- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "lh"
- Tòa quyết gì? [1] Căn cứ vào các Điều 51, 56, 58, 81, 82, 83 Luật hôn nhân và gia đình; Căn cứ vào các Điều 28, 35, 39, 147, 227, 228, 238, 254, 262, 264, 266, 267, 269, 271, 273 Bộ luật tố tụng dân sự; Nghị quyết 326 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội; Xử:
- Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TIÊN DU TỈNH BẮC NINH Bản án HNGĐ sơ thẩm | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Số: 24/2025/HNGĐ-ST. Ngày 30/5/2025 ------------- V/v: Tranh chấp về HN&GĐ. Với Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có: Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thúy Hằng. Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Văn Tấn; Ông Trần Quang Lưu. Thư ký ghi biên bản phiên tòa: Bà Lê Hà Phương- Thư ký Tòa án. sát viên. phiên toà công khai để xét xử sơ thẩm vụ án thụ lý số: 118/2025/TLST - HNGĐ, ngày 14 tháng 02 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 30/2025/QĐST- HNGĐ ngày 28 tháng 4 năm 2025; Quyết định hoãn phiên tòa số 20 ngày 14/5/2025 giữa các đương sự: Khánh, huyện Trùng Khánh, Cao Bằng (các đương sự đều vắng mặt) | Ngày 30 tháng 5 năm 2025, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Tiên Du mở |
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo đơn khởi kiện và các lời khai tại Tòa án chị Hoàng Thị Ngọc D có lời khai trình bày: Chị kết hôn với anh Dương Tuấn V năm 2023. Anh chị kết hôn do tự nguyện tìm hiểu và có đăng ký kết hôn tại UBND xã Liên Bão, huyện Tiên Du. Sau khi kết hôn vợ chồng sống ở Cao Bằng vì vợ chồng buôn bán ở đó. Sau khi kết hôn anh chị hay mâu thuẫn, nguyên nhân do quan điểm sống của vợ chồng không phù hợp. Anh V ham chơi lười làm nên vợ chồng càng dễ va chạm, thậm chí chị góp ý anh ấy còn quát tháo, đập đồ. Từ khi lấy nhau kinh tế gia đình luôn do chị tự lo anh V không chịu làm gì cả. Bố mẹ hai gia đình đều biết rõ cuộc sống của anh chị và có khuyên can anh V để anh sửa đổi tính cách nhưng anh V đã không nghe lại còn kiếm cớ chửi bới chị để mọi người biết chuyện. Tháng 7/2024 chị sinh con trong viện anh V đã không quan tâm mà còn chửi chị tại viện và đập điện thoại của chị. Chị nuôi con trong cữ anh V cũng chửi bới chị suốt. Anh V nghiện chơi game nên suốt ngày chỉ chơi bời không trách nhiệm gì. Đêm hôm con nhỏ chị nhờ anh pha sữa cho con anh không làm còn vứt bình sữa chửi chị vì anh V chỉ muốn ngủ. Nói chung trong suốt quá trình vợ chồng chung sống chị chưa biết thế nào là sự quan tâm, chăm sóc của chồng. Bố mẹ chồng cũng đều biết rõ sự việc vì ngay cả bố mẹ hai bên anh V cũng quát họ thẳng mặt luôn không tôn trọng gì. Từ khi chị có thai cuối năm 2023 mâu thuẫn vợ chồng đã trầm trọng và anh V về nhà bố mẹ anh ở Tiên Du ở, anh chị ly thân. Tháng 7/2024 anh V đưa chị đi sinh con xong thì về sống chung với chị được một tháng sau khi chị sinh con sau đó cả hai lại cãi vã và anh V lại về nhà đẻ bế cả con mới hơn 01 tháng tuổi theo sau đó bố mẹ chồng chị phải mang con lại Cao Bằng giao cho chị, từ đó đến nay anh chị ly thân nhau hẳn. Đến nay thời gian đã lâu và chị cũng đã suy nghĩ rất nhiều về cuộc sống vợ chồng. Chị không thể nhẫn nhịn sống với anh V được vì chị không còn chút tình cảm nào với anh V nữa. Chị không thể chấp nhận người chồng vô trách nhiệm, thô bạo như anh V. Chị đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn. Việc chị làm đơn ly hôn anh V và bố mẹ hai bên gia đình đều biết vì chị có nói chuyện với anh V và bố mẹ hai bên.
Về con chung: Vợ chồng có 01 con chung là Dương Minh Q, sinh ngày 17/7/2024. Hiện tại con đang do chị chăm sóc, anh V không có trách nhiệm gì với vợ con. Vợ chồng ly hôn chị xin được nuôi con và không yêu cầu anh V cấp dưỡng.
Hiện tại chị bán hàng (thuê cửa hàng) thu nhập của chị cũng khoảng 15 triệu đồng/tháng. Vì là lao động tự do nên chị không có chứng cứ chứng minh về thu nhập tuy nhiên từ khi lấy anh V đến nay chị chưa hề có sự trợ giúp chút nào về kinh tế từ anh V. Khi còn chung sống cuộc sống gia đình chỉ một mình chị chăm lo anh V không hề quan tâm hỏi han gì. Chị đảm bảo đủ điều kiện chăm sóc tốt cho con;
Tài sản chung, công nợ, công sức: Chị không yêu cầu giải quyết.
