vanban.org

Bản án 24/2025/HS-ST — Hình sự

Tòa án nhân dân khu vực 1 - Lai Châu, tỉnh Lai Châu Tuyên án 28/08/2025 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

[1] Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Hàng Thị D phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

[2] Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Hàng Thị D 22 (Hai mươi hai) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 03/5/2025. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Hàng Thị D - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? [1] Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Hàng Thị D phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 249 Bộ luật Hình sự; Điều 47 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 1 - LC

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 24/2025/HS-ST
Ngày: 28-8-2025.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 1 - LC

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phạm Thị Nga

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Hà Thị Liên

Bà Hoàng Thị Kim Quy

- Thư ký phiên tòa: Ông Giàng A Hà – Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 1 - LC.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 1 - LC tham gia phiên tòa: Bà Bùi Thị Tính - Kiểm sát viên.

Ngày 28 tháng 8 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 1 - LC xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 24/2025/TLST – HS ngày 14/8/2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 25/2025/QĐXXST-HS ngày 15/8/2025 đối với bị cáo:

Họ và tên: Hàng Thị D (tên gọi khác: Không có); Giới tính: Nữ, sinh ngày 01 tháng 01 năm 1967, tại tỉnh LC; Nơi cư trú: Bản Thành Lập, phường Đoàn Kết, thành phố LC, tỉnh LC nay là tổ dân phố Thành Lập, phường Đoàn Kết, tỉnh LC; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: Không; Dân tộc: Mông; Quốc tịch: Việt Nam; Tôn giáo: không; Con ông Hàng A V (đã chết) và bà Chang Thị X (đã chết); Chồng: Chang A H, sinh năm 1964; Con: Có 05 con, con lớn sinh năm 1983, con nhỏ sinh năm 1999; Gia đình có 10 anh chị em bị cáo là con thứ năm trong gia đình; Tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo bị bắt, tạm giữ từ ngày 03/5/2025 đến ngày 06/5/2025 chuyển tạm giam. Hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh LC cho đến nay, có mặt tại phiên tòa.

* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

+ Chang A T, sinh năm 1999

Địa chỉ: Bản Thành Lập, phường Đoàn Kết, thành phố LC, tỉnh LC Châu nay là tổ dân phố Thành Lập, phường Đoàn Kết, tỉnh LC (vắng mặt).

+ Chị Hàng Thị A, sinh năm 1964

Địa chỉ: Bản Suối Thầu, xã Sùng Phài, thành phố LC, tỉnh LC nay là tổ dân phố Suối Thầu, phường Đoàn Kết, tỉnh LC (có mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 18 giờ ngày 03/5/2025, Hàng Thị D biết con trai là Chang A T, sinh năm 1999, trú tại bản Thành Lập, phường Đoàn Kết, thành phố LC, tỉnh LC (nay là phường Đoàn Kết, tỉnh LC) sẽ đến bản Cư Nhà La, xã Sùng Phài, thành phố LC, tỉnh LC (nay là phường Đoàn Kết, tỉnh LC) để đón cháu là Tẩn Minh Khoa, sinh năm 2018 đang đi chơi tại bản Cư Nhà La nên đã xin đi cùng đến bản Cư Nhà La để tìm mua ma tuý sử dụng nhưng D không nói cho T biết mục đích của mình. Khi T điều khiển điều khiển xe mô tô Honda Wave alpha, màu đen, mang BKS: 25B1 -928.61 (mượn của Hàng Thị A, sinh năm 1964, trú tại bản Suối Thầu, phường Đoàn Kết, tỉnh LC) chở D đi đến khu vực ngã ba rẽ lên bản Cư Nhà La, thuộc tổ 1, phường Tân Phong, thành phố LC, tỉnh LC (nay là phường Tân Phong, tỉnh LC) thì T dừng xe vào quán tạp hóa mua đồ còn D một mình đi bộ vào bản Cư Nhà La để đón cháu Khoa. Trên đường đi, D gặp một người đàn ông dân tộc Mông không rõ nhân thân lai lịch, nhìn giống người nghiện ma túy nên đã hỏi mua ma túy với người đàn ông này. Qua trao đổi mua bán, D mua được của người đàn ông nói trên 01 gói Heroine được gói ngoài bằng một mảnh giấy bạc với giá 200.000 đồng. Sau đó D cầm gói Heroine trong lòng bàn tay trái và tiếp tục đi đón cháu Khoa rồi cả hai quay lại gặp T để đi về nhà (T không biết D mua bán và cất giấu chất ma túy trên người). Hồi 18 giờ 15 phút cùng ngày, khi Chang A T chở Hàng Thị D cùng cháu Khoa đi đến Tổ 1, phường Tân Phong, thành phố LC, tỉnh LC (nay là phường Tân Phong, tỉnh LC) thì bị tổ công tác của Công an xã Sùng Phài phối hợp với phòng Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy Công an tỉnh LC kiểm tra, phát hiện, bắt quả tang cùng vật chứng là 01 gói Heroine có khối lượng 0,55 gam D đang tàng trữ để sử dụng.

