- Tranh chấp gì? án hình sự — "Đánh bạc - phạm tội đánh bạc (điều 321 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố các bị cáo Trần Minh K, Trần Văn T, Trần Quốc T1, Ngô Văn C, Phạm Chí L, Trần Văn H, Nguyễn Văn C, Nguyễn Hoàng P, Nguyễn Văn B, Huỳnh Phú H phạm tội “Đánh bạc” theo quy định tại khoản 1 Điều 321 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 .
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 321 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN DUYÊN HẢI TỈNH TRÀ VINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 24/2025/HS-ST Ngày 15/01/2025 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN DUYÊN HẢI, TỈNH TRÀ VINH
- Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Mỹ Linh.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Trần Đạt Thông;
Ông Võ Thành Nhân;
- Thư ký phiên tòa: Bà Liêng Thị Kim Ngân - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Duyên Hải, tỉnh Trà Vinh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Duyên Hải, tỉnh Trà Vinh tham gia phiên tòa: Ông Võ Tấn Lợi - Kiểm sát viên.
Ngày 15 tháng 01 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Duyên Hải, tỉnh Trà Vinh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 25/2024/TLST-HS ngày 06 tháng 12 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 28/2025/QĐXXST-HS ngày 02 tháng 01 năm 2025 đối với các bị cáo:
Trần Minh K, sinh ngày 01/01/1984, tại tỉnh Trà Vinh. Nơi cư trú: Ấp C, x Đ, huyện D, tỉnh T; Nghề ngH: Nuôi trồng thủy sản; Trình độ học vấn: 10/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Cao đài; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Trần Văn T, sinh năm 1962 và bà Nguyễn Thị A, sinh năm 1960; Vợ Liêng Kiều T, sinh năm 1986; Con có 01 người sinh năm 2019; Tiền án, tiền sự: không. Bị cáo bị bắt tạm giam ngày 07/9/2024, đến ngày 30/10/2024 thay đổi biện pháp ngăn chặn cho bảo lĩnh và cấm đi khỏi nơi cư trú cho đến nay ( Có mặt tại phiên tòa).
Trần Văn T, sinh ngày 01/01/1986 , tại tỉnh Trà Vinh. Nơi cư trú: Ấp C, x Đ, huyện D, tỉnh T; Nghề ngH: Nuôi trồng thủy sản; Trình độ học vấn: 10/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Cao đài; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Trần Văn T, sinh năm 1962 và bà Nguyễn Thị A, sinh năm 1960; Vợ Nguyễn Thị Huỳnh N, sinh năm 1996; Con có 01 người sinh năm 2023; Tiền án, tiền sự: không. Về nhân thân: Vào ngày 16/8/2019 bị Công an huyện Duyên Hải ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính số tiền 1.000.000 đồng về hành vi đánh bạc. Bị cáo bị cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 23/8/2024 cho đến nay ( Có mặt tại phiên tòa).
Trần Quốc T1, sinh ngày 01/01/1979, tại tỉnh Trà Vinh. Nơi cư trú: Ấp C, x Đ, huyện D, tỉnh T; Nghề ngH: Không; Trình độ học vấn: 4/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Cao đài; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Trần Văn H (đ chết) và bà Võ Thị T (đ chết); Vợ L Thị Ngọc H, sinh năm 1979; Con có 01 người sinh năm 2010; Tiền án, tiền sự: không. Bị cáo bị cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 23/8/2024 cho đến nay (Có mặt tại phiên tòa).
Ngô Văn C, sinh ngày 01/01/1984, tại tỉnh Long An. Nơi cư trú: Ấp C, x Đ, huyện D, tỉnh T; Nghề ngH: Nuôi trồng thủy sản; Trình độ học vấn: 01/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Cao đài; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Ngô Văn G (đ chết) và bà Nguyễn Thị N, sinh năm 1947; Vợ Trần Thị Bích L, sinh năm 1983; Con có 01 người sinh năm 2009; Tiền án, tiền sự: không. Về nhân thân: Vào ngày 20/01/2017 bị Công an huyện Duyên Hải ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính số tiền 1.500.000 đồng về hành vi đánh bạc. Bị cáo bị cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 23/8/2024 cho đến nay ( Có mặt tại phiên tòa).
Phạm Chí L, sinh ngày 09/5/1995, tại tỉnh Trà Vinh. Nơi cư trú: Ấp C, x L, huyện Di, tỉnh T; Nghề ngH: Tài xế; Trình độ học vấn: 7/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Phạm Văn T, sinh năm 1972 và bà Trần Thị T, sinh năm 1973; Vợ Nguyễn Thảo A, sinh năm 1999 (đ ly hôn); Con có 02 người, lớn nhất sinh năm 2016, nhỏ nhất sinh năm 2018; Tiền án, tiền sự: không. Bị cáo bị cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 23/8/2024 cho đến nay (Có mặt tại phiên tòa).
