- Tranh chấp gì? án hình sự — "Bản án Thào A D - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Xử phạt bị cáo Thào A D 03 năm 06 (ba năm sáu tháng) tù.
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật tố t ng hình sự; Điều 12 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 249 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 4 - SƠN LA | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 24/2025/HS-ST Ngày 29-12-2025 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 4 - SƠN LA
Tại điểm cầu trung tâm trụ sở Toà án nhân dân khu vực 4 - Sơn La:
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Triệu Văn Quang.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Hoàng Minh Xuân, ông Đỗ Tiến Hiệt.
- Thư ký phiên tòa: Ông Hoàng Văn Dũng - Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 4 - Sơn La.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 4 - Sơn La tham gia phiên tòa: Bà Phạm Thu Hà - Kiểm sát viên.
Tại điểm cầu thành phần: Phân trại tạm giam Mai Sơn - Trại tạm giam Công an tỉnh Sơn La:
- Thư ký Tòa án: Bà Nguyễn Thảo Nguyên - Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 4 - Sơn La..
- Kiểm sát viên: Ông Nguyễn Đình Chí - Kiểm sát viên.
Ngày 29 tháng 12 năm 2025, tại tr s Tòa án nh n d n khu vực 4 - Sơn La xét xử công khai v án hình sự sơ thẩm th lý số 31/2025/TLST-HS ngày 10 tháng 12 năm 2025, theo Quyết định đưa v án ra xét xử số: 29/2025/QĐXXST-HS ngày 15/12/2025, đối với bị cáo:
Thào A D, tên gọi khác: Không, Sinh ngày 16 tháng 12 năm 1982 tại: xã P, tỉnh Sơn La; nơi cư trú: Bản T, xã P, tỉnh Sơn La; CCCD/Hộ chiếu số: 014082003783; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa (học vấn): 4/12; d n tộc: Mông; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; đảng phái, đoàn thể: Không; con ông Thào A S và bà Mùa Thị C (đều đã chết); Bị cáo có vợ là Giàng Thị L, sinh năm: 1985; có 03 con (con lớn nhất sinh năm 2007, con nhỏ nhất sinh năm 2016; Tiền án, tiền sự: Không
Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 15/9/2025 đến nay, có mặt.
Người có quyền lợi nghĩa v liên quan: Bà Giàng Thị L, sinh năm 1985, nơi cư trú: Bản T, xã P, tỉnh Sơn La, có mặt.
Người phiên dịch cho chị Giàng Thị L: Ông Và A Trịa, địa chỉ: Tiểu khu 8, xã Mai Sơn, tỉnh Sơn La, có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ v án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung v án được tóm tắt như sau:
Khoảng 17 giờ 00 ngày 13/9/2025, Thào A D điều khiển xe máy (loại xe thồ) không rõ nhãn hiệu, không gắn biển số đi từ nhà đến khu vực bản Ta Liễu, xã Yên Sơn, tỉnh Sơn La m c đích để tìm mua ma tuý sử d ng. Khi đi trên đường thuộc khu vực bản Ta Liễu, xã Yên Sơn, tỉnh Sơn La (cách trung t m bản Ta Liễu khoảng 500m) D gặp 01 người nam giới không rõ nh n th n, đang đi bộ trên đường, qua trao đổi, D đã mua được của người này 01 gói nilon màu trắng bên trong chứa 05 viên Hồng phiến và một ít bột Heroine với giá 100.000VNĐ (một trăm nghìn đồng). Sau khi mua được ma túy, D cất giấu vào ốp đằng sau lưng ổ khoá xe máy, rồi điều khiển xe máy quay về nhà. Về đến nhà, D lấy số Heroine ra và sử d ng hết bằng hình thức đốt hít, số Hồng phiến còn lại, D gói lại như ban đầu, cất vào chỗ cũ (ốp phía sau ổ khóa xe máy). Đến khoảng 08 giờ 00 phút, ngày 15/9/2025, D tiếp t c lấy 01 viên Hồng phiến ra sử d ng hết bằng hình thức đốt hít, 04 viên Hồng phiến còn lại, D gói lại như ban đầu rồi cất vào chỗ cũ (ốp phía sau ổ khóa xe máy). Sau khi sử d ng ma tuý xong, D điều khiển xe máy đi từ nhà đến bản Phiêng Khàng, xã Phiêng Pằn để tìm việc làm thuê. Khi đi đến khu vực gần Nhà văn hoá bản Phiêng Khàng, thì bị tổ công tác Công an xã Phiêng Pằn phối hợp với Đồn biên phòng Phiêng Pằn phát hiện bắt quả tang cùng tang vật có liên quan.
