- Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Trần T - phạm tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ (điều 260 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LỘC NINH TỈNH BÌNH PHƯỚC | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số:24/2025/HS-ST Ngày: 15/4/2025 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LỘC NINH, TỈNH BÌNH PHƯỚC
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ toạ phiên toà: Ông Lê Thành Liêm
Các hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Kim Phụng
Ông Điểu Lành
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Lành– Thư ký Tòa án
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lộc Ninh, tỉnh Bình Phước
tham gia phiên toà: Ông Nguyễn Thanh Kỳ - Kiểm sát viên.
Ngày 15 tháng 4 năm 2025, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Lộc Ninh, tỉnh Bình Phước xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 29/2025/TLST-HS ngày 10 tháng 3 năm 2025, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 25/2025/QĐXXST-HS ngày 04 tháng 4 năm 2025, của Tòa án nhân dân huyện Lộc Ninh đối với bị cáo:
Trần Văn T, sinh ngày 06/4/1983, tại Bình Dương; tên gọi khác: Không; Nơi cư trú: ấp Thanh Kiều, xã Thanh Lương, thị xã Bình Long, tỉnh Bình Phước; Nghề nghiệp: T xế; Trình độ học vấn: 12/12; Dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; Tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt Nam; con ông Trần Văn T và bà Huỳnh Thị Đ; Tiền án: Không;Tiền sự: Không; Bị cáo chưa có vợ;
Về nhân thân: Ngày 17/3/2017, bị Tòa án nhân dân thành phố Rạch Giá, tỉnh Kiên Giang xử phạt 09 thánh tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt T sản” quy định tại khoản 1 Điều 139 Bộ luật hình năm 1999, được sửa đổi bổ sung năm 2009, tại Bản án số 46/2017/HS –ST, đến 15 ngày 05 tháng năm 2017 chấp hành xong hình phạt.
Bị cáo tại ngoại có mặt tại phiên tòa.
Bị hại: Ủy ban nhân dân huyện Lộc Ninh, tỉnh Bình Phước.
Người đại diện theo pháp luật: Ông Nguyễn Gia H - Chủ tịch UBND huyện Lộc Ninh.
Người đại diện theo ủy quyền: ông Trần Văn L - Chủ tịch UBND xã Lộc Khánh, huyện Lộc Ninh, tỉnh Bình Phước.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các T liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau;
Vào ngày 20/3/2024, Trần Văn T điều khiển xe ô tô tải ben biển số 70C – 071.46 đi mua cát xây dựng từ huyện Tân Châu, tỉnh Tây Ninh về bán cho các hộ dân ở xã Lộc Khánh, huyện Lộc Ninh, tỉnh Bình Phước.
Đến khoảng 11 giờ 50 phút cùng ngày, T về đến xã Thanh Lương, thị xã Bình Long rồi chạy vào đường xã Lộc Khánh, huyện Lộc Ninh để bán cho các hộ dân. T đã bán được một ít cát cho các hộ dân ở xã Lộc Khánh, huyện Lộc Ninh, trên xe còn khoảng 2 khối cát, T tiếp tục điều khiển xe ô tô chở số cát còn lại để bán cho hộ dân gần đó. Khi đến cầu Ba Ven xã Lộc Khánh, huyện Lộc Ninh, không chú ý quan sát biển báo giới hạn trọng tải xe được phép qua cầu nên T điều khiển xe ô tô đi qua cầu được khoảng 5m thì cầu bị gẫy cầu, làm cho xe ô tô nghiêng về bên phải, rơi xuống lòng suối.