Trần Văn H, sinh ngày 26/02/1996, tại tỉnh Trà Vinh. Nơi cư trú: Ấp X, x L, huyện Di, tỉnh T; Nghề ngH: Nuôi trồng thủy sản; Trình độ học vấn: 8/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Phật giáo; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Trần Văn V, sinh năm 1970 và bà Huỳnh Thị Đ, sinh năm 1971; Vợ Dương Thị Hồng N, sinh năm 1995; Con có 02 người, lớn nhất sinh năm 2019, nhỏ nhất sinh năm 2022; Tiền án, tiền sự: không. Bị cáo bị cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 23/8/2024 cho đến nay (Có mặt tại phiên tòa).
Nguyễn Văn C, sinh ngày 01/01/1972, tại tỉnh Trà Vinh. Nơi cư trú: Ấp C, x Đ, huyện D, tỉnh T; Nghề ngH: Nuôi trồng thủy sản; Trình độ học vấn: 7/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Nguyễn Văn H (đ chết) và bà Trần Thị M (đ chết); Vợ Mai Thanh T, sinh năm 1977; Con có 02 người, lớn nhất sinh năm 1998, nhỏ nhất sinh năm 1999; Tiền án, tiền sự: không. Bị cáo bị cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 23/8/2024 cho đến nay (Có mặt tại phiên tòa).
Nguyễn Hoàng P, sinh ngày 29/8/1997, tại tỉnh Trà Vinh. Nơi cư trú: Ấp C, x Đ, huyện D, tỉnh T; Nghề ngH: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 10/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Nguyễn Thanh S, sinh năm 1977 và bà Trần Thị Ngọc B, sinh năm 1978; Vợ Dương Thị Bích N, sinh năm 1996; Con có 01 người sinh năm 2019; Tiền án, tiền sự: không. Bị cáo bị cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 23/8/2024 cho đến nay (Có mặt tại phiên tòa).
Nguyễn Văn B, sinh ngày 01/01/1975, tại tỉnh Trà Vinh. Nơi cư trú: Ấp K, x Đ, huyện D, tỉnh T; Nghề ngH: Nuôi trồng thủy sản; Trình độ học vấn: 3/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Phật giáo; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Nguyễn Văn S (đ chết) và bà Ngụy Thị Đ (đ chết); Vợ Trần Thị Út G, sinh năm 1982; Con có 03 người, lớn nhất sinh năm 2003, nhỏ nhất sinh năm 2009; Tiền án, tiền sự: không. Bị cáo bị cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 23/8/2024 cho đến nay (Có mặt tại phiên tòa).
Huỳnh Phú H, sinh ngày 01/01/1982, tại tỉnh Trà Vinh. Nơi cư trú: Ấp C, x Đ, huyện D, tỉnh T; Nghề ngH: Nuôi trồng thủy sản; Trình độ học vấn: 8/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Phật giáo; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Huỳnh Văn L, sinh năm 1945 và bà Huỳnh Thị H (đ chết); Vợ Nhan Thị L, sinh năm 1983; Con có 02 người, lớn nhất sinh năm 2005, nhỏ nhất sinh năm 2010; Tiền án, tiền sự: không. Bị cáo bị cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 01/11/2024 cho đến nay (Có mặt tại phiên tòa).
Người làm chứng:
- Anh Nguyễn Minh T, sinh năm 1994. Nơi cư trú: ấp X, x V, huyện D, tỉnh T; (Vắng mặt, có đơn xin xét xử vắng mặt).
