- Tranh chấp gì? án hình sự — "Sùng A Gi - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Sùng A Gi phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma tuý". Xử phạt bị cáo Sùng A Gi 01 (một) năm 08 (tám) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị bắt tạm giữ, ngày 28/10/2024.
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự tịch thu; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 249 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MƢỜNG NHÉ TỈNH ĐIỆN BIÊN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số 24/2025/HS-ST Ngày 16-01-2025 |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MƢỜNG NHÉ, TỈNH ĐIỆN BIÊN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Dương Thị Nhung
Các hội thẩm nhân dân: Ông Vi Văn Thuy
Ông Vàng Văn Toàn
- Thư ký phiên tòa: Bà Vi Tố Uyên-Thư ký Toà án nhân dân huyện Mường Nhé, tỉnh Điện Biên.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mường Nhé, tỉnh Điện Biên tham gia phiên tòa: Bà Trần Thị Thương - Kiểm sát viên.
Ngày 16/01/2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Mường Nhé, tỉnh Điện Biên. Tòa án nhân dân huyện Mường Nhé tiến hành xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 23/2024/TLST-HS ngày 20/12/2024 theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 24/2025/QĐXXST-HS ngày 06/01/2025 đối với bị cáo:
Họ và tên: Sùng A Gi; Sinh năm 1981 tại xã L, huyện S, tỉnh Lai Châu; Nơi cư trú: Bản N, xã H, huyện M, tỉnh Điện Biên; Nghề nghiệp: Nông dân; Trình độ văn hoá: không; Dân tộc: Mông; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Tin lành; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Sùng A D (đã chết) và bà Giàng Thị V (sinh năm 1954); Bị cáo có vợ là Giàng Thị S (sinh năm 1991) và có 05 con; Tiền án: Không; Tiền sự: Không; Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 28/10/2024 đến ngày 06/11/2024, bị tạm giam từ 06/11/2024 đến nay, có mặt.
Người bào chữa cho bị cáo: Ông Pờ Go L, Luật sư thực hiện trợ giúp pháp lý thuộc Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh Điện Biên, có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 19 giờ 40 phút ngày 28/10/2024, Sùng A Gi một mình đi bộ trong bản N, xã H, huyện M tìm mua ma túy về sử dụng, khoảng 20 giờ cùng ngày Gi gặp một người đàn ông dân tộc Dao lạ mặt đi xe máy ngược chiều, người đàn ông đó dừng lại, qua trao đổi Gi mua được của ông ta 01 gói nhỏ Heroine được gói trong mảnh ni lon trong suốt với giá tiền 300.000 đồng. Sau khi đưa ma túy cho Gi người đàn ông lạ mặt đi đâu Gi không biết, còn Gi cất giấu số ma túy vừa mua được ở trong lòng bàn tay phải rồi đi bộ quay về nhà, đến 20 giờ 20 phút cùng ngày Gi đi bộ về đến nhà và lấy gói Heroine vừa mua được ra sử dụng, chuẩn bị sử dụng thì bị tổ công tác Công an xã H phát hiện, bắt quả tang. Tổ công tác thu giữ của Giàng 01 gói Heroine có khối lượng 0,98 gam. Gi khai nhận mục đích mua Heroine về để sử dụng cho bản thân.
Kết luận giám định số 1694/KL-KTHS ngày 03/11/2024 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Điện Biên kết luận: Vật chứng thu giữ của Sùng A Gi có khối lượng 0,98 gam cục chất bột màu trắng là chất ma túy: Loại: Heroine; Hoàn lại đối tượng giám định 0,79 gam Heroine.
Cáo trạng số 03/CT-VKS-MN ngày 18/12/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Mường Nhé đã truy tố Sùng A Gi để xét xử về tội: Tàng trữ trái phép chất ma túy theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa sơ thẩm, đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên Cáo trạng truy tố, phần luận tội đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật Hình sự, đề nghị: Tuyên bố bị cáo phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, về hình phạt chính, đề nghị xử phạt bị cáo từ 01 năm 06 tháng đến 02 năm tù; không đề nghị áp dụng hình phạt bổ sung theo quy định tại khoản 5 Điều 249 Bộ luật Hình sự; Về vật chứng vụ án: Căn cứ điểm a, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự, đề nghị: Tịch thu tiêu hủy số Heroine được hoàn lại sau giám định 0,79 gam và 01 mảnh nilon trong suốt; Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết 326 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ quốc hội và xét đơn đề nghị miễn án phí của bị cáo đề nghị miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo.
Tại phiên tòa người bào chữa cho bị cáo nhất trí với Cáo trạng truy tố của Viện kiểm sát, nhất trí với luận tội về tội danh; điều khoản áp dụng; hình phạt bổ sung; xử lý vật chứng vụ án và án phí; phần hình phạt chính đề nghị hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
Tại phiên tòa bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như đã tóm tắt ở trên và đúng như Cáo trạng Viện kiểm sát đã truy tố. Bị cáo không tranh luận gì với Luận tội của Viện kiểm sát. Lời sau cùng bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
Xét hành vi phạm tội và những căn cứ xác định tội danh của bị cáo:
Tại phiên tòa bị cáo Sùng A Gi khai: Khoảng 20 giờ ngày 28/10/2024 bị cáo mua được 0,98 gam Heroine của một người đàn ông dân tộc Dao lạ mặt với giá tiền 300.000 đồng tại bản N, xã H, huyện M. Sau khi mua được ma túy người đàn ông lạ mặt đi đâu bị cáo không biết, còn bị cáo cất số ma túy vừa mua được ở trong lòng bàn tay phải rồi đi bộ quay về nhà, đến 20 giờ 20 phút cùng ngày Gi đi bộ về đến nhà và lấy gói Heroine vừa mua được ra sử dụng, chuẩn bị sử dụng thì bị tổ công tác Công an xã H phát hiện, bắt quả tang. Mục đích bị cáo mua Heroine về để sử dụng cho bản thân. Lời khai nhận của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang, phù hợp với lời khai và các bản cung có trong hồ sơ vụ án về thời gian, địa điểm thực hiện hành vi phạm tội, phù hợp với Kết luận giám định, Kết luận điều tra, Cáo trạng truy tố và các chứng cứ, tài liệu khác đã thu thập có trong hồ sơ vụ án. Như vậy, có đủ căn cứ để xác định hành vi tàng trữ trái phép 0,98 gam Heroine với mục đích để sử dụng của bị cáo đã phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự. Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Mường Nhé truy tố bị cáo để xét xử về tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự là đúng người, đúng tội, đúng quy định của pháp luật.