Tại bản kết luận giám định số 364/KL-KTHS ngày 05/5/2025 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh LC, kết luận: Số chất bột màu trắng thu giữ trong quá trình bắt quả tang của Hàng Thị D gửi giám định có tổng khối lượng 0,55 gam, là ma tuý, loại: Heroine (Heroin).

Vật chứng đã thu giữ, tạm giữ: Thu giữ của Hàng Thị D 0,55 gam Heroine và 01 mảnh giấy bạc. Tạm giữ của Chang A T 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave alpha, màu đen, mang BKS: 25B1 -928.61. Cơ quan điều tra đã gửi toàn bộ 0,55 gam Heroine làm mẫu giám định, không hoàn lại mẫu vật. Các vật chứng còn lại chưa xử lý chuyển Phòng thi hành án dân sự khu vực 1 - LC chờ xử lý.

Cáo trạng số 23/CT- VKSKV1, ngày 14/8/2025 của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 1 – LC đã truy tố Hàng Thị D về tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy" theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.

* Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 1 – LC giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Hàng Thị D phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy".

Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 4 Luật số 86/2025/QH15 ngày 25/6/2025 của Quốc Hội, Luật sửa đổi bổ sung một số điều của Bộ luật Hình sự;

- Về hình phạt chính: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017, đề nghị:

Xử phạt bị cáo Hàng Thị D mức án từ 22 tháng đến 25 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 03/5/2025.

- Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo theo quy định tại khoản 5 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

- Về vật chứng vụ án: Áp dụng điểm a khoản 1, khoản 2 Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017; điểm a, c khoản 2, điểm b khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự đề nghị:

Tịch thu tiêu hủy 01 mảnh giấy bạc.

Trả lại cho chị Hàng Thị A 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave alpha, màu đen, mang BKS: 25B1 -928.61.

Đối với 0,55 gam Heroine đã gửi giám định hết, không hoàn lại mẫu vật, nên không xem xét giải quyết.

- Về án phí: Áp dụng Điều 135, khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự, điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Tại phiên tòa bị cáo Hàng Thị D khai nhận hành vi phạm tội như nội dung Cáo trạng truy tố đối với bị cáo và bị cáo không tranh luận với quan điểm của Viện kiểm sát.

Tại phiên tòa người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Hàng Thị A và tại đơn xin xét xử vắng mặt của Chang A T đều trình bày: Không biết việc mục đích D đi nhờ xe đến bản Cư Nhà La để tìm mua ma túy. Do đó, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét trả lại chiếc xe mô tô nhãn hiệu Wave Alpha, BKS: 25B1 - 928.61 cho bà Hàng Thị A.