- Ông Nguyễn Văn L, sinh năm 1966. Nơi cư trú: ấp C, x Đ, huyện D, tỉnh T; (Vắng mặt, có đơn xin xét xử vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng 09 giờ ngày 08/02/2024, tại khu vực đất trống của bị cáo Nguyễn Văn C thuộc ấp C, x Đ, huyện D, tỉnh T. Bị cáo Trần Minh K đứng ra tổ chức cho người khác đánh bạc trái phép với hình thức đá gà ăn thua bằng tiền, K lựa chọn địa điểm, cung cấp cân, băng keo, làm trung gian giao nhận tiền thắng thua, làm trọng tài và thu tiền xâu đối với 02 trận đá gà, cụ thể:
Trận thứ nhất: Gà của Trần Quốc T1 đá với gà Phạm Chí L với tổng số tiền cá cược là 6.400.000 đồng, thông qua K làm biện thu tiền xâu với số tiền 100.000 đồng/1.000.000 đồng tiền đánh bạc trong sổ và 50.000 đồng/1.000.000 đồng tiền đánh bạc ngoài sổ, cụ thể như sau: Trần Quốc T1 tham gia đánh bạc số tiền 1.100.000 đồng, Trần Văn T tham gia đánh bạc số tiền 1.900.000 đồng (trong sổ 900.000 đồng, ngoài sổ 1.000.000 đồng), Ngô Văn C tham gia đánh bạc số tiền 200.000 đồng theo bên gà của Toản. Phạm Chí L tham gia đánh bạc số tiền 1.500.000 đồng (trong sổ 1.000.000 đồng và ngoài sổ 500.000 đồng), Trần Văn H tham gia đánh bạc với số tiền 1.700.000 đồng ( trong sổ 1.200.000 đồng và ngoài sổ 500.000 đồng) theo bên gà của Phạm Chí L. Bên gà của Toản do Ngô Văn C ôm gà để Trần Văn T quấn cựa bằng kim loại vào chân gà và thả gà cho đá. Bên gà của L do Trần Văn H ôm gà để L quấn cựa bằng kim loại vào chân gà và thả gà cho đá. Kết thúc trận gà, bên gà của Toản thắng. K thu tiền từ bên thua số tiền 3.200.000 đồng đưa cho T số tiền 3.000.000 đồng để chia cho những người thắng và K nhận tiền xâu trận gà này tổng số tiền là 200.000 đồng. Đồng thời, trong trận gà này K có đưa cho Nguyễn Văn C số tiền 100.000 đồng là tiền K mượn sân của C để làm địa điểm tổ chức đá gà.
Trận thứ hai: Gà của Nguyễn Hoàng P đá với gà của Nguyễn Văn B với tổng số tiền cá cược là 6.400.000 đồng, thông qua K làm biện thu tiền xâu với số tiền 100.000 đồng/1.000.000 đồng tiền đánh bạc trong sổ và 50.000 đồng/1.000.000 đồng tiền đánh bạc ngoài sổ, cụ thể như sau: Nguyễn Hoàng P tham gia đánh bạc với số tiền 1.100.000 đồng; Nguyễn Văn L tham gia đánh bạc với số tiền 1.100.000 đồng; 01 người lạ không rõ họ tên, địa chỉ tham gia đánh bạc số tiền 1.000.000 đồng theo bên gà của P. Nguyễn Văn B tham gia đánh bạc với số tiền 600.000 đồng; 01 người lạ không rõ họ tên, địa chỉ tham gia đánh bạc số tiền 2.600.000 đồng (trong sổ 1.600.000 đồng và ngoài sổ 1.000.000 đồng) theo bên gà của B. Bên gà của P do một đàn ông người lạ mặt ôm gà để cho P quấn cựa bằng kim loại vào chân gà và người đàn ông lạ mặt thả gà cho đá. Bên gà của B do B ôm gà để Huỳnh Phú H quấn cựa bằng kim loại vào chân gà và H là người thả gà cho đá. Khi hai bên đ thỏa thuận xong số tiền tham gia đánh bạc, hoàn thành việc quấn cựa, đem gà ra sân nhử để thả gà thì bị lực lượng công an đến kiểm tra, phát hiện và bắt quả tang.
Ngày 06/7/2024, Cơ quan Cảnh sát Điều tra Công an huyện Duyên Hải ra quyết định khởi tố vụ án; ngày 23/8/2024 ra quyết định khởi tố bị can và ra lệnh bắt bị can để tạm giam đối với Trần Minh K; quyết định khởi tố bị can và ra lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú đối với Trần Văn T, Trần Quốc T1, Ngô Văn C, Phạm Chí L, Trần Văn H, Nguyễn Văn C, Nguyễn Hoàng P, Nguyễn Văn B. Đến ngày 01/11/2024 quyết định khởi tố bị can và ra lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú đối với Huỳnh Phú H về hành vi “ Đánh bạc” theo quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật hình sự.
Đối với hai người lạ mặt, không rõ thông tin, địa chỉ, một người tham gia đánh bạc theo bên gà của Nguyễn Hoàng P số tiền 1.000.000 đồng, một người đánh bạc theo bên gà của Nguyễn Văn B số tiền 2.600.000 đồng thông qua Trần Minh K. Hiện tại, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Duyên Hải chưa làm việc được, khi nào làm việc được sẽ xử lý sau.
Đối với Nguyễn Văn L có hành vi sử dụng số tiền 1.100.000 đồng theo bên gà của Nguyễn Hoàng P cho đủ số tiền 2.200.000 đồng để đánh bạc trái phép, tuy nhiên L không trực tiếp đến hiện trường, chỉ biết số tiền tham gia đánh bạc thông qua P là 2.200.000 đồng, do đó không đủ căn cứ để truy cứu trách nhiệm hình sự. L không có tiền án, tiền sự về hành vi đánh bạc và tổ chức đánh bạc nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Duyên Hải chuyển hồ sơ vi phạm đến người có thẩm quyền để xử lý vi phạm hành chính theo quy định của pháp luật.