* Căn cứ kết quả khám nghiệm hiện trường xác định:
1. Mô tả hiện trường chung nơi xảy ra tai nạn:
Là đoạn đường thẳng, tầm nhìn không hạn chế, tại hiện trường có biển báo hiệu giao thông đường bộ ở hai đầu cầu, báo hiệu tải trọng 3,5 tấn và biển báo hiệu cầu hẹp, không có đèn đường chiếu sáng, không có camera an ninh trên đường, camera nhà dân, có cột điện số 09 đặt bên trái đường theo hướng ấp Cần Lê, xã Lộc Khánh, huyện Lộc Ninh, tỉnh Bình Phước đi hướng ấp Ba Ven, xã Lộc Khánh, huyện Lộc Ninh, tỉnh Bình Phước, mặt đường trải nhựa không bằng phẳng, vị trí thuộc tổ 1, ấp Ba Ven, xã Lộc Khánh, huyện Lộc Ninh, tỉnh Bình Phước. Chiều rộng đường 3,35m hai bên đường có cọc tiêu giao thông bằng trụ bê tông, cầu sắt Bailey có chiều dài 27,18m, mặt cầu sử dụng rộng 3m, thành cầu cao 1,8m, chiều dài thành cầu 27,18m.
2. Ghi nhận việc đánh số thứ tự theo số tự nhiên vị trí nạn nhân, phương tiện, tang vật, dấu vết.
Số 1. Xe ô tô biển số 70C-071.46; Số 2. Đống cát có kích thước: 6,7m x 5,2m Số 3. Cầu sắt Bailey có kích thước là 27,18m x 3m x 1,8m; Số 4. Vết nứt mặt đường nhựa có kích thước là 2,15m x 0,35m; Số 5. Kính chắn gió.
3. Xác định điểm mốc và một trong các mép đường nơi xảy ra tai nạn làm chuẩn.
Lấy cột điện số 09 đặt bên trái đường theo hướng ấp Cần Lê, xã Lộc Khánh, huyện Lộc Ninh, tỉnh Bình Phước đi hướng ấp Ba Ven, xã Lộc Khánh, huyện Lộc Ninh, tỉnh Bình Phước làm điểm mốc và lấy mép đường nhựa tiếp giáp mố cầu hướng tổ 1 ấp Ba Ven, xã Lộc Khánh, huyện Lộc Ninh, tỉnh Bình Phước làm mép đường chuẩn.
4. Mô tả theo số thứ tự vị trí phương tiện, tang vật, dấu vết:
Số 1. Xe ô tô biển số 70C-071.46 lật nghiêng về bên Phải nằm trên mặt thành cầu sắt Bailey và mặt suối ba ven, đầu xe hướng đi ấp Ba Ven, xã Lộc Khánh, huyện Lộc Ninh, tỉnh Bình Phước, đuôi xe hướng đi ấp Cần Lê, xã Lộc Khánh, huyện Lộc Ninh, tỉnh Bình Phước, từ tâm bánh xe bên trái trục 1 xe ô tô đo đến mép đường chuẩn là: 10,95m, từ tâm bánh xe bên trái trục 2 xe ô tô đo đến mép đường chuẩn là 9,25m, từ tâm bánh xe bên trái ngoài cùng trục 3 xe ô tô đo đến mép đường chuẩn là: 6,3m, từ tâm bánh xe bên trái ngoài cùng trục 4 xe ô tô đo đến mép đường chuẩn là: 5,05m.
Số 2. Đống cát có kích thước: 6,7m x 5,2m hình thành dưới lòng suối Ba Ven, từ tâm đống cát đó đến mép đường chuẩn là 7,5m, từ tâm đống cát đo đến tâm bánh xe bên trái ngoài cùng trục 4 xe ô tô biển số: 70C-071.46 là 4,4m.
Số 3. Cầu sắt Bailey có kích thước là 27,18m x 3m x 1,8m: từ mặt cầu sắt Bailey đo đến lòng suối Ba Ven là 3,8m, Đầu cầu hướng tổ 1, ấp Ba Ven bị kéo rời khỏi mặt đường nhựa và đế cầu cách rời mố cầu khoảng cách 02m, Đầu cầu hướng tổ 4, ấp Ba Ven bị kéo rời khỏi mặt đường nhựa và đế cầu cách rời mố cầu khoảng cách 0,5m. Thành cầu bên phải bằng kim loại bị cong vênh biến dạng hoàn toàn kích thước 15m.Thành cầu bên phải bằng kim loại bị cong vênh biến dạng một phần kích thước: 12m. Thành cầu bên trái bằng kim loại bị cong vênh biến dạng hoàn toàn kích thước: 09m, Thành cầu bên trái bằng kim loại bị cong vênh biến dạng một phần kích thước: 18m, Toàn bộ mặt cầu bằng kim loại bị cong vênh biến dạnh hoàn toàn kích thước: (03 x 15)m.Toàn bộ mặt cầu bằng kim loại cong vênh biến dạnh một phần kích thước: (03 x 12)m, toàn bộ dầm dọc, dầm ngang và các thanh giằng bằng kim loại chịu lực cầu bị bị cong vênh biến dạng hoàn toàn kích thước: 15m, toàn bộ dầm dọc, dầm ngang và các thanh giằng bằng kim loại chịu lực cầu bị cong vênh biến dạng một phần kích thước: 15m.
