) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam ngày 08/10/2024.

* Về xử lý vật chứng: Tịch thu tiêu huỷ 01 (một) phong bì đã được niêm phong, có ký hiệu vụ số 1122/2024 ngày 16/10/2024 có chữ ký của giám định viên Lê Đức Huy, cán bộ niêm phong Trần Nhật Linh, người chứng kiến niêm phong Lê Văn Toàn và hình dấu tròn màu đỏ của phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Kiên Giang. Theo Lệnh nhập kho vật chứng số 1146, ngày 17/10/2024 của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Tp R.

* Về án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo Phạm Hoàng C phải nộp 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

* Quyền kháng cáo: Báo cho bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (ngày 22/01/2025).

Trường hợp bản án, quyết định được /thi hành theo qui định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự; người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự. * Nơi nhận:

Cỡ chữ