Đối với Nguyễn Minh T giúp Nguyễn Văn B hẹn kèo đá gà để tham gia đánh bạc, sử dụng vỏ l i của Thiện đưa Nguyễn Văn B và Huỳnh Phú H đến địa điểm đánh bạc nhưng T không tham gia đánh bạc thắng thua bằng tiền, không biết B tham gia đánh bạc số tiền cụ thể là bao nhiêu và Thiện không nhận lợi ích gì từ việc đánh bạc nên không xem xét, xử lý.
Về vật chứng: Cơ quan Cảnh sát Điều tra Công an huyện Duyên Hải đ thu giữ các vật chứng như sau: 01 cân đồng hồ loại 05 kg, màu xanh, hiệu Nhơn Hòa, không có dĩa cân, đ qua sử dụng; 04 (bốn) chiếc cựa gà bằng kim loại, đ qua sử dụng; 04 (bốn) cuộn băng keo vải có lõi màu trắng, đ qua sử dụng; Số tiền 8.400.000 đồng. Trong đó, Trần Quốc T1 giao nộp số tiền 2.100.000 đồng; Trần Văn T nộp số tiền 3.700.000 đồng; Ngô Văn C giao nộp số tiền 400.000 đồng; Trần Minh K giao nộp số tiền 100.000 đồng, Nguyễn Văn C giao nộp số tiền 400.000 đồng; Nguyễn Hoàng P giao nộp số tiền 1.100.000 đồng; Nguyễn Văn B giao nộp số tiền 600.000 đồng.
Tại bản cáo trạng số 01/CT-VKS ngày 02/12/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Duyên Hải, tỉnh Trà Vinh đ truy tố các bị cáo Trần Minh K, Trần Văn T, Trần Quốc T1, Ngô Văn C, Phạm Chí L, Trần Văn H, Nguyễn Văn C, Nguyễn Hoàng P, Nguyễn Văn B, Huỳnh Phú H về tội “Đánh bạc” theo khoản 1 Điều 321 của Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Tại phiên tòa, các bị cáo Trần Minh K, Trần Văn T, Trần Quốc T1, Ngô Văn C, Phạm Chí L, Trần Văn H, Nguyễn Văn C, Nguyễn Hoàng P, Nguyễn Văn B, Huỳnh Phú H thừa nhận hành vi đánh bạc của các bị cáo như cáo trạng đ nêu là đúng, các bị cáo không có khiếu nại gì về nội dung cáo trạng.
Phát biểu quan điểm luận tội của Vị kiểm sát viên tại phiên tòa: Viện kiểm sát nhân dân huyện Duyên Hải vẫn giữ nguyên nội dung cáo trạng truy tố các bị cáo Trần Minh K, Trần Văn T, Trần Quốc T1, Ngô Văn C, Phạm Chí L, Trần Văn H, Nguyễn Văn C, Nguyễn Hoàng P, Nguyễn Văn B, Huỳnh Phú H phạm tội “Đánh bạc” theo quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017. Kiểm sát viên đ phân tích đánh giá các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự, tính chất của vụ án và đề nghị Hội đồng xét xử:
- Tuyên bố các bị cáo Trần Minh K, Trần Văn T, Trần Quốc T1, Ngô Văn C, Phạm Chí L, Trần Văn H, Nguyễn Văn C, Nguyễn Hoàng P, Nguyễn Văn B, Huỳnh Phú H phạm tội “Đánh bạc”.
- Áp dụng khoản 1 Điều 321, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, điểm g khoản 1 Điều 52, Điều 17, Điều 35, Điều 58 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017. Xử phạt bị cáo Trần Minh K số tiền từ 35.000.000 đồng đến 40.000.000 đồng.
- Áp dụng khoản 1 Điều 321, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, điểm g khoản 1 Điều 52, Điều 17, Điều 35, Điều 58 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017. Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn C số tiền từ 30.000.000 đồng đến 35.000.000 đồng.
- Áp dụng khoản 1 Điều 321, điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 17, Điều 35, Điều 58 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017. Xử phạt bị cáo Trần Văn T số tiền từ 25.000.000 đồng đến 30.000.000 đồng.
- Áp dụng khoản 1 Điều 321, điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 17, Điều 35, Điều 58 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017. Xử phạt bị cáo Trần Quốc T1 số tiền từ 25.000.000 đồng đến 30.000.000 đồng.
- Áp dụng khoản 1 Điều 321, điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 17, Điều 35, Điều 58 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017. Xử phạt bị cáo Ngô Văn C số tiền từ 25.000.000 đồng đến 30.000.000 đồng.
- Áp dụng khoản 1 Điều 321, điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 17, Điều 35, Điều 58 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017. Xử phạt bị cáo Nguyễn Hoàng P số tiền từ 20.000.000 đồng đến 25.000.000 đồng.