Số 4. Vết nứt mặt đường nhựa có kích thước là 2,15m x 0,35m: từ tâm vết nứt mặt đường nhựa đo đến tâm bánh xe bên trái ngoài cùng trục 4 xe ô tô biển số: 70C-071.46 là 5,45m.
Số 5. Kính chắn gió: từ tâm kính chắn gió đo đến mép đường chuẩn là 12,9m, từ tâm kính chắn gió đo đến tâm bánh xe bên trái trục 1 xe ô tô biển số: 70C-071.46 là 3,2m.
- Từ trụ điện số: 09 đo đến tâm bánh xe bên trái ngoài cùng trục 4 xe ô tô biển số: 70C-071.46 là 30m, từ biển báo hiệu tải trọng hướng tổ 1, ấp Ba Ven, xã Lộc Khánh đo đến mép đường chuẩn là 21,7m, từ biển báo hiệu cầu hẹp hướng tổ 1, ấp Ba Ven, xã Lộc Khánh đo đến mép đường chuẩn là 38,1m, từ biển báo hiệu tải trọng hướng tổ 4, ấp Ba Ven, xã Lộc Khánh đo đến mép đường nhựa tiếp giáp mố cầu hướng tổ 4, ấp Ba Ven, xã Lộc Khánh là 20m, từ biển báo hiệu cầu hẹp hướng tổ 4, ấp Ba Ven, xã Lộc Khánh đo đến mép đường nhựa tiếp giáp mố cầu hướng tổ 4, ấp Ba Ven, xã Lộc Khánh là 24m.
5. Phương tiện, tang vật, dấu vết và mẫu so sánh thu được:
Số 1. Xe ô tô biển số 70C-071.46.
*Căn cứ kết quả khám nghiệm phương tiện:
1. Về đặc điểm của phương tiện: Xe ô tô biển số 70C-071.46; Số khung: KMCPB18TP6C008645; Số máy: D6CB - 5115302, nhãn hiệu HUYNDAI, màu sơn xám xanh, xe hư hỏng do bị tai nạn giao thông.
2. Khám nghiệm các dấu vết liên quan đến vụ tai nạn giao thông để lại trên phương tiện: (ghi rõ vị trí, tên gọi, màu sắc, kích thước, chiều hướng, cao thấp và định vị vị trí của chúng):
- Kính chắn gió phía trước bị bể bung ra khỏi vị trí ban đầu.
- Nắp ca pô phía trước bị gãy bung ra khỏi vị trí ban đầu.
- Khung gương chiếu hậu và kính chiếu hậu bị bể rời khỏi vị trí ban đầu.
- Xương đầu ca bin bên phải bị cong móp từ ngoài vào trong kích thước 1,4m x 0,15m, tâm cách mặt đất 1,75m.
- Má vè bên ngoài xương đầu ca bin bên phải bị trầy xước và bể 0,5m x 0,25m, tâm cách mặt đất 1,7m.
- Bình nước phụ bị bể móp tâm cách mặt đất 1,75m.
- Cảng phía trước bị móp và bong tróc vết sơn kích thước 1,7m x 0,4m tâm cách mặt đất 1m.
- Cánh cửa bên phải bị móp và trầy xước théo hướng từ ngoài vào trong kích thước 0,9m x 1,1m, tâm cách mặt đất 1,7m.