Ngày 15/9/2025, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh Sơn La ban hành Quyết định trưng cầu giám định số 4031 ngày 15/9/2025 trưng cầu Phòng PC09 Công an tỉnh Sơn La giám định: Mẫu gửi giám định có phải là ma túy không? Khối lượng của mẫu gửi giám định? Loại ma túy gì? Tổng khối lượng vật chứng thu giữ?
Cùng ngày, Cơ quan cảnh sát điều tra phối hợp với Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Sơn La thành lập hội đồng bóc m niêm phong, c n tịnh vật chứng thu giữ của Thào A D, kết quả: Tổng khối lượng 04 viên nén màu hồng là 0,40 gam, lấy toàn bộ 0,40 gam để trưng cầu giám định. (BL: 48-49).
Kết luận giám định số 1134/KL-KTHS ngày 19/9/2025 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Sơn La kết luận:
- Mẫu ký hiệu M gửi giám định là ma túy; loại Methamphetamine; Khối lượng của mẫu gửi giám định là 0,40gam.
- Tổng khối lượng ma túy thu giữ là 0,40gam; loại Methamphetamine.
Tại bản cáo trạng số: 28/CT-VKSKV4 ngày 10 tháng 12 năm 2025 của Viện Kiểm sát nh n d n khu vực 4 - Sơn La truy tố Thào A D về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố luận tội, giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử: Áp d ng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Tuyên bố bị cáo Thào A D phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy.
Xử phạt bị cáo Thào A D từ 03 năm 06 tháng đến 04 năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 15/9/2025. Không áp d ng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
Về vật chứng v án: Đề nghị áp d ng khoản 1, điểm a, c khoản 2, điểm a, b khoản 3 Điều 106 Bộ luật tố t ng hình sự:
Đề nghị Tịch thu tiêu huỷ 01 phong bì thư do bưu điện Việt Nam phát hành. Phong bì thư đã được niêm phong dán kín, tại mép dán của phong bì thư được dán đè bằng giấy niêm phong số 022576; Một mặt phong bì thư ghi chữ: “01 mảnh nilon màu trắng gói ma túy ban đầu thuộc vụ Thào A D có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy xảy ra ngày 15/9/2025 tại xã Phiêng Pằn, tỉnh Sơn La”; 01 ống điếu tự chế bằng nhựa có dán nhãn Wake - Up 247, thể tích 230ml, tẩu điếu ống hút được làm bằng tre thu giữ khi khám xét nhà của Thào A D. Kết quả điều tra xác định Thào A D dùng để sử d ng ma túy.
Đề nghị tuyên trả cho bị cáo và chị Giàng Thị L 01 chiếc xe máy loại xe thồ tự chế, không rõ nhãn hiệu, không có biển kiểm soát, không có số khung, số máy, (xe đã qua sử d ng); 01 điện thoại cảm ứng, nhãn hiệu OPPO, vỏ màu xanh, kèm 01 sim bị trầy xước nhiều chỗ, đã qua sử d ng cũ, tại thời điểm giao nhận điện thoại đã hết pin, không kiểm tra được thông số kỹ thuật bên trong.
Về án phí: Bị cáo Thào A D là d n tộc thiểu số, sinh sống vùng có điều kiện kinh tế, xã hội đặc biệt khó khăn, đề nghị miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo.
Ý kiến của bị cáo Thào A D trình bày: Bị cáo nhất trí như bản luận tội của đại diện Viện kiểm sát, không có ý kiến gì thêm.
Lời nói sau cùng: Bị cáo nhận thức được hành vi của bị cáo là vi phạm pháp luật, mong Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt, cho bị cáo được hư ng mức án thấp nhất.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ s nội dung v án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ v án đã được tranh t ng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[ ] Về tố t ng: Hành vi, quyết định tố t ng của Cơ quan điều tra Công an tỉnh Sơn La, Điều tra viên, Viện kiểm sát nh n d n khu vực, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ t c quy định của Bộ luật Tố t ng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố t ng, người tiến hành tố t ng. Do đó, các hành vi, quyết định tố t ng của Cơ quan tiến hành tố t ng, người tiến hành tố t ng đã thực hiện đều hợp pháp.
Về hành vi và trách nhiệm hình sự của bị cáo: Tại phiên toà, bị cáo vẫn giữ nguyên lời khai tại Cơ quan điều tra, bị cáo không thay đổi, bổ sung thêm nội dung gì làm thay đổi nội dung của v án. Bị cáo hoàn toàn nhất trí với cáo trạng truy tố của Viện kiểm sát nh n d n khu vực 4 - Sơn La. Bị cáo khẳng định việc khai báo tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa ngày hôm nay là hoàn toàn tự nguyện và đúng với sự việc bị cáo đã thực hiện.
