vanban.org

Bản án 24/2025/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Tranh chấp ly hôn và nuôi con chung"
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 4 - AN GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 24/2025/HNGĐ-ST.
Ngày: 16/7/2025
Về việc: “Xin ly hôn và giải
quyết việc nuôi con chung”.

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 4 - AN GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Ông Đặng Thanh Sang

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Nguyễn Văn Đoạt

Bà Đinh Thị Phƣơng Lan

Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Ngọc Diệp - Thư ký TAND khu vực 4 - An Giang.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 4 – An Giang tham phiên tòa: Không.

Ngày 16 tháng 7 năm 2025 tại Trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 4 - An Giang xét xử công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số: 113/2025/TLST- HNGĐ ngày 19 tháng 3 năm 2025 về việc: “Xin ly hôn và giải quyết việc nuôi con chung”. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 103/2025/QĐST - HNGĐ, ngày 27 tháng 6 năm 2025 giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Chị Lê Thị Kim N, sinh năm 1993 (Có đơn xin xét xử vắng mặt).

Địa chỉ: tổ 17, ấp H, xã M, huyện H, tỉnh K (nay là tổ 17, ấp H, xã M, tỉnh A).

Bị đơn: Anh Lê Thanh H, sinh năm 1986 (Có đơn xin xét xử vắng mặt).

Địa chỉ: ấp H, xã M, huyện H, tỉnh K (nay là tổ 17, ấp H, xã M, tỉnh A).

NỘI DUNG VỤ ÁN

* Theo đơn khởi kiện và quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn chị Lê Thị Kim N trình bày như sau:

- Về hôn nhân: Chị Lê Thị Kim N và anh Lê Thanh H tự tìm hiểu yêu thương nhau, sau đó được hai bên gia đình đồng ý tổ chức đám cưới, anh chị có đăng ký kết hôn và được Ủy ban nhân dân xã Mỹ Hiệp Sơn, huyện Hòn Đất, tỉnh Kiên Giang cấp giấy chứng nhận kết hôn vào ngày 02/7/2018. Thời gian đầu, vợ chồng sống rất hạnh phúc, tuy nhiên thời gian sau thì giữa vợ chồng phát sinh nhiều mâu thuẫn do bất đồng quan điểm sống, không có tiếng nói chung, và đã ly thân hơn 03 năm nay. Xét thấy tình cảm vợ chồng đã mâu thuẫn trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được và không thể hàn gắn được. Do đó, chị N yêu cầu được ly hôn với anh Lê Thanh H.

- Về con chung: Chị Lê Thị Kim N và anh Lê Thanh H có 01 người con chung tên là Lê Thị Gia H, sinh ngày 05/10/2018 hiện đang ở với chị N. Sau khi ly hôn chị N yêu cầu được nuôi dưỡng con chung đến tuổi trưởng thành và không yêu cầu anh H phải cấp dưỡng nuôi con chung.

- Về tài sản chung: Chị Lê Thị Kim N và anh Lê Thanh H không có tài sản chung nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

- Về nợ chung: Chị Lê Thị Kim N và anh Lê Thanh H không có nợ ai nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

* Bị đơn anh Lê Thanh H trình bày:

- Về hôn nhân: Anh Lê Thanh H đồng ý ly hôn với chị Lê Thị Kim N.

- Về con chung: Anh Lê Thanh H và chị Lê Thị Kim N có với nhau có 01 người con chung tên là Lê Thị Gia H, sinh ngày 05/10/2018 hiện đang sống cùng chị N. Anh H đồng ý giao con chung cho chị N nuôi dưỡng đến tuổi trưởng thành và không cấp dưỡng nuôi con chung.

- Về tài sản chung: Anh Lê Thanh H và chị Lê Thị Kim N không có tài sản chung nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

- Về nợ chung: Anh Lê Thanh H và chị Lê Thị Kim N không có nợ ai nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Qua nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết: Theo đơn khởi kiện nguyên đơn chị Lê Thị Kim N yêu cầu được ly hôn với bị đơn anh Lê Thanh H. Bị đơn cư trú tại ấp H, xã M, huyện H, tỉnh K (nay là tổ 17, ấp H, xã M, tỉnh A). Xét thấy đây là tranh chấp về hôn nhân và gia đình thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân khu vực 4 - An Giang theo quy định tại Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; Điều 5 Nghị quyết 01/2025/NQ-HĐTP ngày 27/6/2025 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao quy định về việc “Hướng dẫn áp dụng một số quy định về tiếp nhận nhiệm vụ, thực hiện thẩm quyền của các Tòa án nhân dân”.

Về thủ tục tố tụng: Nguyên đơn chị Lê Thị Kim N và bị đơn anh Lê Thanh H đều có yêu cầu Toà án xét xử vắng mặt. Căn cứ vào Điều 227, Điều 228 của Bộ Luật tố tụng dân sự năm 2015 Hội đồng xét xử quyết định tiến hành xét xử trong trường hợp vắng mặt nguyên đơn chị Lê Thị Kim N và bị đơn anh Lê Thanh H tại phiên tòa.