- Kính gương cầu lồi bên phải bị gãy bung ra khỏi vị trí ban đầu.
- Mặt kính đèn chiếu sáng phía trước bên phải bị bể kích thước 0,25m x 0,07m tâm cách mặt đất 1,2m.
- Két nước bên phải ngoài cùng bị móp và lủng kích thước 0,1m x 0,15m tâm cách mặt đất 0,85m.
- Mặt ngoài lốp bánh xe bên phải ngoài cùng trục 3 bị trầy xước kích thước 1,1m x 0,25m.
- Mặt ngoài lốp bánh xe bên phải ngoài cùng trục 4 bị trầy xước kích thước 0,6m x 0,15m.
3. Ghi nhận an toàn kỹ thuật của phương tiện:
Hệ thống phanh không có có dụng, tay cầm lái bị hư hỏng, đèn chiếu sáng phía trước, đèn chuyển hướng bên phải bên trái phía trước bị bể bung ra khỏi vị trí ban đầu, còi không kiểm tra được, đèn chuyển hướng bên phải, bên trái phía sau, đèn báo hãm, không kiểm tra được do phương tiện không hoạt động được, lốp xe mòn, không có gương chiếu hậu.
Quá trình điều tra xác định trọng tải xe ô tô tải Ben biển số: 70C-071.46 là: 15.330kg chở theo hàng hóa trọng lượng 3.210kg. Tổng 18.540kg.
Biển báo giới hạn tải trọng của Cầu sắt, Tọa độ: 11,76738*B; 106,62153*Đ thuộc đường liên ấp Ba Ven, xã Lộc Khánh, huyện Lộc Ninh, tỉnh Bình Phước được gắn ở hai đầu cầu là 3.5 tấn.
*Căn cứ bản kết luận giám định số:2801/KLGĐ, ngày 29 tháng 5 năm 2024 của Phân viện khoa học hình sự Bộ Công an kết luận:
Nguyên nhân gây sập cầu thép “Bailey” trên đường liên ấp thuộc ấp Ba Ven, xã Lộc Khánh, huyện Lộc Ninh, do trọng lượng xe ô tô biển số 70C – 071.46 khi tham gia giao thông vượt quá sức bền chịu lực của hệ dàn chủ, đà ngang và mặt cầu dẫn đến võng, biến dạng làm cho gối cầu bị trượt dần khỏi mố cầu gây sập.
*Căn cứ bản kết luận định giá T sản số 20/KL-HĐDGTSTTHS của Hội đồng định giá trong tố tụng hình sự huyện Lộc Ninh ngày 05/8/2024 kết luận Giá trị thiệt hại Cầu sắt (loại cầu Bailey) trên đường liên ấp thuộc ấp Ba ven, xã Lộc Khánh, huyện Lộc Ninh, tỉnh Bình Phước là 373.537.128đ .
Qua điều tra xác định bị cáoTrần Văn T có giấy phép lái xe ô tô hạng C số: 790155132089, do sở giao thông tỉnh Bình Phước cấp ngày 23/11/2023, có giá trị đến ngày 23/11/2028.
Tại bản cáo trạng số: 18/CT-VKS ngày 08/3/2025, Viện kiểm sát nhân dân huyện Lộc Ninh, tỉnh Bình Phước đã truy tố Trần Trần Văn T về tội: “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo điểm d khoản 1 Điều 260 của Bộ luật hình sự.
Tại phiên toà, đại diện Viện kiểm sát thực hành quyền công tố đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố Trần Văn T phạm tội: “ vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.
Áp dụng điểm d khoản 1 Điều 260, điểm b,s khoản 1 Điều 51 Điều 36 của Bộ luật hình sự:
Xử phạt bị cáo Trần Văn T từ 24 đến 30 tháng cải tạo không giam giữ.
Khấu trừ thu nhập mỗi tháng từ 500.000đ đến 700.000đ
Bị cáo không tranh luận, không kêu oan Lời nói sau cùng của bị cáo trước khi hội đồng xét xử nghị án: Xin giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các T liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận thấy:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Lộc Ninh, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Lộc Ninh và Kiểm sát viên trong quá trình điều tra và truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo đúng quy định của Bộ luật tố tụng hình sự, đảm bảo quyền, lợi ích hợp pháp của bị cáo và những người tham gia tố tụng.