Trong lời nói sau cùng, bị cáo đã nhận thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật nên rất hối hận, ăn năn hối cải và mong Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử đều đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Về hành vi phạm tội của bị cáo:

Tại phiên tòa bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai đã khai báo tại cơ quan điều tra về quá trình thực hiện hành vi phạm tội, phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang và các tài liệu chứng cứ khác cũng như vật chứng thu giữ trong vụ án. Do đó, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Hồi 18 giờ 15 phút ngày 03/5/2025, tại Tổ 1, phường Tân Phong, thành phố LC tỉnh LC (nay là phường Tân Phong, tỉnh LC), Hàng Thị D đang tàng trữ trái phép 0,55 gam Heroine để sử dụng thì bị tổ công tác của Công an xã Sùng Phài phối hợp với Phòng Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy Công an tỉnh LC phát hiện, bắt quả tang. Bị cáo Hàng Thị D là người có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, nhận thức được hành vi Tàng trữ trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật. Do vậy, hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy" được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017;

Điều luật quy định:

“1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm: […]

c) Heroine, Cocaine, Methamphetamine, Amphetamine, MDMA hoặc XLR-11 có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam; […]

5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản.

Do vậy, cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 1 - LC đã truy tố bị cáo theo tội danh và điều khoản như trên là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

Xét tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội thấy rằng:

Vụ án có tính chất nghiêm trọng, hành vi mà bị cáo thực hiện là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm tới sự độc quyền quản lý các chất ma túy của Nhà nước, gây mất trật tự an toàn xã hội, gây bất bình trong quần chúng nhân dân. Chúng ta đều biết ma túy là chất gây nghiện độc hại phá hủy trực tiếp hệ thần kinh trung ương của người sử dụng, làm cho họ phụ thuộc vào chất ma túy, hủy hoại sức khỏe của những người sử dụng, làm cho họ dần dần không còn khả năng lao động và sinh sống bình thường và làm khánh kiệt kinh tế của gia đình. Việc sử dụng ma túy còn làm cho người sử dụng không thể điều khiển được hành vi của mình và có thể dẫn đến các hành vi nguy hiểm cho bản thân và cho xã hội. Vì vậy Đảng và Nhà nước ta đã và đang tích cực phòng chống để đẩy lùi và loại trừ ma tuý ra khỏi đời sống xã hội. Bị cáo nhận thức được tác hại của ma túy gây ra nhưng để thỏa mãn cho nhu cầu của bản thân nên bị cáo đã bất chấp các quy định của pháp luật cố ý thực hiện hành vi phạm tội. Do đó cần có mức hình phạt tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội mà bị cáo đã thực hiện để có tác dụng giáo dục bị cáo trở thành công dân tốt, đồng thời nhằm răn đe và phòng ngừa chung trong xã hội. Tuy nhiên, khi quyết định hình phạt Hội đồng xét xử cần xem xét toàn diện về nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ đối với bị cáo.

Về nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Về nhân thân: Bị cáo không có tiền án, tiền sự.

Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng.

Về tình tiết giảm nhẹ: Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình, bị cáo là người dân tộc thiểu số và có bố đẻ là ông Hàng A Vang được Chủ tịch nước tặng Huân chương kháng chiến hạng nhì. Do đó, cần cho bị cáo hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017 thì bị cáo có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung. Tuy nhiên, theo các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ và lời khai của bị cáo tại phiên tòa đều cho thấy bị cáo là lao động tự do, thu nhập không ổn định, hoàn cảnh kinh tế khó khăn. Vì vậy, Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung cho bị cáo.

Về vật chứng vụ án:

Đối với 0,55 gam Heroine thu giữ của Hàng Thị D đã gửi toàn bộ đi giám định tại phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh LC, không hoàn lại mẫu vật, do đó Hội đồng xét xử không xem xét.

Đối với 01 mảnh giấy bạc. Xét đây là vật chứng và là vật không có giá trị sử dụng nên cần tịch thu tiêu hủy theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017; điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.

Đối với 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave alpha, màu đen, mang BKS: 25B1 -928.61. Quá trình điều tra xác định chiếc xe trên là tài sản hợp pháp của chị Hảng Thị A, khi chị A cho Chang A T mượn xe T, A đều không biết mục đích D xin đi nhờ xe đến bản Cư Nhà La để tìm mua ma túy và T cũng không biết D cất giấu ma túy trên người. Xét thấy không liên quan đến hành vi phạm tội của D. Do đó, cần trả lại chiếc xe trên cho chị Hàng Thị A theo quy định tại khoản 2 Điều 47 Bộ luật hình sự, điểm b khoản 3 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự;

Đối với đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 1 - LC là có căn cứ, nên Hội đồng xét xử cần chấp nhận.