Về nội dung vụ án:

Về hôn nhân: Qua các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án Hội đồng xét xử có cơ sở xác định chị Lê Thị Kim N và bị đơn anh Lê Thanh H xác lập quan hệ hôn nhân trên cơ sở tự nguyện, anh chị có tổ chức đám cưới theo phong tục địa phương, có thực hiện thủ tục đăng ký kết hôn và được Ủy ban nhân dân xã Mỹ Hiệp Sơn, huyện Hòn Đất, tỉnh Kiên Giang cấp giấy chứng nhận kết hôn vào ngày 02/7/2018. Như vậy, hôn nhân giữa chị Lê Thị Kim N và anh Lê Thanh H là hợp pháp, được pháp luật thừa nhận và bảo vệ.

Theo đơn khởi kiện chị Lê Thị Kim N yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh Lê Thanh H do tình cảm vợ chồng không còn và không thể hàn gắn được. Quá trình giải quyết vụ án chị N trình bày cuộc sống vợ chồng anh chị mâu thuẫn do vợ chồng bất đồng quan điểm sống, không có tiếng nói chung và đã ly thân hơn 03 năm nay. Hiện tại, chị N và anh H không còn quan tâm, chăm sóc nhau, cũng không thực hiện quyền và nghĩa vụ chung của vợ chồng.

Quá trình giải quyết vụ án tòa án tiến hành giải thích pháp luật và động viên chị Lê Thị Kim N đoàn tụ với anh H nhưng chị N vẫn kiên quyết muốn ly hôn với anh H. Đồng thời, anh H trong quá trình giải quyết vụ án cũng trình bày ý kiến được ly hôn với chị Lê Thị Kim N. Từ những chứng cứ nêu trên có căn cứ để chứng minh được mối quan hệ hôn nhân giữa chị N và anh H đã mâu thuẫn đến mức trầm trọng, tình cảm vợ chồng không còn và hôn nhân không đạt được mục đích. Nên việc chị N xin ly hôn với anh H Hội đồng xét thấy có cơ sở để chấp nhận theo quy định tại khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014.

Về con chung: Chị Lê Thị Kim N và anh Lê Thanh H có 01 người con chung tên là Lê Thị Gia H, sinh ngày 05/10/2018 hiện đang ở với chị N. Quá trình giải quyết vụ án chị N yêu cầu được nuôi dưỡng cháu Hân, anh H không có yêu cầu Toà án giải quyết việc nuôi con chung. Xét yêu cầu nuôi con chung của chị N thì Hội đồng xét xử xét thấy cháu Hân hiện đang ở với chị N và được chị N chăm sóc tốt về mọi mặt. Đồng thời, anh H cũng đồng ý giao con chung cho chị N nuôi dưỡng đến tuổi trưởng thành. Do đó, để đảm bảo ổn định cuộc sống của cháu Hân và đảm bảo cháu được phát triển tốt mọi mặt nên Hội đồng xét xử giao cháu Hân cho chị N tiếp tục nuôi dưỡng.

Về cấp dưỡng nuôi con chung: Chị Lê Thị Kim N và anh Lê Thanh H không có yêu cầu Toà án giải quyết việc cấp dưỡng nuôi con chung. Đồng thời, chị N xác nhận có đủ điều kiện nuôi con chung mà không cần anh H phải cấp dưỡng nuôi con nên Hội đồng xét xử không xét.

Về tài sản chung: Chị Lê Thị Kim N và anh Lê Thanh H trình bày không có tài sản chung, không yêu cầu Toà án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xét.

Về nợ chung: Chị Lê Thị Kim N và anh Lê Thanh H trình bày không có nợ ai và không yêu cầu Tòa án xem xét, giải quyết nên Hội đồng xét xử không xét.

Về án phí hôn nhân và gia đình: Chị Lê Thị Kim N phải chịu án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

- Áp dụng khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; Điều 147, Điều 227, Điều 228, Điều 266, Điều 271 và Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

- Áp dụng Nghị quyết 01/2025/NQ-HĐTP ngày 27/6/2025 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao.

- Áp dụng các Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 và Điều 84 Luật hôn nhân gia đình năm 2014.

- Áp dụng Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.

* Tuyên Xử:

Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của chị Lê Thị Kim N.

1/. Về hôn nhân: Chị Lê Thị Kim N được ly hôn với anh Lê Thanh H.

2/. Về con chung: Giao cho chị Lê Thị Kim N được quyền trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng con chung tên Lê Thị Gia H, sinh ngày 05/10/2018 cho đến khi con chung đủ 18 tuổi.

Đối với nghĩa vụ cấp dưỡng: Anh Lê Thanh H không phải cấp dưỡng nuôi con.

Anh Lê Thanh H có quyền được thăm nom, chăm sóc con chung không ai được quyền ngăn cản theo quy định của pháp luật.

3/. Về tài sản chung và nợ chung: Không có yêu cầu Tòa án xem xét giải quyết nên không xét.

4/. Về án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm: Chị Lê Thị Kim N phải chịu án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm là 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng), được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí chị Lê Thị Kim N đã nộp theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0011055 ngày 28/02/2025 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Hòn Đất, tỉnh Kiên Giang (nay là Phòng Thi hành án dân sự khu vực 4 – An Giang). Theo đó chị N không phải nộp thêm.

5/. Quyền kháng cáo: Báo cho các đương sự biết có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết công khai.

Cỡ chữ