- Áp dụng khoản 1 Điều 321, điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 17, Điều 35, Điều 58 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017. Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn Bsố tiền từ 20.000.000 đồng đến 25.000.000 đồng.
- Áp dụng khoản 1 Điều 321, điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 17, Điều 35, Điều 58 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017. Xử phạt bị cáo Huỳnh Phú H số tiền từ 20.000.000 đồng đến 25.000.000 đồng.
- Áp dụng khoản 1 Điều 321, điểm i, s khoản 1 Điều 51, Điều 17, Điều 35, Điều 58 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017. Xử phạt bị cáo Phạm Chí L số tiền từ 25.000.000 đồng đến 30.000.000 đồng.
- Áp dụng khoản 1 Điều 321, điểm i, s khoản 1 Điều 51, Điều 17, Điều 35, Điều 58 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017. Xử phạt bị cáo Trần Văn H số tiền từ 25.000.000 đồng đến 30.000.000 đồng.
Ngoài ra, Vị kiểm sát viên đề nghị Hội đồng xét xử tịch thu nộp ngân sách nhà nước đối với số tiền các bị cáo dùng để đánh bạc, tịch thu tiêu hủy đối với các công cụ, dụng cụ mà các bị cáo sử dụng vào việc đánh bạc do không có giá trị sử dụng và buộc các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.
Các bị cáo nói lời sau cùng: Trần Minh K, Trần Văn T, Trần Quốc T1, Ngô Văn C, Phạm Chí L, Trần Văn H, Nguyễn Văn C, Nguyễn Hoàng P, Nguyễn Văn B, Huỳnh Phú H xin Hội đồng xét xử xem xét, giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đ được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
Về tội danh: Tại phiên tòa hôm nay, các bị cáo Trần Minh K, Trần Văn T, Trần Quốc T1, Ngô Văn C, Phạm Chí L, Trần Văn H, Nguyễn Văn C, Nguyễn Hoàng P, Nguyễn Văn B, Huỳnh Phú H cùng khai nhận hành vi đánh bạc của các bị cáo đúng như nội dung cáo trạng mô tả, phù hợp với lời khai của các bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác mà Cơ quan điều tra đ thu được có trong hồ sơ vụ án thể hiện như sau:
- Trận gà thứ nhất: Trần Quốc T1, Trần Văn T, Ngô Văn C, Phạm Chí L và Trần Văn H tham gia đánh bạc dưới hình thức đá gà ăn thua bằng tiền, tổng số tiền tham gia đánh bạc của trận gà là 6.400.000 đồng.
- Trận thứ hai: Nguyễn Hoàng P, Nguyễn Văn Bvà những người không biết họ tên, địa chỉ tham gia đánh bạc dưới hình thức đá gà ăn thua bằng tiền, tổng số tiền tham gia đánh bạc của trận gà là 6.400.000 đồng.
- Trần Minh K có hành vi hẹn đánh bạc dưới hình thức đá gà ăn thua bằng tiền, chuẩn bị dụng cụ phục vụ cho việc đánh bạc và làm trọng tài phân định thắng thua và hưởng lợi từ việc thu tiền xâu.
- Nguyễn Văn C cho Khá mượn b i đất trống thuộc quyền sử dụng của mình làm nơi tổ chức đánh bạc để nhận tiền từ Khá. Trận gà thứ nhất, Khá đưa cho Chanh số tiền 100.000 đồng là tiền mượn b i đất trống. Trận gà thứ hai, chuẩn bị thả gà ra cho đá thì bị lực lượng công an phát hiện và mời về làm việc nên Chanh không có nhận tiền từ Khá.
- Huỳnh Phú H có hành vi giúp sức cho người khác đánh bạc ở trận gà thứ hai. H tuy không tham gia đánh bạc để ăn thua bằng tiền nhưng biết rõ trận gà diễn ra có nhiều người khác tham gia đánh bạc ăn thua bằng tiền mà vẫn cố ý giúp sức bằng cách quấn cựa kim loại vào chân gà và thả gà giúp cho Nguyễn Văn B, tạo điều kiện thuận lợi để cho trận gà diễn ra.
Từ phân tích về hành vi của các bị cáo như đ nêu trên. Nhận thấy, đủ cơ sở kết luận hành vi đánh bạc của các bị cáo Trần Minh K, Trần Văn T, Trần Quốc T1, Ngô Văn C, Phạm Chí L, Trần Văn H, Nguyễn Văn C, Nguyễn Hoàng P, Nguyễn Văn B, Huỳnh Phú H đ phạm tội “Đánh bạc” theo quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 như kết luận của Viện kiểm sát là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
Xét tính chất, mức độ hành vi phạm tội, nhân thân, các tình tiết tăng nặng và giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của các bị cáo:
. Xét tính chất của vụ án là ít nghiêm trọng, hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho x hội. Đánh bạc ăn thua bằng tiền là nguyên nhân dẫn đến các tệ nạn x hội khác, làm ảnh hưởng an ninh, trật tự địa phương. Do đó, để giáo dục các bị cáo trở thành người tốt cho x hội, vừa răn đe, phòng ngừa chung cho x hội, vừa phục vụ tốt tình hình đấu tranh phòng chống tội phạm hiện nay, cần phải xem xét cho các bị cáo một hình phạt tương xứng với hành vi phạm tội của từng bị cáo.
. Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Khi quyết định hình phạt đối với các bị cáo cũng cần xem xét về các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và tính nguy hiểm hành vi phạm tội của từng bị cáo như sau:
Các bị cáo gồm Trần Văn T, Trần Quốc T1, Ngô Văn C, Nguyễn Hoàng P, Nguyễn Văn B, Huỳnh Phú H phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; các bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho các bị cáo được quy định tại điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017. Đồng thời, các bị cáo Trần Văn T, Trần Quốc T1, Ngô Văn C, Nguyễn Hoàng P, Nguyễn Văn Btự nguyện giao nộp toàn bộ số tiền các bị cáo đ sử dụng vào việc đánh bạc. Riêng bị cáo Nguyễn Văn Bvà Huỳnh Phú H có thân nhân là những người có công với cách mạng được Nhà nước công nhận nên các bị cáo được áp dụng thêm tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình được quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.
Các bị cáo gồm Phạm Chí L, Trần Văn H phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; các bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho các bị cáo được quy định tại điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017
Các bị cáo gồm Trần Minh K, Nguyễn Văn C thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, cả hai bị cáo đều là lao động chính trong gia đình, trong quá trình điều tra hai bị cáo tự nguyện giao nộp toàn bộ số tiền đ sử dụng vào việc đánh bạc. Đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho hai bị cáo được quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.
.Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo Trần Minh K, Nguyễn Văn C thuộc trường hợp phạm tội hai lần trở lên. Đây là tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự đối với bị Trần Văn Khá, Nguyễn Văn C theo quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự.
. Xét về nhân thân: Tất cả các bị cáo Trần Minh K, Nguyễn Văn C, Trần Quốc T1, Phạm Chí L, Trần Văn H, Nguyễn Hoàng P, Nguyễn Văn B, Huỳnh Phú H có nhân thân tốt. Riêng hai bị cáo Trần Văn T và Ngô Văn C đ từng bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi đánh bạc, mặc dù đ hết thời hạn được coi là chưa bị xử lý vi phạm hành chính, nhưng xét về nhân thân thì hai bị cáo Thừa và Chín có nhân thân xấu.
. Do đó, Hội đồng xét xử xét thấy cần phải phân hóa lượng hình như sau:
Xét về tính chất, mức độ nguy hiểm hành vi phạm tội của các bị cáo Trần Văn T, Trần Quốc T1, Ngô Văn C, Phạm Chí L, Trần Văn H, Nguyễn Hoàng P, Nguyễn Văn B, Huỳnh Phú H ít nghiêm trọng, các bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Hội đồng xét xử xét thấy không cần phạt tù, mà phạt tiền đối với các bị cáo cũng đủ tính nghiêm minh, răn đe của pháp luật, vừa thể hiện chính sách khoan hồng của Nhà Nước.
Đối với bị cáo Trần Minh K, Nguyễn Văn C phạm tội thuộc trường hợp phạm tội hai lần, tính chấp hành pháp luật không nghiêm, bị cáo Khá và bị cáo Chanh là người khởi xướng rủ rê, tạo điều kiện cho các bị cáo khác tham gia đánh bạc. Các bị cáo cần phải có thời gian cải tạo, giáo dục các bị cáo trở thành công dân có ích cho x Hội. Tuy nhiên, nhận thấy hiện tại hành vi của hai bị cáo đ chấm dứt và không gây nguy hiểm cho x hội nên không cần cách ly hai bị cáo ra khỏi x hội, cho hai bị cáo được trở về địa phương tiếp tục sinh sống và làm việc dưới sự giám sát, giáo dục của chính quyền địa phương một thời gian cũng đủ tính nghiêm minh, răn đe của pháp luật, vừa thể hiện chính sách khoan hồng của Nhà Nước.
. Đối với hai người lạ mặt, không rõ thông tin, địa chỉ, một người tham gia đánh bạc theo bên gà của Nguyễn Hoàng P số tiền 1.000.000 đồng, một người đánh bạc theo bên gà của Nguyễn Văn Bsố tiền 2.600.000 đồng thông qua Trần Minh K. Hiện tại, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Duyên Hải chưa làm việc được, khi nào làm việc được sẽ xử lý sau.