Trong vụ án này:

Theo lời khai của Hàng Thị D, nguồn gốc 0,55 gam Heroine bị thu giữ là bị cáo mua của một người đàn ông bị cáo gặp tại khu vực đường đi lên bản Cư Nhà La, xã Sùng Phài, thành phố LC, tỉnh LC (nay là phường Đoàn Kết, tỉnh LC). Do bị cáo không biết nhân thân lai lịch của người đàn ông này nên Cơ quan điều tra không có căn cứ để điều tra, làm rõ.

Đối với Chang A T, là người đã điều khiển xe mô tô BKS 25B1 - 928.61 chở D đi mua ma túy và Hảng Thị A, là chủ sở hữu chiếc xe mô tô BKS 25B1 - 928.61. Quá trình điều tra xác định T, A đều không liên quan đến hành vi phạm tội của D, không biết mục đích D xin đi nhờ xe đến bản Cư Nhà La để tìm mua ma túy và T cũng không biết D cất giấu ma túy trên người. Do đó, T và A không đồng phạm với D về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Về án phí sơ thẩm: Áp dụng Điều 135, khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự, điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án bị cáo Hàng Thị D phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 4 Luật số 86/2025/QH15 ngày 25/6/2025 của Quốc Hội, Luật sửa đổi bổ sung một số điều của Bộ luật Hình sự;

Căn cứ điểm c khoản 1, khoản 5 Điều 249, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38, điểm a khoản 1, khoản 2 Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017; điểm a, c khoản 2, điểm b khoản 3 Điều 106, Điều 135, khoản 2 Điều 136, Điều 331, 333 Bộ luật tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án;

[1] Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Hàng Thị D phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

[2] Về hình phạt:

Xử phạt bị cáo Hàng Thị D 22 (Hai mươi hai) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 03/5/2025.

Tiếp tục áp dụng biện pháp tạm giam đối với bị cáo Hàng Thị D để đảm bảo cho việc thi hành án.

[3] Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với bị cáo.

[4] Về xử lý vật chứng:

Tịch thu tiêu hủy một phong bì niêm phong của Công an tỉnh LC phát hành, bên trong phong bì có: 01 mảnh giấy bạc. Vật chứng còn lại sau khi mở niêm phong lấy mẫu gửi giám định của Hàng Thị D ngày 03/5/2025.

Trả lại cho chị Hàng Thị A 01 xe mô tô nhãn hiệu Wave alpha, màu đen, biển kiểm soát: 25B1 -928.61, số khung RLHJA3931PY640486, số máy: JA70E0176752. Xe cũ đã qua sử dụng.

(Tình trạng, đặc điểm vật chứng theo biên bản giao nhận vật chứng hồi 16 giờ 00 phút ngày 18/8/2025, giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công tỉnh LC và Phòng Thi hành án dân sự khu vực 1- LC).

[5] Về án phí: Buộc bị cáo Hàng Thị D phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

[6] Về quyền kháng cáo:

Bị cáo được quyền kháng cáo lên Tòa án cấp trên trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có mặt được quyền kháng cáo về phần liên quan đến quyền lợi và nghĩa vụ của mình lên Tòa án cấp trên trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt được quyền kháng cáo về phần liên quan đến quyền lợi và nghĩa vụ của mình lên Tòa án cấp trên trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết. Nơi nhận:

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

- TAND tỉnh LC;

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

- VKSND tỉnh LC;

- Cơ quan CSĐT CA tỉnh LC;

- Cơ quan THAHS CA tỉnh LC;

- Trại tạm giam CA tỉnh LC;

- VKSND khu vực 1 - LC;

- THADS tỉnh LC;

- Phòng Hồ sơ CA tỉnh LC;

- Bị cáo;

- NCQLNVLQ;

Phạm Thị Nga

- Lưu HSVA.

HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Các Hội thẩm nhân dân

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa

Phạm Thị Nga

HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Các Hội thẩm nhân dân

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa

Phạm Thị Nga

Cỡ chữ