Xét lời khai của bị cáo là hoàn toàn tự nguyện và phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang; vật chứng đã thu giữ; biên bản m niêm phong vật chứng, xác định số lượng, khối lượng, lấy mẫu giám định, niêm phong lại vật chứng; kết luận giám định và lời khai của người chứng kiến sự việc.
Từ những chứng cứ nêu trên, Hội đồng xét xử có đủ căn cứ kết luận: Ngày 13 tháng 9 năm 2025, Thào A D đã mua trái phép chất ma tuý với m c đích để sử d ng cho bản th n với giá 100.000 đồng. Ngày 15/9/2025, tại khu vực bản Phiêng Khàng, xã Phiêng Pằn, tỉnh Sơn La, Thào A D bị tổ công tác Công an xã Phiêng Pằn phối hợp với Đồn biên phòng Phiêng Pằn phát hiện bắt quả tang, thu giữ 0,40 gam Methamphetamine. Hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội Tàng trữ trái phép chất ma tuý theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự có mức hình phạt tù từ 03 năm đến 05 năm.
Xét về tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo là nghiêm trọng và nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp x m phạm tới chế độ quản lý chất ma tuý của Nhà nước, ảnh hư ng xấu đến tình hình an ninh trật tự tại địa phương, làm gia tăng các tệ nạn xã hội.
Bị cáo nhận thức được hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật, nhận thức được tác hại của ma tuý đối với bản th n, gia đình và xã hội nhưng vẫn cố tình thực hiện hành vi phạm tội. Do đó, hành vi phạm tội của bị cáo cần phải bị xử lý nghiêm, tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo, cần cách ly bị cáo ra ngoài đời sống xã hội một thời gian là cần thiết, có như vậy mới có tác d ng răn đe, giáo d c và phòng ngừa chung.
Tuy nhiên, khi quyết định hình phạt đối với bị cáo cũng cần xem xét sau khi phạm tội bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Đ y là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự cần áp d ng để giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo.
Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự theo Điều 52 Bộ luật hình sự.
Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 249 Bộ luật hình sự quy định người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức v , cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ một năm đến năm năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản. Tuy nhiên quá trình điều tra và thẩm vấn công khai tại phiên tòa thấy rằng bị cáo Thào A D là lao động tự do, thu nhập không ổn định, bản th n Thào A D không có tài sản riêng có giá trị nên không áp d ng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
Về vật chứng: Đối với 01 phong bì thư do bưu điện Việt Nam phát hành. Phong bì thư đã được niêm phong dán kín, tại mép dán của phong bì thư được dán đè bằng giấy niêm phong số 022576; Một mặt phong bì thư ghi chữ: “01 mảnh nilon màu trắng gói ma túy ban đầu thuộc vụ Thào A D có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy xảy ra ngày 15/9/2025 tại xã Phiêng Pằn, tỉnh Sơn La”; 01 ống điếu tự chế bằng nhựa có dán nhãn Wake - Up 247, thể tích 230ml, tẩu điếu ống hút được làm bằng tre thu giữ khi khám xét nhà của Thào A D. Kết quả điều tra xác định Thào A D dùng để sử d ng ma túy. Kết quả điều tra xác định Thào A D dùng để sử d ng ma túy. Xét thấy đ y là những vật liên quan đến hành vi phạm tội của bị cáo, vật không có giá trị sử d ng, cần tiêu hủy theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố t ng hình sự.
Đối với 01 chiếc xe máy loại xe thồ tự chế, không rõ nhãn hiệu, không có biển kiểm soát, không có số khung, số máy, (xe đã qua sử d ng), quá trình điều tra và tại phiên toà xác định là tài sản của vợ chồng bị cáo, phương tiện duy nhất của gia đình bị cáo, việc bị cáo sử d ng chiếc xe để tàng trữ trái phép chất ma tuý, gia đình bị cáo hoàn toàn không biết. Xét chiếc xe là tài sản duy nhất, ngoài chiếc xe này gia đình bị cáo không còn chiếc xe nào khác làm phương tiện đi lại ph c v sinh hoạt trong gia đình. Xét cần trả lại cho bị cáo và người có quyền lợi nghĩa v liên quan.
Đối với 01 điện thoại cảm ứng, nhãn hiệu OPPO, vỏ màu xanh, kèm 01 sim bị trầy xước nhiều chỗ, đã qua sử d ng cũ, tại thời điểm giao nhận điện thoại đã hết pin, không kiểm tra được thông số kỹ thuật bên trong, quá trình điều tra và tại phiên toà xác định là điện thoại của bị cáo sử d ng để liên lạc trong gia đình, không liên quan đến v án. Cần trả lại cho bị cáo.