Xét tính chất vụ án: Đây là vụ án nghiêm trọng về ma túy, bị cáo thực hiện hành vi phạm tội với lỗi cố ý. Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến chính sách thống nhất quản lý của Nhà nước về các chất ma túy, đi ngược lại đường lối chủ trương của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước trong việc đấu tranh phòng ngừa các tội phạm về ma túy, ảnh hưởng xấu đến an ninh trật tự địa phương. Bị cáo là người có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự.
Xét nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ: Bị cáo là người có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự. Quá trình điều tra, truy tố cũng như tại phiên tòa sơ thẩm bị cáo thành khẩn khai báo, đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Hội đồng xét xử chấp nhận đề nghị của đại diện Viện kiểm sát và người bào chữa áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
Về áp dụng hình phạt đối với bị cáo: Xét tính chất, mức độ hành vi phạm tội, nhân thân và các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự thấy cần xử phạt bị cáo nghiêm khắc, cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian nhất định để giáo dục riêng và phòng ngừa chung. Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử tuyên phạt bị cáo từ 01 năm 06 tháng đến 02 năm tù. Người bào chữa đề nghị hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Xét đề nghị của Viện kiểm sát và người bào chữa là có căn cứ, phù hợp quy định pháp luật nên cần xử phạt bị cáo như đề nghị của Viện kiểm sát và người bào chữa.
Theo quy định tại khoản 5 Điều 249 Bộ luật Hình sự, bị cáo còn có thể chịu hình phạt bổ sung là phạt tiền, tuy nhiên xét hoàn cảnh kinh tế gia đình của bị cáo khó khăn, xác minh tại nơi ở của bị cáo không có tài sản gì có giá trị, Hội đồng xét xử chấp nhận đề nghị của Viện kiểm sát và người bào chữa không áp dụng hình phạt bổ sung theo khoản 5 Điều 249 Bộ luật Hình sự đối với bị cáo.
Đối với người đàn ông dân tộc Dao lạ mặt đã bán ma túy cho bị cáo, do bị cáo không biết tên tuổi địa chỉ của người này, Cơ quan điều tra không có căn cứ xác minh nên không có cơ sở để xử lý.
Về xử lý vật chứng:
Đối với số Heroine được hoàn lại sau khi đã giám định là 0,79 gam (Khối lượng Heroine thu giữ là 0,98 gam, đã gửi toàn bộ giám định, hoàn lại mẫu vật sau khi giám định là 0,79 gam) và 01 mảnh nilon trong suốt, xét thấy đây là vật cấm tàng trữ, lưu hành, vật chứng không có giá trị sử dụng cần căn cứ điểm a, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự, điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự tịch thu, tiêu hủy.
Về án phí: Xét thấy bị cáo là đồng bào dân tộc thiểu số, thường trú ở xã có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn và đã có đơn đề nghị miễn án phí nên căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết 326 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội, chấp nhận đề nghị của Viện kiểm sát và người bào chữa miễn toàn bộ tiền án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo.
Về quyền kháng cáo: Theo quy định tại các Điều 331, 332, 333 Bộ luật Tố tụng hình sự: Bị cáo được quyền kháng cáo bản án.
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Mường Nhé, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Mường Nhé, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng và người bào chữa. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng và người bào chữa đã thực hiện đều hợp pháp.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ vào: Điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật Hình sự.
1. Tuyên bố bị cáo Sùng A Gi phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma tuý". Xử phạt bị cáo Sùng A Gi 01 (một) năm 08 (tám) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị bắt tạm giữ, ngày 28/10/2024.
2. Về vật chứng vụ án: Căn cứ điểm a, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự: Tịch thu, tiêu huỷ số Heroine còn lại sau khi đã giám định là 0,79 gam và 01 mảnh nilon trong suốt. Theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 19/12/2024 giữa Công an huyện Mường Nhé và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Mường Nhé.
3. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết 326 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội miễn toàn bộ tiền án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo.
4. Về quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331, 332, 333 Bộ luật Tố tụng hình sự: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (ngày 16/01/2025).
| Nơi nhận: - Phòng KTNV-THA (TAND tỉnh Điện Biên); - VKSND tỉnh Điện Biên; - VKSND huyện Mường Nhé; - Nhà tạm giữ, Cơ quan THAHS, Cơ quan CSĐT, bộ phận hồ sơ nghiệp vụ Công an huyện Mường Nhé; - Chi cục THADS huyện Mường Nhé; - Sở Tư pháp tỉnh Điện Biên; - Bị cáo; Người bào chữa; - Lưu HS, HSTHA. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Dƣơng Thị Nhung |