vanban.org

Bản án 24/2025/HS-ST — Hình sự

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về t i danh: Tuyên bố bị cáo Phạm Hữu T phạm t i “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường b ”.

Về trách nhiệm hình s : Căn cứ điểm d khoản 1 Điều 260; điểm b, s khoản 1 và khoản Điều 51, Điều 65 của B luật Hình s năm 2015, s a đổi bổ sung năm 2017. X phạt bị cáo Phạm Hữu T 02 (hai) năm tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian th thách 04 (bốn) năm tính từ ngày tuyên án (07/8/2025). Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Phạm Hữu Th - phạm tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ (điều 260 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Về t i danh: Tuyên bố bị cáo Phạm Hữu T phạm t i “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường b ”.
  • Căn cứ chính? luật Tố tụng hình s; Văn bản hợp nhất số 02/VBHN-TANDTC Nghị quyết hướng dẫn áp d…; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 15 – THÀNH PHỐ
HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 24/2025/HS-ST
Ngày: 07-8-2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 15 – THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Hồ Thị Hằng.

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Thị Mỹ Dung.

Bà Trần Thị Kim Phượng.

- Thư ký phiên tòa: ng Nguyễn Minh Hi u - Thư ký Tòa án nhân khu v c 15-Thành phố Hồ Chí Minh.

- i i n i n i m s t nh n n thành khu v c - Thành ph Hồ h inh tham gia phiên tòa: ng Lê Minh Điền - Kiểm sát viên.

Trong ngày 07 tháng 8 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân khu v c 15- Thành phố Hồ Chí Minh xét x s th m công khai vụ án hình s thụ lý số 120/2025/TLST-HS ngày 25 tháng 6 năm 2025 theo Quy t định đưa vụ án ra xét x số 04/2025/QĐXXST-HS ngày 04 tháng 7 năm 2025, Quy t định hoãn phiên tòa số 05/2025/QĐST-HS ngày 17 tháng 7 năm 2025 đối với bị cáo:

Phạm Hữu T, sinh ngày 15 tháng 01 năm 1978 tại tỉnh B n Tre, CCCD: 083078011470. N i cư trú: Số B, ấp B, xã V, huyện C, tỉnh B n Tre (nay là) xã V, tỉnh Vĩnh Long; tạm trú: Nhà trọ Đỗ Thị H, đường N, Tổ C, Khu phố B, phường T, thành phố B, tỉnh Bình Dư ng (nay là) phường T, Thành phố Hồ Chí Minh; nghề nghiệp: Công nhân; trình đ học vấn: 12/12; dân t c: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Phạm Văn T1 và bà Nguyễn Thị Tuy t H1; bị cáo có vợ tên Nguyễn Thị Hồng T2 (đã ly hôn) và 01 con; tiền án, tiền s : Không; bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi n i cư trú từ ngày 25/6/2025 cho đ n nay, có mặt.

- Bị hại: Công ty TNHH N; địa chỉ: Khu phố H, phường T, thành phố T, tỉnh Bình Dư ng (nay là) phường T, Thành phố Hồ Chí Minh.

Người đại diện theo pháp luật của bị hại: Bà Nguyễn Ngọc Thanh T3- chức vụ: Chủ tịch công ty kiêm giám đốc, có đ n giải quy t vắng mặt.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:

+ Ông Nguyễn Lý T4, sinh năm 1983; địa chỉ: Ấp A, xã N, huyện T (nay là) xã N, tỉnh Vĩnh Long; địa chỉ tạm trú: Số F đường B, khu phố B, phường B, Thành phố Hồ Chí Minh, vắng mặt.

+ Bà Phạm Thị Tuy t M, sinh năm 1968; địa chỉ: Ấp I, xã T, huyện T (nay là) xã T, tỉnh Cà Mau, vắng mặt.

+ Trung tâm dạy nghề lái xe S1; địa chỉ: Số B P, khu phố A, phường T, thành phố B (nay là) phường L, tỉnh Đồng Nai.

Người đại diện hợp pháp: Ông Nguyễn Trung H2- chức vụ: Quản lý xe, là người đại diện theo ủy quyền của Trung tâm dạy nghề lái xe S1, có đ n giải quy t vắng mặt.