Phía bị đơn (anh Dương Tuấn V) Tòa án đã giao thông báo nhiều lần, các thông báo của Tòa án đã được Công an xã Liên Bão phối kết hợp cùng với Tòa án giao cho anh V nhưng do anh V không có mặt tại địa phương, mọi thủ tục đã được Tòa án tiến hành niêm yết theo quy định pháp luật. Anh V luôn vắng mặt không có lý do nên Tòa án không lấy được lời khai, không công bố chứng cứ và hòa giải được giữa anh chị.
Làm việc với gia đình anh V, ông Dương Tuấn Hạnh (bố anh V) cho biết: Cuộc sống vợ chồng anh V sau khi kết hôn ổn định đến khoảng tháng 9/2024 phát sinh mâu thuẫn, vợ chồng cãi nhau do bất đồng quan điểm sống. Bản thân anh V nghịch và đã từng va chạm pháp luật. Anh V học đến lớp 8 gia đình đã phải đưa đi trường giáo dưỡng về sau vi phạm pháp luật bị xét xử về tội Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản. Chị D biết quá khứ của anh V và khi cả hai tìm hiểu chị đã khẳng định với gia đình là sẽ cảm hóa được anh V. Tháng 9/2024 khi hai vợ chồng mâu thuẫn, chị D để con nhỏ mới 02 tháng tuổi ở nhà chồng để về nhà ngoại sau đó vợ chồng ông phải đưa cháu về cho chị D. Hai bên gia đình phân tích cho vợ chồng anh chị để hai người hòa hợp. Một thời gian sau cả hai lại mâu thuẫn, nguyên nhân chỉ do các mâu thuẫn nhỏ nhặt không ai nhường ai. Khoảng tháng 02/2025 anh V có nói chuyện với gia đình về việc chị D xin ly hôn và quan điểm của gia đình về chuyện đó do vợ chồng anh chị tự giải quyết. Trước đó chị D cũng nói chuyện với gia đình ông việc vợ chồng anh chị không ở được với nhau và chị sẽ làm đơn ly hôn. Lần cuối (khoảng tháng 3/2025) anh V điện thoại về nhà ông xin vợ chồng ông tiền trả nợ mới về nhà được nhưng sau đó không thấy anh V điện thoại lại nữa. Hiện tại với việc chị D xin ly hôn quan điểm cảu gia đình ông là tùy anh chị giải quyết vì mâu thuẫn vợ chồng anh chị cũng kéo dài rồi đến nay gia đình không khuyên bảo được nữa. Nếu chị D quyết tâm ly hôn gia đình ông cũng đề nghị Tòa án xem xét giải quyết theo nguyện vọng của chị.
Nguyên đơn có ý kiến xin được xét xử vắng mặt và giữ nguyên quan điểm khởi kiện. Bị đơn vắng mặt hai lần không có lý do nên phiên tòa tiếp tục xét xử theo quy định pháp luật.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tiên Du đã phát biểu ý kiến về việc tuân thủ theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, việc chấp hành pháp luật của nguyên đơn kể từ khi Tòa án thụ lý vụ án cho đến phần tranh luận tại phiên tòa là đảm bảo theo đúng trình tự quy định của pháp luật. Đối với bị đơn vắng mặt tại quá trình giải quyết cũng như tại phiên tòa không có lý do nên chưa chấp hành đúng quy định của pháp luật.
Đại diện VKS nhân dân huyện Tiên Du đề nghị HĐXX áp dụng các Điều 51, 56, 58, 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và gia đình; các Điều 28, 35, 39, 147 BLTTDS; Nghị quyết 326 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội; Xử: Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận đơn xin ly hôn của chị Hoàng Thị Ngọc D. Chị D được ly hôn anh V.
Về con chung: Giao con Dương Minh Q, sinh ngày 17/7/2024 cho chị D nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục; Việc cấp dưỡng nuôi con không đề cập giải quyết;
Anh V được quyền thăm nom con theo quy định của pháp luật, không ai được quyền cản trở;
Tài sản chung, công nợ chung, công sức: Không yêu cầu nên không đề cập giải quyết.
Án phí: Chị D phải chịu án phí theo quy định pháp luật;
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà Hội đồng xét xử nhận định.
Về tố tụng: Chị Hoàng Thị Ngọc D làm đơn khởi kiện ly hôn với anh Dương Tuấn V, anh V có HKTT tại HT huyện Tiên Du nên xét việc Tòa án nhân dân huyện Tiên Du thụ lý và giải quyết vụ án là hoàn toàn đúng thẩm quyền theo quy định;
Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã niêm yết các thông báo hợp lệ đối với anh V nhưng anh luôn vắng mặt không có lý do. Tòa án nhân dân huyện Tiên Du ra Quyết định đưa vụ án ra xét xử và mọi thủ tục đều được niêm yết theo quy định pháp luật. Như vậy, việc anh V vắng mặt tại phiên tòa lần này là lần thứ hai nên vụ án được đưa ra xét xử theo quy định tại Điều 227 BLTTDS.