. Đối với Nguyễn Văn L có hành vi sử dụng số tiền 1.100.000 đồng theo bên gà của Nguyễn Hoàng P cho đủ số tiền 2.200.000 đồng để đánh bạc trái phép, tuy nhiên L không trực tiếp đến hiện trường, chỉ biết số tiền tham gia đánh bạc thông qua P là 2.200.000 đồng, do đó không đủ căn cứ để truy cứu trách nhiệm hình sự. L không có tiền án, tiền sự về hành vi đánh bạc và tổ chức đánh bạc nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Duyên Hải chuyển hồ sơ vi phạm đến người có thẩm quyền để xử lý vi phạm hành chính theo quy định của pháp luật.
. Đối với Nguyễn Minh T giúp Nguyễn Văn Bhẹn kèo đá gà để tham gia đánh bạc, sử dụng vỏ l i của Thiện đưa Nguyễn Văn Bvà Huỳnh Phú H đến địa điểm đánh bạc nhưng Thiện không tham gia đánh bạc thắng thua bằng tiền, không biết B tham gia đánh bạc số tiền cụ thể là bao nhiêu và Thiện không nhận lợi ích gì từ việc đánh bạc nên không xem xét, xử lý.
Về xử lý vật chứng:
01 cân đồng hồ loại 05 kg, màu xanh, hiệu Nhơn Hòa, không có dĩa cân, đ qua sử dụng; 04 (bốn) chiếc cựa gà bằng kim loại, đ qua sử dụng; 04 (bốn) cuộn băng keo vải có lõi màu trắng, đ qua sử dụng, là công cụ phương tiện các bị cáo phục vụ cho việc đánh bạc, không có giá trị sử dụng nên tịch thu tiêu hủy.
Số tiền 8.400.000 đồng (trong đó Trần Quốc T1 giao nộp số tiền 2.100.000 đồng; Trần Văn T nộp số tiền 3.700.000 đồng; Ngô Văn C giao nộp số tiền 400.000 đồng; Trần Minh K giao nộp số tiền 100.000 đồng, Nguyễn Văn C giao nộp số tiền 400.000 đồng; Nguyễn Hoàng P giao nộp số tiền 1.100.000 đồng; Nguyễn Văn Bgiao nộp số tiền 600.000 đồng là số tiền mà các bị cáo sử dụng vào việc đánh bạc nên tịch thu nộp vào ngân sách Nhà nước.
Xét thấy bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Duyên Hải đ truy tố các bị cáo về tội “Đánh bạc” theo khoản 1 Điều 321 của Bộ luật hình sự là đúng người, đúng tội. Xét đề nghị của Vị đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Duyên Hải về tội danh, về xử lý vật chứng về mức hình phạt tiền đối với các bị cáo Trần Văn T, Trần Quốc T1, Ngô Văn C, Phạm Chí L, Trần Văn H, Nguyễn Hoàng P, Nguyễn Văn B, Huỳnh Phú H phù hợp quy định pháp luật nên Hội đồng xét xử nên chấp nhận. Riêng về đề nghị xử phạt hình phạt tiền đối với hai bị cáo Trần Minh K và Nguyễn Văn C, Hội đồng xét xử nhận thấy chưa tương xứng với hành vi của hai bị cáo như đ phân tích ở mục [2.5] nên không chấp nhận mà Hội đồng xét xử sẽ cân nhắc mức hình phạt phù hợp với tính chất mức độ hành vi phạm tội của hai bị cáo Khá và Chanh.
. Về tài liệu, chứng cứ do Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên thu thập, các bị cáo, người tham gia tố tụng khác cung cấp đều là chứng cứ hợp pháp.
. Về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử đ thực hiện đúng và đầy đủ trình tự thủ tục tố tụng theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Các hành vi, quyết định tố tụng, người tiến hành tố tụng đều hợp pháp, đảm bảo việc điều tra, truy tố đúng quy định của pháp luật.
Về án phí: Các bị cáo Trần Minh K, Trần Văn T, Trần Quốc T1, Ngô Văn C, Phạm Chí L, Trần Văn H, Nguyễn Văn C, Nguyễn Hoàng P, Nguyễn Văn B, Huỳnh Phú H phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố các bị cáo Trần Minh K, Trần Văn T, Trần Quốc T1, Ngô Văn C, Phạm Chí L, Trần Văn H, Nguyễn Văn C, Nguyễn Hoàng P, Nguyễn Văn B, Huỳnh Phú H phạm tội “Đánh bạc” theo quy định tại khoản 1 Điều 321 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 .
- Căn cứ khoản 1, khoản 3 Điều 321, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, điểm g khoản 1 Điều 52, Điều 17, Điều 65, Điều 58 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.