+ Ông Xia Shi J, sinh năm 1977; địa chỉ: Th a đất số 63, 77, tờ bản đồ số 20, khu phố H, phường T, thành phố T, tỉnh Bình Dư ng (nay là) phường T, Thành phố Hồ Chí Minh, vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ s vụ án và diễn bi n tại phiên tòa, n i dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 09 giờ 50 phút ngày 06/7/2020, Phạm Hữu T điều khiển xe ô tô tải hiệu Huyndai, màu xanh, tải trọng 800 kg, biển số 60C-330.90 (Thọ có Giấy phép lái xe hạng B2, số 790158066167 do Sở Giao thông vận tải Thành phố H cấp ngày 27/3/2015 có giá trị đ n ngày 27/3/2025) chở bà Phạm Thị Tuy t M và ông Nguyễn Lý T4 lưu thông trên đường H theo hướng đi từ đường V đ n Phòng khám Đ, địa chỉ tại khu phố B, phường H, thành phố T, tỉnh Bình Dư ng để cấp cứu cho bà Phạm Thị Tuy t M. Đ n khoảng 10 giờ cùng ngày, T điều khiển xe ô tô tải đ n phía trước giao l ngã tư đường H và đường N, khu phố B, phường P, thành phố T, tỉnh Bình Dư ng thì đèn tín hiệu giao thông là đèn đỏ, trên đường N có nhiều phư ng tiện lưu thông qua giao l nhưng T vẫn ti p tục điều khiển xe đi vào giao l mà không chấp hành đèn tín hiệu giao thông (vượt đèn đỏ). Lúc này, có xe ô tô hiệu Toyota Fortuner, biển số 61A-751.21 do ông Xia Shi J (ông Xia Shi J có Giấy phép lái xe hạng B1, số 740105018086 do Sở Giao thông vận tải tỉnh B cấp ngày 20/01/2020 có giá trị đ n ngày 12/12/2020) điều khiển lưu thông trên đường N theo hướng đi từ đường Đ đ n đường Đ (ngã tư bên phải theo hướng Thọ lưu thông) đang lưu thông vào giao l (hướng ông Xia Shi J lưu thông là đèn xanh) làm ông Xia Shi J không kịp x lý nên phần đầu xe ô tô biển số 61A-751.21 của ông Xia S Jun tông vào phần hông bên phải đoạn trước gần đầu xe ô tô tải biển số 60C-330.90 của T làm cho 02 phư ng tiện bị hư hỏng, Phạm Hữu T, bà Phạm Thị Tuy t M và ông Nguyễn Lý T4 bị xây xát nhẹ.

* Theo Biên bản khám nghiệm hiện trường và Sơ đồ hiện trường vụ tai nạn giao thông do Đội Cảnh sát Giao thông Công an thành phố T lập ngày 06/7/2020 và Biên bản xác định hiện trường và Sơ đồ hiện trường vụ tai nạn giao thông do Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh B lập ngày 17/4/2025 xác định như sau:

- Hiện trường n i xảy ra tai nạn giao thông là giao l đường Huỳnh Văn L và đường N. Mặt đường Huỳnh Văn L được trải nh a bê tông bằng phẳng và được chia thành hai phần đường xe chạy riêng biệt bởi dãy phân cách giữa cố định. Chiều xảy ra tai nạn là chiều đi bên phải của đường H hướng từ đường V đ n xã P (nay là phường P). Ở chiều đi này mặt đường được chia thành ba làn đường xe chạy. Chiều r ng từng làn đường tính từ dãy phân cách giữa đường đ n mép lề phải đường H hướng từ đường V đ n phường P là 04 mét, 04 mét, 3,4 mét. Đường Nguyễn Văn L1 được chia thành hai phần đường xe chạy riêng biệt bởi dãy phân cách giữa cố định. Chiều xảy ra tai nạn là chiều đi bên phải của đường N hướng từ đường Đ đ n đường Đ và chia thành ba làn đường xe chạy. Chiều r ng từng làn đường tính từ dãy phân cách ra mép lề phải lần lượt là 3,8 mét, 3,8 mét và 4 mét.

- Điều kiện thời ti t: Trời nắng sáng.

- Hiện trường được đo vẽ lấy mép lề đường bên phải của đường Huỳnh Văn L theo hướng từ đường V về phường P làm mép lề chu n. Lấy trụ đèn tín hiệu giao thông trên ốc đảo bên phải đường H theo hướng từ đường V về phường P làm điểm mốc.

- Dấu v t tại hiện trường:

+ Xe ô tô biển số 61A-751.21 dừng trên làn đường xe ô tô, đầu xe hướng về phường P, tâm trục bánh trước bên phải cách mép lề chu n là 10,1 mét, tâm trục bánh sau bên phải cách mép lề chu n là 10,2 mét.