Về các vấn đề khác: Về nguồn gốc số ma túy bị thu giữ: Thào A D khai nhận không quen biết người bán ma tuý. Việc mua bán ma túy diễn ra ngoài đường, ngoài D ra không còn ai biết và cũng không có nguồn tài liệu chứng cứ nào khác để xác minh nên Cơ quan CSĐT Công an tỉnh Sơn La không có căn cứ xác minh làm rõ.
Đối với Thào A S , sinh năm 1987, trú tại bản Thẳm Phẩng, xã Phiêng Pằn là người đi cùng Thào A D khi bị bắt quả tang. Quá trình điều tra xác định Thào A S không biết, không liến quan đến việc Thào A D mua, cất giữ, sử d ng trái phép chất ma túy, do đó không đặt vấn đề xử lý.
Đối với Thào A N , sinh năm 1984, trú tại bản Thẳm Phẩng, xã Phiêng Pằn, tỉnh Sơn La. Quá trình điều tra xác định Thào A N không biết, không liến quan đến việc Thào A D mua, cất giữ, sử d ng trái phép chất ma túy, do đó không đặt vấn đề xử lý.
Về án phí: Bị cáo Thào A D là d n tộc thiểu số, sinh sống vùng có điều kiện kinh tế - xã hội dặc biệt khó khăn, căn cứ điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường v Quốc hội, miễn nộp án phí hình sự sơ thẩm đối với bị cáo.
Bị cáo đang bị tạm giam cần tiếp t c tạm giam theo quy định tại khoản 1, khoản 3 Điều 329 Bộ luật tố t ng hình sự năm 2015.
Thời gian tạm giam được tính vào thời gian chấp hành án.
Vì các l trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Tuyên bố bị cáo Thào A D phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
1. Xử phạt bị cáo Thào A D 03 năm 06 (ba năm sáu tháng) tù. Thời hạn tù tính từ ngày 15/9/2025 ngày bắt tạm giữ, tạm giam đối với bị cáo.
Không áp d ng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
2. Vật chứng: Căn cứ khoản 1, điểm a, c khoản 2, điểm a, b khoản 3 Điều 106 Bộ luật tố t ng hình sự:
Tịch thu tiêu huỷ 01 phong bì thư do bưu điện Việt Nam phát hành. Phong bì thư đã được niêm phong dán kín, tại mép dán của phong bì thư được dán đè bằng giấy niêm phong số 022576; Một mặt phong bì thư ghi chữ: “01 mảnh nilon màu trắng gói ma túy ban đầu thuộc vụ Thào A D có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy xảy ra ngày 15/9/2025 tại xã Phiêng Pằn, tỉnh Sơn La”; 01 ống điếu tự chế bằng nhựa có dán nhãn Wake - Up 247, thể tích 230ml, tẩu điếu ống hút được làm bằng tre.
Tuyên trả cho bị cáo 01 điện thoại cảm ứng, nhãn hiệu OPPO, vỏ màu xanh, kèm 01 sim bị trầy xước nhiều chỗ, đã qua sử d ng cũ, tại thời điểm giao nhận điện thoại đã hết pin, không kiểm tra được thông số kỹ thuật bên trong.
Tuyên trả cho bị cáo và chị Giàng Thị L 01 chiếc xe máy loại xe thồ tự chế, không rõ nhãn hiệu, không có biển kiểm soát, không có số khung, số máy, (xe đã qua sử d ng).
(Chi tiết vật chứng theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 11/12/2025 giữa cơ quan Công an và Phòng thi hành án d n sự khu vực 4 - tỉnh Sơn La).
3. Về án phí: Căn cứ điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường v Quốc hội. Miễn án phí hình sự sơ thẩm đối với bị cáo Thào A D.
Bị cáo, người có quyền lợi nghĩa v liên quan có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ tuyên án sơ thẩm.
| Nơi nhận: - Tòa án nh n d n tỉnh Sơn La; - Phòng PV 06 Công an tỉnh Sơn La; - VKSND tỉnh Sơn La; - VKSND khu vực 4 - Sơn La; - Ph n trại tạm giam Mai Sơn; - Trại tạm giam Công an Sơn La; - Thi hành án hình sự; - Phòng THADS khu vực 4 - Sơn La; - Bị cáo; Người CQLNVLQ; - Lưu hồ sơ. - Lưu VP. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - chủ toạ phiên toà (Đã ký) Triệu Văn Quang |