. Về nội dung: Chị Hoàng Thị Ngọc D và anh Dương Tuấn V kết hôn năm 2023. Anh chị có đăng ký kết hôn, việc kết hôn trên cơ sở tự nguyện nên hôn nhân của anh chị là hợp pháp và đã tuân thủ đầy đủ các quy định của pháp luật về kết hôn;
Xét yêu cầu xin ly hôn của chị D thì thấy: Cuộc sống vợ chồng chị thực sự xảy ra mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn theo chị trình bày là do anh V không chí thú làm ăn trong cuộc sống, một mình chị phải đi làm và chăm lo cho gia đình. Gia đình anh V cũng xác nhận anh V và gia đình anh đều biết việc chị D muốn ly hôn và làm thủ tục ly hôn với anh. Gia đình anh xác nhận vợ chồng anh chị có mâu thuẫn từ lâu đến nay gia đình không khuyên can được và cũng đề nghị Tòa án giải quyết cho chị D được ly hôn theo nguyện vọng.
Việc Tòa án nhân dân huyện Tiên Du thụ lý giải quyết đơn ly hôn của chị D với anh V đã được Tòa án huyện Tiên Du thông báo với gia đình anh V; Các thủ tục thông báo làm việc đều được niêm yết theo quy định pháp luật nhưng anh V luôn vắng mặt không có lý do trong quá trình tòa án giải quyết cũng như tại phiên tòa nên xác định anh V tự từ bỏ quyền và nghĩa vụ của mình. Việc anh V bỏ mặc không tham gia, không có bất kỳ văn bản trình bày nào phản hồi ý kiến của anh trong quá trình Tòa án giải quyết thể hiện rõ anh V không có ý định níu kéo duy trì hôn nhân với chị D.
Xét thấy, mâu thuẫn vợ chồng giữa anh chị là có thực. Mức độ mâu thuẫn đã trầm trọng, đời sống chung không thể duy trì, mục đích của hôn nhân không đạt được. Căn cứ theo quy định của Luật hôn nhân và gia đình xét thấy cần chấp nhận đơn ly hôn của chị D, xử cho chị được ly hôn anh V là phù hợp.
Về con chung: Anh chị có 01 con chung là Dương Minh Q, sinh ngày 17/7/2024. Chị D có nguyện vọng muốn được nuôi con. Xét thấy cháu Q vẫn còn nhỏ (mới hơn 01 tuổi) nên rất cần sự chăm sóc của mẹ. Về công việc, cuộc sống của chị D ổn định đủ điều kiện để chăm lo được cho con. Anh V không đến làm việc tại Tòa án nên về công việc và thu nhập của anh không làm rõ được; Gia đình anh (bố anh V) cũng có đề nghị Tòa án giao con cho chị D nuôi nếu vợ chồng anh chị ly hôn; Xét thấy, từ điều kiện hoàn cảnh của anh V, chị D và căn cứ theo quy định của pháp luật quy định đối với con chưa đủ 36 tháng tuổi xét cần giao cháu Q cho chị D nuôi sau khi anh chị ly hôn là phù hợp.
Việc cấp dưỡng nuôi con không yêu cầu nên không đề cập giải quyết;
Anh V được quyền thăm nom con theo quy định của pháp luật;
Về tài sản chung, công nợ, công sức: Đương sự không yêu cầu nên không đề cập giải quyết.
Về án phí: Chị D phải chịu án phí theo quy định của pháp luật;
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH
[1] Căn cứ vào các Điều 51, 56, 58, 81, 82, 83 Luật hôn nhân và gia đình; Căn cứ vào các Điều 28, 35, 39, 147, 227, 228, 238, 254, 262, 264, 266, 267, 269, 271, 273 Bộ luật tố tụng dân sự; Nghị quyết 326 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội; Xử:
[2] Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Hoàng Thị Ngọc D. Chị D được ly hôn anh V;
[3] Về con chung: Giao con Dương Minh Q, sinh ngày 17/7/2024 cho chị D nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục;
Việc cấp dưỡng nuôi con không đề cập giải quyết;
Anh V được quyền thăm nom con theo quy định của pháp luật mà không ai được cản trở.
[4] Về tài sản chung, công nợ, công sức: Không yêu cầu nên không đề cập giải quyết.
[5] Về án phí: Chị D phải chịu 300.000đ án phí ly hôn sơ thẩm. Xác nhận chị đã nộp 300.000đ tiền tạm ứng án phí đã nộp tại biên lai số 0001631 ngày 13/02/2025 của Chi cục thi hành án huyện Tiên Du.
[6] Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn, Bị đơn vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được tống đạt bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Bắc Ninh; - VKSND huyện Tiên Du; - THADS huyện Tiên Du; - UBND xã Liên Bão - Đương sự. - Lưu | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ Chủ tọa phiên tòa Nguyễn Thúy Hằng |