+ Xe ô tô tải biển số 60C-330.90 dừng trên làn đường xe ô tô, đầu xe hướng về phường P, tâm trục bánh trước bên phải cách mép lề chu n là 10,5 mét và cách trục bánh sau bên phải xe ô tô biển số 61A-751.21 là 10 mét, tâm trục bánh sau bên phải cách mép lề chu n là 10 mét và cách điểm mốc hiện trường là 15,2 mét.

+ V t cày mặt đường của xe ô tô tải biển số 60C-330.90 dài 15,7 mét, đầu v t cày cách mép lề chu n là 2,8 mét, cuối v t cày trùng với vị trí xe ô tô tải biển số 60C-330.90.

* Vật chứng thu giữ: 01 (một) xe ô tô tải hiệu Huyndai, màu xanh, biển số 60C-330.90 và 01 (một) xe ô tô hiệu Toyota Fortuner, biển số 61A-751.21.

* Theo Kết luận giám định số 154/GĐCH-PC09 ngày 11/9/2020 của Phòng K Công an tỉnh B, kết luận:

- Dấu v t va chạm giữa xe ô tô con biển số 61A-751.21 và xe ô tô tải biển số 60C-330.90 là:

1. Dấu v t hằn bi n dạng kim loại, trượt xước s n màu đen, bám dính chất màu xanh (dạng s n) ở toàn b mặt trước đầu xe ô tô con biển số 61A-751.21 có chiều từ trước về sau phù hợp với dấu v t hằn bi n dạng, trượt xước s n màu xanh, bám dính chất màu đen (dạng s n) ở mặt ngoài bên phải cabin và góc trước bên phải thùng xe ô tô tải biển số 60C-330.90, có chiều từ phải qua trái.

2. C ch hình thành dấu v t giữa hai phư ng tiện là: Phần phía trước đầu xe ô tô con va chạm vào phần bên phải cabin và thùng xe ô tô tải (như mục 1) tạo ra các dấu v t trên hai phư ng tiện.

3. Vị trí va chạm đầu tiên giữa hai phư ng tiện chi u xuống mặt đường là khu v c phía trước đầu v t cày kí hiệu số 3 trên s đồ hiện trường.

* Theo Kết luận định giá tài sản số 295/KL-HĐĐGTS ngày 15/11/2024 của Hội đồng định giá tài sản thường xuyên trong Tố tụng hình sự thành phố T, tỉnh Bình Dương, kết luận: Chi phí khôi phục, sữa chữa xe ô tô biển số 61A- 751.21, trị giá 334.154.160đ (Ba trăm ba mư i bốn triệu, m t trăm năm mư i bốn nghìn, m t trăm sáu mư i đồng).

* Về trách nhiệm dân sự: Phạm Hữu T đã bồi thường cho bị hại số tiền 20.000.000đ, phía bị hại đã nhận số tiền này và không yêu cầu bồi thường gì thêm, đồng thời có Đ n bãi nại, đề nghị miễn truy cứu trách nhiệm hình s đối với Phạm Hữu T

* Về xử lý vật chứng:

+ Đối với xe ô tô tải hiệu Huyndai, màu xanh, biển số 60C-330.90 là tài sản của Phạm Hữu T nhưng do Trung Tâm dạy nghề lái xe S đứng tên trên Giấy chứng nhận đăng ký xe do T g i xe vào Trung Tâm dạy nghề lái xe S1 để đăng ký dạy học lái xe. Ngày 17/12/2020, C quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố T đã x lý vật chứng giao trả xe mô tô trên cho Phạm Hữu T.

+ Đối với xe ô tô biển số 61A- 751.21 là tài sản của Công ty TNHH N. Ngày 17/12/2020, C quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố T đã x lý vật chứng giao trả xe ô tô trên cho ông Xia Shi J (được ủy quyền nhận lại xe ô tô).

+ Đối với Giấy phép lái xe hạng B2, số 790158066167 do Sở Giao thông vận tải Thành phố H cấp ngày 27/3/2015 có giá trị đ n ngày 27/3/2025 tên Phạm Hữu T, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Dầu M t ra Quy t định chuyển Giấy phép lái xe nêu trên đ n Chi cục Thi hành án dân s thành phố Thủ Dầu M t để đề nghị Tòa án nhân dân thành phố Thủ Dầu M t quy t định x lý theo quy định tại khoản 5 Điều 260 B luật hình s .

Cáo trạng số 125/CT-VKSTDM ngày 23/6/2025 của Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Dầu M t, tỉnh Bình Dư ng truy tố bị cáo Phạm Hữu T về t i Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường b , theo điểm d khoản 1 Điều 260 B luật Hình s .