Tại phiên toà, bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội, như nội dung bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Lộc Ninh truy tố. Lời khai của bị cáo phù hợp với thời gian và địa điểm xảy ra vụ án, biên bản khám nghiệm hiện trường và các dấu vết để lại tại hiện trường đã được thẩm tra làm rõ tại phiên tòa.
Có đầy đủ cơ sở khách quan để xác định vào ngày 20/3/2024 Trần Văn T đã điều khiển xe ô tô có tải trọng lớn (thời điểm xe qua cầu tải trọng xe và hàng hơn 18 tấn) trong khi cây cầu chỉ giới hạn cho xe có tải trọng 3,5 tấn đi qua hậu quả cây cầu bị sập.
Hành vi không chấp hành hiệu lệnh của biểu báo giao thông, Bị cáo chủ quan nghĩ là cây cầu chịu lực đủ trọng tải xe của bị cáo nên dù biết là cầu có trọng tải nhỏ nhưng vẫn cho xe qua.
Hành vi của bị cáo vi phạm khoản 1 Điều 9 và 11 luật giao thông đường bộ, năm 2008.
Lỗi chính của bị cáo trong trường hợp này là quá cẩu thả, chủ quan đã gây ra thiệt hại nghiêm trọng về vật chất, ảnh hưởng không nhỏ đến sự đi lại, sinh hoạt bình thường của người dân khu quanh khu vực ấp Ba Ven nói riêng và nhân dân xã Lộc Khánh nói chung.
Viện kiểm sát nhân dân huyện Lộc Ninh truy tố bị cáo về tội “Vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ” theo điểm d khoản 1 Điều 260 của Bộ luật hình sự là hoàn toàn có căn cứ.
Bị cáo phạm tội thuộc trường hợp nghiêm trọng, tuy không gây thiệt hại về người nhưng đã gây thiệt hại choUBND huyện Lộc Ninh số tiền 373.537.128đ.
Tại thời điểm xảy ra vụ án, bị cáo là người đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự.
Hành vi không tuân thủ chấp hành biển báo giao thông đường bộ, điều khiển phương tiện tham gia giao thông quá trọng tải cho phép của bị cáo vi phạm , điểm a khoản 1 Điều 5 nghị định 100/2019/NĐ-CP ngày 30/12/2019 quy định xử phạt hành chính trong lĩnh vực giao thông đường bộ và đường sắt của bị cáo gây thiệt hại về vật chất cho nhà nước số tiền lớn. Cần phải có hình phạt nghiêm tương xứng với hành vi và hậu quả mà bị cáo đã gây ra.
Xét về nhân thân: Tại thời điểm phạm tội, bi cáo không có tiền án, tiền sự; Sau khi vụ án xảy ra, bị cáo tự nguyện khắc phục một phần hậu quả nộp số tiền 180.000.000đ để khắc phục hậu quả.
Quá trình điều tra, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, đại diện theo ủy quyền của UBND cũng có yều cầu xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Bị cáo được áp dụng những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm b,s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự.Bị cáo không có tình tiết tăng nặng.
Tại phiên tòa, đại diện viện kiểm sát đề nghị áp dụng hình phạt cải tạo không giam giữ đối bị cáo; Hội đồng xét xử nhận thấy, sau khi vụ án xảy ra, quá trình điều tra, truy tố Cơ quan điều tra và Viện kiểm sát nhân dân huyện Lộc Ninh áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú. Quá trình điều tra cho đến ngày xét xử, bị cáo chấp hành tốt chính sách pháp luật tại địa phương, có nơi cư trú rõ ràng và có nghề nghiệp ổn định, lỗi của bị cáo là vô ý do quá tự tin, và cẩu thả. Nghĩ là hậu quả không xảy ra nên đã phạm tội. Nhận thấy không cần áp dụng hình phạt tù có thời hạn đối với bị cáo và giao bị cáo về UBND nơi cư trú giám sát giáo dục bị cáo trong thời hạn chấp hành án là phù hợp nên được hội đồng xét xử chấp nhận.