Xử phạt bị cáo Trần Minh K 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù cho hưởng án treo. Thời gian thử thách 36 (ba mươi sáu) tháng tính từ ngày tuyên án. Xử phạt bổ sung bị cáo Trần Minh K số tiền 20.000.000 (hai mươi triệu) đồng để sung vào ngân sách Nhà nước được tính từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn C 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù cho hưởng án treo. Thời gian thử thách 36 (ba mươi sáu) tháng tính từ ngày tuyên án. Xử phạt bổ sung bị cáo Nguyễn Văn C số tiền 20.000.000 (hai mươi triệu) đồng để sung vào ngân sách Nhà nước được tính từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật.
Giao bị cáo Trần Minh K và bị cáo Nguyễn Văn C cho Ủy ban nhân dân x Đôn Xuân, huyện Duyên Hải, tỉnh Trà Vinh giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.
Trong trường hợp người được hưởng án treo vắng mặt tại nơi cư trú, thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 92 của Luật thi hành án hình sự.
Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc người đó phải chấp hành hình phạt tù của bản án đ cho hưởng án treo. Trường hợp thực hiện hành vi phạm tội mới thì Tòa án buộc người đó phải chấp hành hình phạt của bản án trước và tổng hợp với hình phạt của bản án mới theo quy định tại Điều 56 của Bộ luật hình sự.
- Căn cứ khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 17; Điều 35; Điều 58 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017
Xử phạt bị cáo Phạm Chí L số tiền 30.000.000 (ba mươi triệu) đồng để sung vào ngân sách Nhà nước được tính từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật.
Xử phạt bị cáo Trần Văn H số tiền 30.000.000 (ba mươi triệu) đồng để sung vào ngân sách Nhà nước được tính từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật.
- Căn cứ khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 35; Điều 58 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017;
Xử phạt bị cáo Trần Văn T số tiền 30.000.000 (ba mươi triệu) đồng để sung vào ngân sách Nhà nước được tính từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật.
Xử phạt bị cáo Trần Quốc T1 số tiền 25.000.000 (hai mươi lăm triệu) đồng để sung vào ngân sách Nhà nước được tính từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật.
Xử phạt bị cáo Ngô Văn C số tiền 25.000.000 (hai mươi lăm triệu) đồng để sung vào ngân sách Nhà nước được tính từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Hoàng P số tiền 25.000.000 (hai mươi lăm triệu) đồng để sung vào ngân sách Nhà nước được tính từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn Bsố tiền 20.000.000 (hai mươi triệu) đồng để sung vào ngân sách Nhà nước được tính từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật.
Xử phạt bị cáo Huỳnh Phú H số tiền 20.000.000 (hai mươi triệu) đồng để sung vào ngân sách Nhà nước được tính từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật.
- Về vật chứng: Áp dụng Điều 47 của Bộ Luật hình sự; Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự
Tịch thu tiêu hủy: 01 cân đồng hồ loại 05 kg, màu xanh, hiệu Nhơn Hòa, không có dĩa cân, đ qua sử dụng; 04 (bốn) chiếc cựa gà bằng kim loại, đ qua sử dụng; 04 (bốn) cuộn băng keo vải có lõi màu trắng, đ qua sử dụng.
Tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước: Số tiền 8.400.000 (tám triệu bốn trăm nghìn) đồng. Trong đó Trần Quốc T1 giao nộp số tiền 2.100.000 (hai triệu một trăm nghìn) đồng; Trần Văn T nộp số tiền 3.700.000 (ba triệu bảy trăm nghìn) đồng; Ngô Văn C giao nộp số tiền 400.000 (bốn trăm nghìn) đồng; Trần Minh K giao nộp số tiền 100.000 (một trăm nghìn) đồng, Nguyễn Văn C giao nộp số tiền 400.000 (bốn tram nghìn) đồng; Nguyễn Hoàng P giao nộp số tiền 1.100.000 (một triệu một trăm nghìn) đồng; Nguyễn Văn Bgiao nộp số tiền 600.000 (sáu trăm nghìn) đồng.
Về án phí: Áp dụng Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án buộc các bị cáo Trần Minh K, Trần Văn T, Trần Quốc T1, Ngô Văn C, Phạm Chí L, Trần Văn H, Nguyễn Văn C, Nguyễn Hoàng P, Nguyễn Văn B, Huỳnh Phú H mỗi bị cáo phải nộp 200.000 đồng (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Án xử sơ thẩm, các bị cáo có mặt tại phiên toà biết có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án để xin Tòa án nhân dân tỉnh Trà Vinh xét xử lại theo thủ tục P thẩm.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Trà Vinh; - VKSND tỉnh Trà Vinh; - STP tỉnh Trà Vinh; - VKSND huyện Duyên Hải; - CA huyện Duyên Hải; - CCTHADS huyện Duyên Hải; - UBND các x Đôn Xuân, Long Vĩnh, Đôn Châu; - Bị cáo; - Lưu hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguy n Th M inh |