T i phiên tòa:

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố T trong phần tranh luận, giữ nguyên quy t định truy tố bị cáo, đồng thời đề nghị H i đồng xét x căn cứ điểm d khoản 1 Điều 260; điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 B luật Hình s , s a đổi bổ sung năm 2017x phạt bị cáo Phạm Hữu T từ 01 năm đ n 01năm 06 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian th thách là từ 02 năm đ n 03 năm.

Về trách nhiệm dân s : Không đặt ra để xem xét và giải quy t.

Về biện pháp tư pháp: Đề nghị H i đồng xét x tuyên trả cho bị cáo 01 (m t) giấy phép lái xe hạng B2, số 790158066167 do Sở giao thông vận tải Thành phố H cấp ngày 27/3/2015 mang tên Phạm Hữu T.

Tại phần tranh luận, bị cáo Phạm Hữu T không tranh luận với Kiểm sát viên về t i danh, khung hình phạt và mức hình phạt đã đề nghị.

Bị cáo Phạm Hữu T nói lời sau cùng: Hiện nay bị cáo là lao đ ng chính của gia đình, hoàn cảnh khó khăn, bị cáo thấy việc làm của mình là sai trái, mong H i đồng xét x giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, có điều kiện chăm sóc gia đình

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên c sở n i dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ s vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, H i đồng xét x nhận định như sau:

Về hành vi, quy t định tố tụng của C quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Dầu M t, Kiểm sát viên trong quá trình khởi tố, điều tra, truy tố đã th c hiện đúng về th m quyền, trình t , thủ tục quy định của B luật Tố tụng hình s . Quá trình điều tra và tại phiên tòa, không ai có ý ki n hoặc khi u nại về hành vi, quy t định của C quan ti n hành tố tụng, người ti n hành tố tụng. Do đó, quy t định, hành vi tố tụng của C quan ti n hành tố tụng, người ti n hành tố tụng đã th c hiện là phù hợp với quy định của pháp luật.

Tại phiên tòa, bị cáo đã khai nhận toàn b hành vi phạm t i. Lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai tại c quan điều tra, biên bản hỏi cung bị can, biên bản khám nghiệm hiện trường vụ tai nạn giao thông, s đồ hiện trường vụ tai nạn giao thông, k t luận giám định pháp y cùng những tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ s vụ án. Đủ c sở k t luận: Khoảng 10 giờ ngày 06/7/2020, tại giao l ngã tư đường H và đường N, khu phố B, phường P, thành phố T, tỉnh Bình Dư ng, Phạm Hữu T (là người có Giấy phép lái xe hạng B2) đã có hành vi điều khiển xe ô tô tải hiệu Huyndai, màu xanh, tải trọng 800 kg, biển số 60C-330.90 lưu thông không chấp hành hệ thống báo hiệu đường b (vượt đèn đỏ) va chạm với xe ô tô hiệu Toyota Fortuner, biển số 61A-751.21 do ông Xia Shi J điều khiển đang lưu thông vào giao l (hướng đi là đèn xanh) gây hậu quả làm hư hỏng xe ô tô tô biển số 61A-751.21 tổng trị giá là 334.154.160 đồng. Do đó, hành vi mà bị cáo th c hiện đã vi phạm khoản 8, 9, 23 Điều 8 và khoản 1 Điều 9 Luật giao thông đường b và đủ y u tố cấu thành t i “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường b ” được quy định tại điểm d khoản 1 Điều 260 của B luật Hình s năm 2015, s a đổi bổ sung năm 2017. Bị cáo đủ năng l c chịu trách nhiệm hình s . Do vậy, Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Dầu M t truy tố bị cáo theo t i danh và điều khoản như trên là có căn cứ, đúng người, đúng t i.

Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã h i, đã xâm phạm đ n trật t an toàn giao thông đường b , gây thiệt hại về tài sản cho bị hại. Do đó, đối với hành vi của bị cáo cần phải x lý nghiêm, tư ng xứng với tính chất, mức đ của hành vi phạm t i mà bị cáo đã th c hiện.

Tình ti t tăng nặng trách nhiệm hình s : Không có.

Tình ti t giảm nhẹ trách nhiệm hình s : Quá trình điều tra và tại phiên toà, bị cáo có thái đ thành kh n khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm t i của mình; bị cáo phạm t i lần đầu, t nguyện bồi thường m t phần cho bị hại và được bị hại có đ n xin giảm nhẹ hình phạt, miễn trách nhiệm hình s cho bị cáo. Đây là tình ti t giảm nhẹ quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của B luật Hình s năm 2015, s a đổi bổ sung năm 2017. Căn cứ vào tính chất mức đ của hành vi phạm t i, nhân thân của bị cáo, xét mức hình phạt mà Đại diện Viện kiểm sát đề nghị là chưa phù hợp.