Đối với khấu trừ thu nhập, nhận thấy hàng tháng bị cáo thu nhập bình quân 12.000.000đ/tháng, khấu trừ 5%/ tháng = 600.000đ nộp ngân sách nhà nước.
Vật chứng vụ án:
Đối với cầu Sắt “Bailey” Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Lộc Ninh ra quyết định xử lý vật chứng trả cho Ủy ban nhân dân xã Lộc Khánh, huyện Lộc Ninh, tỉnh Bình Phước là người quản lý. Nên hội đồng xét xử không xem xét.
Về trách nhiệm dân sự:
Đại diện theo ủy quyền của UBND huyện Lộc Ninh, yêu cầu bị cáo bồi thường toàn bộ thiệt hại với số tiền 373537.128đ, bị cáo đã nộp số tiền 180.000.000đ số tiền còn phải bồi thường tiếp là 193.537.128đ
Về án phí: Bị cáo phải chịu theo luật định.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Áp dụng điểm d khoản 1 Điều 260 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017;
1. Về tội danh:
Tuyên bố bị cáo Trần Văn T phạm tội:“ vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.
2. Về điều luật áp dụng và mức hình phạt:
Áp dụng điểm d khoản 1 Điều 260, điểm b,s khoản 1, 2 Điều 51,Điều 36 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017:
Xử phạt bị cáo Trần Văn T 02(hai) năm 06(sáu) tháng cải tạo không giam giữ.
Giao bị cáo cho UBND xã Thanh Lương, thị xã Bình Long, tỉnh Bình Phước giám sát giáo dục trong thời gian chấp hành cải tại không giam giữ.
Trường hợp người chấp hành hình phạt cải tạo không giam giữ thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo Điều 100 Luật thi hành án hình sự năm 2019.
Thời gian chấp hành án tính từ ngày UBND xã Thanh Lương, thị xã Bình Long, tỉnh Bình Phước nhận được quyết định thi hành án và bản sao bản án.
Khấu trừ thu nhập:
Hàng tháng bị cáo Trần Văn T phải nộp 600.000đ (sáu trăm ngàn) sung ngân sách nhà nước.
3.Trách nhiệm dân sự: Áp dụng điểm b khoản 1Điều 46 của Bộ luật hình sự;
Buộc Trần Văn T bồi thường cho UBND huyện Lộc Ninh số tiền 373537.128đ, bị cáo đã nộp số tiền 180.000.000đ số tiền còn phải bồi thường tiếp là 193.537.128đ( Một trăm chin mươi ba triệu,năm tram ba mươi bảy ngàn, một trăm hai mươi tám đồng)
Tính từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án, nếu bên phải thi hành án không thi hành, hàng tháng còn phải chịu một khoản tiền lãi suất theo qui định tại Điều 468 của Bộ luật dân sự trên số tiền chậm trả tại thời điểm thi hành án.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định các Điều 6, 7 và 9 của Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật thi hành án dân sự.
Khấu trừ thu nhập: Hàng tháng bị cáo Trần Văn T phải nộp 600.000đ (sáu trăm ngàn) sung ngân sách nhà nước.
4. Vật chứng vụ án: Áp dụng Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự;
Trả cho Trần Văn T Xe ô tô tải Ben biển số: 70C-071.46, 01 giấy tờ xe, 01 giấy đăng kiểm, 01 giấy phép lái xe và 01 phù hiệu HTX dịch vận tải.
5.Về án phí: Áp dụng Điều 99 của Bộ luật tố tụng hình sự, Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án của Ủy ban thường vụ Quốc
Bị cáo Trần Văn T phải chịu 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm và 9.676.850đ .
6. Về quyền kháng cáo:
Bị cáo, Bị hại có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án để yêu cầu Tòa án cấp trên xét xử phúc thẩm.
Thành viên hội đồng xét xử
Thẩm phán- Chủ tọa phiên tòa