Nhận thấy bị cáo không có tiền án, tiền s , nhân thân tốt, phạm t i lần đầu, chấp hành tốt chủ trư ng, chính sách pháp luật tại địa phư ng, có n i cư trú r ràng. Bị cáo đã t nguyện bồi thường m t phần thiệt hại cho bị hại và được bị hại có đ n xin bãi nại cho bị cáo. Ngoài ra, nhận thấy bản thân là lao đ ng chính trong gia đình, có khả năng t cải tạo và việc cho bị cáo hưởng án treo không gây nguy hiểm cho xã h i cũng như không ảnh hưởng xấu đ n trật t , trị an tại địa phư ng. Do đó, nhằm tạo điều kiện cho bị cáo được ti p tục lao đ ng, chăm sóc gia đình. H i đồng xét x xem xét áp dụng Điều 65 của B luật Hình s và Nghị quy t số 02/VBHN-TANDTC ngày 07/9/2022 của Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng điều 65 của B luật Hình s về án treo như đề nghị của Viện kiểm sát khi quy t định hình phạt nhằm thể hiện s khoan hồng của pháp luật.

Về trách nhiêm dân s : Do bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không có yêu cầu nên H i đồng xét x không đề cập x lý.

Về biện pháp tư pháp: Do không áp dụng biện pháp cấm hành nghề nên trả bị cáo 01 (m t) Giấy phép lái xe hạng B2, số 790158066167 do Sở giao thông vận tải Thành phố H cấp cho Phạm Hữu T ngày 27/3/2015 có giá trị đ n ngày 27/3/2025.

n phí s th m: Căn cứ Điều 136 của B luật Tố tụng hình s ; Nghị quy t số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc h i về mức thu, miễn, giảm, thu, n p, quản lý và s dụng án phí và lệ phí Tòa án, bị cáo phải n p theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

- Căn cứ vào các Điều 136, 260, 331, 333 B luật Tố tụng hình s .

- Căn cứ Nghị quy t số 02/VBHN-TANDTC ngày 07/9/2022 của Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng điều 65 của B luật Hình s về án treo;

1. Về t i danh: Tuyên bố bị cáo Phạm Hữu T phạm t i “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường b ”.

2. Về trách nhiệm hình s : Căn cứ điểm d khoản 1 Điều 260; điểm b, s khoản 1 và khoản Điều 51, Điều 65 của B luật Hình s năm 2015, s a đổi bổ sung năm 2017.

X phạt bị cáo Phạm Hữu T 02 (hai) năm tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian th thách 04 (bốn) năm tính từ ngày tuyên án (07/8/2025).

Giao bị cáo về Ủy ban nhân dân phường T, Thành phố Hồ Chí Minh giám sát giáo dục trong thời gian th thách. Trong trường hợp người được hưởng án treo thay đổi n i cư trú thì th c hiện theo quy định tại khoản 1 Điều 92 Luật thi hành án hình s . Trong thời gian th thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quy t định bu c người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

p dụng điểm d khoản 1 Điều 125 của B luật tố tụng hình s , hủy bỏ Lệnh cấm đi khỏi n i cư trú số 50/2025/LCĐKNCT-TA ngày 25/6/2025 của Tòa án nhân dân thành phố Thủ Dầu M t, tỉnh Bình Dư ng.

3. Về x lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 B luật Hình s năm 2015 s a đổi, bổ sung năm 2017 và Điều 106 B luật Tố tụng hình s .

Trả cho bị cáo Phạm Hữu T 01 (m t) giấy phép lái xe hạng B2, số 790158066167 do Sở giao thông vận tải Thành phố H cấp ngày 27/3/2015 mang tên Phạm Hữu T.

(Thể hiện tại biên bản giao nhận vật chứng số 157.25 ngày 05/8/2025 giữa Cơ quan cảnh sát điều tra Công an Thành phố H với Thi hành án dân sự Thành phố Hồ Chí Minh do Phòng Thi hành án dân sự khu vực 15- Thành phố Hồ Chí Minh đại diện theo ủy quyền).

4. Về án phí: Bu c bị cáo phải chịu 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) án phí hình s s th m.

5. Về quyền kháng cáo: Bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại và người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan đ n vụ án vắng mặt được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm y t./.

Cỡ chữ